Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHƯNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

NHƯNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



- Trong khi đó Gilis – một nhà giáo dục khác lại đưa ra một khái niệm

theo nghĩa rộng, giáo dục là tất cả các hoạt động học tập của con người, hay nói

một cách hẹp hơn đó là q trình có ở trong những nơi được chun mơn hố gọi

là trường học”. GD là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng con

người theo những khía cạnh khác nhau. Giáo dục với khái niệm rộng gần giống

với nghĩa nghiên cứu. Theo Gillis cho rằng có 3 loại nghiên cứu chính – tức là có

3 loại giáo dục:

“Giáo dục chính quy” là tất cả các quá trình giáo dục được thực hiện tại

nhà trường và thường gồm những người học còn trẻ chưa phải lao động để kiếm

sống.

“ Giáo dục khơng chính quy” có thể được coi là những q trình có tổ

chức được tiến hành bên ngoài các trường học. Những người tham gia là những

người lớn, các chương trình thường ngắn gọn và tập trung trong diện hẹp hơn so

với giáo dục chính quy.

“Giáo dục khơng chính thức” là q trình học tập, nghiên cứu được tiến

hành bên ngồi của bất kỳ một cơ cấu tổ chức nào hay một chương trình có tổ

chức nào. Người học tự nghiên cứu ở nhà, trong khi làm việc và trong quá trình

giáo tiếp với xã hội.

Luật giáo dục Việt Nam quy định:

Phương thức giáo dục bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục khơng

chính quy. Giáo dục khơng chính quy là giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa

học, học liên tục, suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng

cao trình độ học vấn, chun mơn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống,

tìm việc làm và thích nghi đời sống xã hội.

Tuy nhiên, trong thực tế sự phân biệt này chỉ là tương đối, thuận tiện cho



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



việc tổ chức và quản lý trên cơ sở đa dạng hóa, xã hội hố giáo dục. Sự phân biệt

này khơng có nghĩa là coi trọng hình thức giáo dục chính quy hơn giáo dục

khơng chính quy, mà cần có sự bình đẳng trong mục tiêu chung của giáo dục.

Hệ thống giáo dục quốc dân nước ta bao gồm:

- Giáo dục mầm non.

- Giáo dục phổ thông.

- Giáo dục nghề nghiệp.

- GDĐH và sau đại học.

Như vậy GD ĐH là một bộ phận sau cùng trong hệ thống giáo dục quốc

dân.

Quan niệm về GDĐH được tổ chức văn hoá, giáo dục, xã hội Liên hợp

quốc (UNESCO) đề xuất từ năm 1986 và được nhiều nước thừa nhận với tên gọi

là “GD bậc 3”. Nhưng từ sau hội nghị quốc tế về GD ĐH ở Pari (pháp) năm

1998 có quan niệm mới: GD ĐH ở thế kỷ 21 là học tập suốt đời và bao gồm tất

cả các loại hình học tập, đào tạo hay đào tạo cho người có trình độ bậc trung học

được cung cấp bởi các viện đại học hay tổ chức giáo dục đã được cấp có thẩm

quyền công nhận là cơ sở GD ĐH.

Quan niệm mới về GD ĐH có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho sự phát

triển mạnh các phương thức đào tạo phi truyền thống (đào tạo từ xa, đào tạo đại

học mở) đồng thời đa dạng hoá và linh hoạt trong hoạt động GD ĐH.

Ở nước ta, Luật giáo dục đã quy định: GD ĐH đào tạo trình độ cao đẳng

và trình độ đại học.

Thứ nhất, Đào tạo trình độ Cao đẳng được thực hiện trong ba năm đối với

người có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc tốt nghiệp trung học chun

nghiệp.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Thứ hai, Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ 4 – 6 năm học tuỳ

theo từng ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ

thông hoặc bằng tốt nghiệp THCN, từ 1 – 2 năm đối với người có bằng tốt

nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành.

Theo đó, cơ sở GD ĐH bao gồm:

- Trường CĐ đào tạo trình độ cao đẳng.

- Trường ĐH đào tạo trình độ CĐ, ĐH và đào tạo trình độ Thạc sỹ, Tiến

sỹ khi được Thủ Tướng Chính Phủ giao.

