Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



trường đại học, cao đẳng trong cả nước là 178 trường, và con số này đã không

ngừng được tăng lên qua từng năm, năm2002 là 191 trường, năm 2003 là 202

trường và trong năm học 2003-2004 đã thành lập thêm 16 trưòng ĐH-CĐ (khơng

kể khối An ninh-Quốc phòng) nâng tổng số trường ĐH-CĐ lên 214 trường.Nếu

tính cả các trường,khoa thành viên của Đại học quốc gia và Đại học vùngthì sẽ là

237 trường khoa.

Chỉ xét riêng về trường công lập hiện nay cả nước ta có 187 trường,

nếu phân cấp quản lý theo chiều dọc, hệ thống các trường ĐH-CĐ ở nước ta chia

thành 2 khối: khối các trường do Bộ GD&ĐT quản lý (99 trường ) khối các

trường còn lại do các Bộ chủ quản quản lý ( 88 trường ). Nếu xét phân cấp quản

lý theo chiều ngang thì gồm khối các trường do địa phương quản lý và khối các

trường do TW quản lý. Hầu hết các trường đại học, cao đẳng tập trung ở các tỉnh,

thành phố lớn. Thông thường, ở các tỉnh chỉ có trường cao đẳng sư phạm, thậm

chí ở nhiều tỉnh còn khơng có một trường đại học, cao đẳng nào.

Cùng với sự gia tăng về số lượng các trường đại học, cao đẳng trong cả

nước, các loại hình đào tạo khác cũng được đa dạng hố, hiện nay nước ta có các

loại hình đạo tào như: chính quy – khơng chính quy; dài hạn – ngắn hạn; tập

trung – tại chức…

Hiện nay, vấn đề mạng lưới các trường đại học, cao đẳng đang được nhiều

cơ quan và các giới quan tâm. Việc tiếp tục điều chỉnh, tổ chức lại mạng lưới

phải gắn liền với việc tiếp tục đổi mới quản lý GDĐH theo hướng tăng tính tự

chủ của các trường và trách nhiệm tài sản của các Bộ ngành, Chính quyền tỉnh,

thành phố.

 Về phát triển quy mô đào tạo trong thời gian qua :

Quy mô đào tạo của giáo dục đại học trong thời gian gần đây có sự tăng



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



lên cả về số tuyệt đối và số tương đối, biểu hiện qua sự tăng trưởng số lượng sinh

viên theo học tại các trường ĐH-CĐ. Nếu như trước khi đổi mới, quy mô đào tạo

từ năm 1986 đến 1990 gần như là giữ nguyên (khoảng 130.000 sinh viên) thì đến

năm 2003 con số này là 1.032.440, năm 2004 là 1.104.700 và kế hoạch năm

2005 sẽ là 1.160.000. Nếu làm một phép tính so sánh thì ta thấy được tốc độ tăng

về quy mô sinh viên sau khi đổi mới so với trước đây là như thế nào? Sự thay đổi

này sẽ thấy rõ hơn khi ta nghiên cứu bảng số liệu sau:

Bảng 2: Quy mô đào tạo đại học, cao đẳng công lập

KH

2002

Tổng số



ĐH



960.692

213.933

746.759



2003

1.032.440

231.107

801.333



2004



KH 2005



so



2005

với



2004 (%)

5,0



1.104.700 1.160.000

247.300

857.400

Nguồn: Trung tâm thông tin Bộ GD&ĐT.



Như vậy quy mô đào tạo ở các trường ĐH-CĐ không ngừng được tăng lên

trong thời gian qua,điều này còn được thể hiện qua số lượng sinh viên tuyển mới

năm sau luôn cao hơn năm trước.Sự gia tăng SV đặc biệt mạnh từ sau năm 1995

và với tốc độ cao. Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 1991-1995 là 20,6%/ năm;

16,4% (1996-2000); 10,2% (2004-2005). Do đó, tỉ lệ SV / 1 vạn dân dù còn kém

các nước trong khu vực nhưng cũng không ngừng tăng lên từ 19 (1990 ) lên 118

(2000), 128 (2002) và 138 (2004).Ta có thể thấy rõ sự tăng lên về quy mơ đào

tạo đại học thông qua bảng sau :



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Bảng 3: Chỉ tiêu tuyển mới ĐH-CĐ năm học 2005:

2003



2004



KH 2005



KH 2005 so



CĐ & ĐH



300.557



319.900



352.500



với 2004 (%)