1.2. Vai trò của giáo dục Đại học đối với sự phát triển kinh tế xã hội

của đất nước

Từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta đặc biệ quan tâm đến cơng tác giáo

dục-đào tạo và coi đó là một trong những quyết sách hàng đầu để xây dựng và

phát triển đất nước. Điều đó xuất phát từ vai trò to lớn và tầm quan trọng của

giáo dục đào tạo nói chung cũng như giáo dục đại học nói riêng.

Bốn yếu tố cơ bản để tạo nên sự phát triển của một quốc gia là: tài nguyên

thiên nhiên,khoa học cộng nghệ,vốn và lao động. Việt Nam là một nước có tài

nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào, tuy nhiên yếu tố khoa

học công nghệ chưa phát triển, nguồn vốn đầu tư lại hạn chế. Mặt khác tuy

nguồn lao động của chúng ta dồi dào nhưng lại chủ yếu là lao động thủ cơng

trong khi đó vẫn thiếu lao động có trình độ cao. Đứng trước thực trạng như vậy,

muốn phát triển đất nước thì việc phát huy nhân tố con người là rất qua trọng, có

thể coi là chiến lược hàng đầu. Để thúc đẩy sự phát triển nhân tố con người thì

lĩnh vực giáo dục-đào tạo đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Tác động của hệ

thống giáo dục đào tạo bao trùm lên tất cả các mặt của đời sỗng xã hội: chính trị,



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



kinh tế, văn hoá, xã hội…Là một bộ phận của hệ thống giáo dục-đào tạo, đào tạo

đại học cũng mang đầy đủ vai trò của GD-ĐT nói chung. Vai trò đó được nhìn

nhận trên các khía cạnh sau:

 Vai trò của ĐTĐH đối với phát triển kinh tế:

GDĐH được coi như là động lực hàng đầu của sự phát triển kinh tế bởi

sản phẩm của GDĐH là những con người có năng lực tư duy hoạt động ở trình

độ cao, năng động và sáng tạo. Vì thế sản phẩm của GDĐH chính là nguồn lao

động có trình độ cao_là 1 trong 4 nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự phát

triển kinh tế của một quốc gia. Hơn nưa trong thời đại kinh tế tri thức với hàm

lượng chất xám đòi hỏi ngày càng cao thì vai trò này của GDĐH càng được

khẳng định và nâng cao hơn nữa.

Ngược lại, sự phát triển của kinh tế sẽ tạo ra cơ sở vật chất ngày càng dồi

dào cho xã hội, từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển của các lĩnh vực khác. Giáo

dục cũng khơng thể phát triển nếu khơng có sự đầu tư tài lực, vật lực của nền

kinh tế. Vì vậy giữa giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng với sự phát triển

kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

 Vai trò của đào tạo đại học đối với chính trị:

Nhìn lại tiến trình phát triển của xã hội lồi người, chúng ta có thể thấy

rằng: từ khi xã hội có giai cấp, có nhà nước thì giáo dục đào tạo ln là cơng cụ

quan trọng của Nhà Nước. Giai cấp cầm quyền luôn nắm lấy giáo dục, chi phối

giáo dục theo hướng củng cố quyền lực và bảo vệ lợi ích của mình.

Đào tạo đại học phục vụ chính trị, nhưng đào tạo đại học tồn tại tương đối

độc lập với chính trị. Giáo dục đào tạo là hiện tượng phổ biến và tương đối vĩnh

hằng. Giai cấp thống trị muốn biến giáo dục thành cơng cụ để củng cố địa vị của

mình nhưng xét về bản chất, giáo dục thực sự gắn với những xu hướng chính trị



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



tiến bộ, có xu hướng chống lại những xu hướng phản tiến bộ. Nền giáo dục của

chúng ta hiện nay là nền giáo dục được ra đời và phát triển nhờ một thể chế

chính trị cách mạng tiến bộ. Mục tiêu CNXH và độc lập dân tộc được quán triệt

một cách sâu sẳc trong toàn bộ hệ thống giáo dục Việt Nam.