10,2



Chính quy



187.930



200.900



220.000



9,5



Khơng chính quy



111.189



117.000



130.000



11,1



Cử tuyển



1.438



2.000



2.500



25,0



Cao Đẳng



95.420



104.200



118.500



13,7



Chính quy



64.338



72.500



81.000



11.7



Khơng chính quy



30.639



31.000



36.600



18.1



Cử tuyển



443



700



900



14.6



Đại Học



205.137



215.700



234.000



8,5



Chính quy



123.592



128.400



139.000



8,3



Khơng chính quy



80.550



86.000



93.400



8,6



Cử tuyển



995



1.300



1.600

23,1

Nguồn : Trung tâm thơng tin Bộ GD&ĐT



Như vậy qua bảng số liệu trên cho thấy rằng số lượng SV tuyển mới qua 3

năm không ngừng tăng lên: năm 2003 tuyển mới 300.557 SV tới năm 2004 tuyển

mới 319.900 tăng 6,4%,theo kế hoạch năm 2005 số SV tuyển mới là352.500 tăng

10,2% so với 2004.Nét xét theo từng loại hình đạo tạo thì số SV ở cả 3 loạI hình

( chính quy, khơng chính quy,cử tuyển ) đều tăng.

Bên cạnh đó, chất lượng Đào tạo cũng được nâng lên. Đại bộ phận sinh

viên có khả năng và tiếp thu một cách nhanh chóng kiến thức mọi mặt, tự học

thêm kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp. Hầu hết sinh viên tự học thêm

ngoại ngữ, tin học. Một bộ phận sinh viên đạt kết quả cao cả về học lực và phẩm

chất, có ý thức, ý chí vươn lên, rất năng động sáng tạo, phát huy được truyền



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



thống hiếu học của dân tộc ta.

 Về phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên :

Trong những năm vừa qua đội ngũ giảng viên ở các trường ĐH-CĐ không

ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng.Đây không chỉ là lực lượng đào tạo

ra nguồn nhân lực cho đất nứớc mà đồng thời, đây cũng là lực lượng nghiên cứu

khoa học hùng hậu. Chính từ lực lượng này đã xuất hiện nhiều nhà khoa học lớn,

các chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực. Họ đã có nhiều đóng góp tích cực,

to lớn trên cả 2 phương diện đào tạo và nghiên cứu khoa học, góp phần thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật, văn hố nghệ thuật…Cụ thể, ta

có thể thấy được tình hình phát triển đội ngũ giảng viên trong những năm qua

thông qua bảng số liệu sau:



Bảng 4: Số lượng giảng viên ở các trường ĐH-CĐ trong giai đoạn

2000-2004



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



2000-2001

Tổng số

32.205

Cao đẳng

7.843

Tiến sỹ

109

Thạc sỹ

1468

Chun khoa I & II 56

ĐH-CĐ

6083

Trình độ khác

152

Đại học

24.362

Tiến sỹ

4454

Thạc sỹ

Chuyên khoa I & II

ĐH-CĐ

Trình độ khác



6596

569

12422

321



2001-2002

35.938

10.392

158

1960

32

7987

255

35.546

4812



2002-2003

38.608

11.215

190

2272

94

8346

313

27.393

5286



2003-2004

39.985

11.551

182

2509

19

8557

284

28.434

5179



7583

8326

9210

586

540

529

12361

12893

13288

204

348

228

Nguồn : Trung tâm thơng tin Bộ GD&ĐT



Như vậy, số lượng giảng viên ở các trường ĐH-CĐ không ngừng tăng lên

trong thời gian vừa qua.Năm 2000 số lượng giảng viên là 32.205 thì đến năm

2004 con số này đã tăng lên 39.985.Tốc độ tăng qua từng năm trong thời kỳ này

là: 2002 so với 2001 là 11,6%; 2003 tăng so với 2002 là 7,43%; 2004 tăng so với

2003 là 3,56%. Do đó tốc độ tăng bình quân của cả thời kỳ này là 7,53%, đây là

một tỷ lệ tăng tương đối cao điều này cho thấy sự phát triển mạnh của đội ngũ

giáo viên trong các trường ĐH-CĐ trong những năm qua. Nhờ có sự phát triển

mạnh về đội ngũ giảng viên nên số SV bình qn trên một giảng viên ĐH-CĐ

đạt được là 25,8.

Khơng chỉ tăng về mặt số lượng mà về chất lượng của đội ngũ giảng viên

cũng không ngừng được tăng lên trong thời gian qua. Qua bảng 4 chúng ta có thể

thấy rằng số giảng viên có trình là độ thạc sỹ và tiến sỹ không ngừng tăng

lên,nếu như năm 2000 giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sỹ mới chỉ có 109

người, trình độ thạc sỹ là 1468 thì đến năm 2004 con số này là 282 người đạt đến



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



trình độ tiến sỹ và 2059 giảng viên có trình độ thạc sỹ. Ở bậc ĐH số lượng giảng

viên có trình độ cao còn lớn hơn so với bậc cao đẳng, chỉ tính riêng trong năm

học 2003-2004 số giảng viên có trình độ thạc sỹ là 2010 người và trình độ tiến sỹ

là 5179 người. Tính chung cả ĐH-CĐ thì số lượng giảng viên có trình độ thạc sỹ

trở lên chiếm 41,2% trong tổng số giảng viên. Như vậy số lượng giảng viên có

trình độ cao ngày một tăng ở cả 2 cấp đào tạo là ĐH và CĐ đây cũng là một

trong những nhân tố quan trọng góp phân nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở

nước ta hiện nay.

 Về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học :

Đã có sự thay đổi so với giai đoạn trước. Đa số các trường đã và đang tiến

hành xây dựng mới; nâng cấp hệ thống giảng đường, ký túc xá, khu vui chơi giải

trí…cả về phần về kiến trúc và trang thiết bị nội thất theo hướng hiện đại. Từ

năm 1994 đến nay, các trường đại học, cao đẳng bắt đầu được đầu tư nhằm trang

bị một số trang thiết bị theo các mục tiêu như hệ thống máy vi tính, hệ thống

phòng học ngoại ngữ, nâng cấp cải tạo ký túc xá và đặc biệt là biên soạn giáo

trình đại học, một bộ chương trình mẫu cho giai đoạn một theo nhóm ngành đã

được ban hành tạm thời. Các trường đã và đang dựa vào bộ chương trình này để

biên soạn lại chương trình giảng dạy cho phù hợp.

 Về quan hệ quốc tế :

Thực hiện chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế kết

hợp với chính sách xã hội hố giáo dục và tăng cường phân cấp quản lý cho các

trường đại học, nhờ sự cố gắng của các Bộ và sự chủ động của các trường đại

học, mà chúng ta đã mở rộng được quan hệ quốc tế, tranh thủ được sự hỗ trợ của

nhiều cơ sở GDĐH, nghiên cứu khoa học nước ngoài và các tổ chức quốc tế, các

nhà khoa học và các tổ chức, cá nhân tri thức là người Việt Nam định cư ở nước



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



ngồi. Ngành giáo dục đào tạo nước ta đã có quan hệ hợp tác chính thức với

nhiều trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Các hình thức hợp tác được mở rộng

đã góp phần tăng cường cơ sở vật chất cho các trường đại học, hiện đại hố nội

dung chương trình và phương pháp đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào

tạo, nâng cao năng lực quản lý.

1.2. Đánh giá về những mặt chưa được:

Tuy đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận như trên, nhưng sự nghiệp

đào tạo đại học ở Việt Nam vẫn còn những yếu kém, bất cập cần phải khắc

phục :

Hiện nay, sự nghiệp GDĐH đang đứng trước những mâu thuẫn lớn, đối

mặt với thách thức gay gắt nhất là giữa yêu cầu vừa phải phát triển về quy mô,

vừa phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả. Nguy cơ tiếp tục bị tụt hậu về kinh tế

và thiếu điều kiện để phát triển các lĩnh vực xã hội còn cao, GDP trên đầu người

còn quá thấp, nên đầu tư cho giáo dục đào tạo cũng như GDĐH tính theo đầu

người học rất thấp, không đủ để trang trải những yêu cầu tối thiểu cần thiết về

các điều kiện đảm bảo chất lượng (như trường sở, thư viện, phòng thí nghiệm,

trang thiết bị, giáo trình, điều kiện thực hành, thực tập, ký túc xá, đào tạo bồi

dưỡng đội ngũ giáo viên…) trong khi xã hội yêu cầu vừa phải phát triển quy mô

vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng kịp thời những đòi hỏi lớn

và ngày càng cao về nhân lực trình độ cao của cơng cuộc đổi mới kinh tế xã hội,

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công cuộc CNH – HĐH.

Sự mất cân đối giữa phát triển quy mô và các điều kiện bảo đảm sự phát

triển qua nhanh về số lượng sinh viên đại học nhất là ở hai khu vực lớn là Hà nội

và TP.Hồ Chí Minh, dẫn đến sự quá tải về trường lớp ký túc xá, đội ngũ giáo



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



viên, tăng thêm tình trạng dạy chay, khơng gắn với đào tạo và sử dụng, sau khi

tốt nghiệp phần lớn sinh viên không muốn đi công tác ở các vùng khác mà cố

gắng bám trụ ở thành phố. Hơn thế nữa, là sự mất cân đối về ngành nghề, cơ cấu

xã hội, cơ cấu vùng, miền, tình trạng kém lạc hậu về trang thiết bị, thư viện, điều

kiện tiếp nhận trực tiếp thông tin qua mạng bị hạn chế, điều kiện thực hành, thực

tập khó khăn do kinh phí đào tạo quá hạn hẹp.

Nội dung chương trình đã đổi mới nhưng ở nhiều lĩnh vực sách giáo khoa,

giáo trình còn lạc hậu. Nhiều thông tin mới chưa được cập nhật trong điều kiện

phát triển nhanh chóng của khoa học cơng nghệ và kinh tế xã hội. Phương pháp

dạy và học ở đại học quá lạc hậu, yếu kém, chủ yếu vẫn là tiếp thu một chiều,

độc thoại, thầy giảng trò ghi. Một số trường đại học đã chú trọng thúc đẩy việc

cải tiến phương pháp đào tạo nhưng mới chỉ đưa ra những biện pháp chung, chưa

có quy định và cơ chế rõ ràng và chưa áp dụng một cách linh hoạt.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy hiện nay thiếu, tuổi bình qn cao và nói chung

còn hạn chế về trình độ, trong khi số lượng sinh viên tăng lên nhanh chóng. Tốc

độ tăng giữa giáo viên và quy mơ sinh viên không tương xứng đã ảnh hưởng

không nhỏ đến chất lượng giảng dạy và học tập của sinh viên. Cường độ lao

động của giảng viên vì thế cũng tăng lên do đó đã làm ảnh hưởng đến chất lượng

và hiệu quả công tác giảng dạy. Hiện nay, tỷ lệ cán bộ giảng dạy/sinh viên xấp xỉ

1/30, nhiều trường còn cao hơn lên đến 1/60 trong khi tỷ lệ hợp lý chỉ là 1/15.

Bên cạnh đó, số lượng cán bộ đầu ngành tăng chậm, thậm chí còn có xu hướng

giảm ở một số trường. Những yếu kém đã làm không chỉ những cơ quan chức

năng, tổ chức và bất kỳ ai quan tâm đến sự nghiệp GDĐH cũng đều phải day dứt

trong lòng và trăn trở trong trí óc bởi đó chính là ngun nhân trực tiếp nhất dẫn

đến tình trạng chất lượng đào tạo vẫn chưa cao ở bậc đại học nước ta hiện nay.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Chúng ta cần phải nói thêm về chất lượng giảng viên vì đó là một vấn đề

cần được quan tâm. Mặc dù chất lượng đội ngũ giảng viên ngày càng được nâng

cao thông qua việc đào tạo và bồi dưỡng thường xun, nhưng thực tế có sự

khơng đồng đều về trình độ. Cho tới thời điểm hiện nay mới chỉ có 4,28% giảng

viên đại học, cao đẳng có học hàm Giáo sư, phó giáo sư, 14,18% có trình độ

Tiến sỹ. Tuy nhiên, số lượng giảng viên này chủ yếu tập trung ở các thành phố

lớn, các trường đại học lớn và các trường chuyên ngành, các viện nghiên cứu. Số

lượng giảng viên trẻ có học hàm học vị còn q ít. Chính vì vậy, đây là một vấn

đề cần quan tâm là số lượng giảng viên không thiếu nhưng có nguy cơ thiếu hụt

các chuyên gia đầu ngành.

Sức ép của việc thi vào đại học quá lớn, số lượng thí sinh dự thi cứ năm

sau lại cao hơn năm trước khoảng 20%. Hơn nữa, tiêu chuẩn về trường học,

phòng học và phòng thí nghiệm, thực hành của sinh viên chưa được sửa đổi cho

phù hợp với tiêu chuẩn khu vực nên đã ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém đó, một mặt là do nội dung

chương trình, phương pháp đào tạo của chúng ta quá lạc hậu. Mặt khác, là do các

điều kiện cơ bản để đảm bảo chất lượng thì còn q nhiều thiếu thốn. Cơng tác

quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, chậm ban hành các chủ trương chính sách vĩ

mơ đủ sức định hướng và xử lý kịp thời các mối tương quan lớn trong GDĐH

trong cơ chế kiểu mới như: số lượng – chất lượng, cung – cầu, chi phí – lợi ích,

tập trung – phân quyền. Nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Luật Giáo dục còn chậm được ban hành. Năng lực cán bộ quản lý GDĐH các

cấp chưa theo kịp thực tế phát triển của ngành. Công tác thanh tra, kiểm tra trong

GDĐH tuy có được tăng cường nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Hơn nữa, về

mặt khách quan, do nước ta còn nghèo, thu nhập quốc dân trên đầu người còn



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



quá thấp cho nên nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các

trường còn quá thiếu thốn, eo hẹp. Trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế

thị trường và thực hiện chính sách mở cửa. Các thang giá trị đích thực của nó

đang bị đảo lộn. Những giá trị mới chưa được hình thành vững chắc và ổn định,

đủ sức định hướng cho sự phát triển nhân cách người học. Những khó khăn trong

việc cải cách hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế, tài chính, sử dụng lao động,

chính sách tiền lương… đang cản trở việc giải quyết triệt để những vấn đề cụ thể

của GDĐH.

2.2. Thực trạng về khai thác và sử dụng nguồn vốn đầu tư cho GD ĐH

công lập ở nước ta.

Để thực hiện các mục tiêu chiến lược về đào tạo nguồn nhân lực có trình

độ trí tuệ cao, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một

nền giáo dục tiên tiến gắn liền với nền khoa học, cơng nghệ hiện đại. Đó là nền

giáo dục thấm nhuần sâu sắc tính nhân dân, tính dân tộc và tính hiện đại. Phát

triển GDĐH đang là một nhiệm vụ quan trọng để đạt được mục tiêu về đào tạo

nguồn nhân lực có trình độ trí tuệ cao. Định hướng của Đảng về phát triển

GDĐH nước ta là quan điểm đúng đắn mà nhiều nước trong khu vực đã thành

công trong việc khôi phục và phát triển kinh tế như Hàn quốc, Indonesia… Phát

triển nguồn nhân lực của GDĐH thắng lợi là cơ sở và yếu tố cơ bản để thực hiện

thành công chiến lược đi tắt đón đầu trong cơng cuộc CNH – HĐH nước ta từ

nay năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp phát triển.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



2. Thực trạng cơng tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp ĐTĐH

2.1. Đánh giá tổng quát tình hình đầu tư của NSNN cho sự nghiệp

đào tạo đại học.

Chi NSNN cho đào tạo đại học bao gồm những khoản chi cho chương

trình mục tiêu,chi thường xuyên và khoản chi cho đầu tư XDCB. Trong phạm vi

nghiên cứu của luận văn, em chi xin nghiên cứu những khoản chi thường xuyên.

2.2.1.1.Tổng chi NSNN cho sự nghiệp đào tạo :

Bảng 5 : Chi NSNN cho sự nghiệp đào tạo

Đơn vị : tỷ đồng

Năm

Chỉ tiêu

A.Chi NSNN



2002



2003



2004



KH 2005



132.200



158.920



187.670



223.000



25.765



32.130



40.140



B.Chi NSNN cho GD- 20.623

ĐTChi thường xuyên

Chi đầu tư



17.615



22.519



26.498



33.940



3.008



3.246



4.900



6.200



C.Chi NSNN cho đào tạo 4.605



5.898



7.432



9.068



Tỷ lệ B / A



15,6%



16,2%



17,1%



18,00%



Tỷ lệ C / B



22,32%



22,89%



23,13%



22,59%



Tỷ lệ C / A



3,49%



3,7%



3,9%



4,06%



Nguồn: Vụ tài chính hành chính sự nghiệp_ Bộ tài chính

Qua bảng số liệu chi NSNN cho giáo dục đào tạo nói chung và sự nghiệp

đào tạo nói riêng chúng ta có thể thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước

đối với sự nghiệp đào tào, chính vì thế số chi ngân sách cho đào tạo liên tục tăng

cả về số tuyệt đối và tương đối. Năm 2002 chi ngân sách cho đào tạo là



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×