 Vai trò của GDĐH đối với văn hố :

Xét về góc độ lịch sử, văn hố chỉ được hình thành thơng qua một q

trình sáng tạo lâu dài, xây dựng và truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này

sang thế hệ khác. Trong quá trình này khơng thể thiếu vai trò của giáo dục đào

tạo nói chung và GDĐH nói riêng. Có thể nói rằng trong văn hố có giáo dục,

trong giáo dục có văn hoá. Văn hoá theo nghĩa rộng của khái niệm bao hàm toàn

bộ các giá trị vật chất tinh thần mà lồi người sáng tạo ra được giữ gìn, bảo vệ và

lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy văn hố trong q trình vận

động, phát triển của mình bao giờ cũng được xem xét ở cả khía cạnh sáng tạo và

truyền lại. Chức năng của GDĐH chính là việc truyền lại những giá trị văn hoá.

Giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra được tập hợp lại hệ thống hoá, khái

quát trở thành những tri thức trong giáo trình bài giảng của nhà trường. Như vậy

chính văn hố đã mang đến cho GDĐH những nội dung thiết yếu, cần thiết. Còn

đào tạo đại học cũng khơng phải là một q trình thụ động mà là một quá trình

sáng tạo. Sự sáng tạo trong quá trình giáo dục làm phong phú thêm những giá trị

văn hố vốn có, làm náy sinh những giá trị văn hoá mới. Điều quan trọng hơn

nữa là GDĐH tạo ra những con người có khả năng sáng tạo ra giá trị vật chất và

tinh thần trong tương lai. Như vậy nhờ có GDĐH mà giá trị tinh thần, giá trị vật

chất được chuyển giao và phát triển giữa các thế hệ.

 Vai trò của GDĐH đối với cơng nghệ :



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Chức năng đặc thù của khoa học là sản sinh ra kiến thức mới còn chức

năng của giáo dục đào tạo là truyền bá kiến thức khoa học, giảng dạy và giáo dục

một cách có hệ thống cho nhứng người có năng lực học tập và vận dụng những

kiến thức khoa học vào thực tế. Trong điều kiện thực tế hiện nay của cuộc cách

mạng khoa học kỹ thuật, GDĐH chẳng những đào tạo cán bộ cho khoa học mà

còn sản sinh ra kiến thức khoa học thông qua hệ thống nghiên cứu ở các trường

đại học. Ngựơc lại, các cơ quan khoa học cũng tham gia ngày càng nhiều hơn

vào việc đào tạo cán bộ có trình độ cao, tham gia giảng dạy, xây dựng chương

trình giáo khoa, có ảnh hưởng trực tiếp đến việc cải thiện, phát triển giáo dục nói

chung và GDĐH nói riêng. Trong điều kiện hiện nay xu thế của khoa học và giáo

dục kết hợp với nhau tạo thành cái gọi là “Công nghệ kiến thức ”. Thông qua

giáo dục đào tạo để vũ trang kiến thức khoa học cho người lao động, hệ thống

giáo dục quốc dân đã làm cho khoa hoc trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

Ở nước ta hiện nay, công cuộc CNH-HĐH đang được đẩy mạng, chúng ta

đang chú trọng đến việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực và nhất là nhân lực có

kỹ thuật cao. Vì vậy trong chiến lược phát triển giáo dục đào tạo, không thể

không chú trọng đến việc thiết kế hệ thống đào tạo đại học chất lượng cao đáp

ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực của mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc

dân.

Nhìn một cách tổng quát giáo dục đào tạo là chìa khóa mở đường cho sự

nghiệp CNH-HĐH. Nhận thức đựoc tầm quan trọng này của giáo dục đào tạo,

Nghị quyết TW IV khoá 7 đã đề ra “Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục đào

tạo là quốc sách hàng đầu”; Nghị quyết TW II-Hội nghị TW khoá 8 của Đảng

Cộng Sản Việt Nam: “Mục tiêu cao nhât của giáo dục là hình thành được những

nhân cách xã hội công nghiệp,thể hiện như một nội sinh cần thiết để phục vụ



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



CNH-HĐH”. Hay trong Nghị quyết Đại hội VIII khẳng định : “Giáo dục đào tạo

cùng với khoa học cộng nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu,phải coi

đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển,tạo

điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã

hội ”.

2. Sự cần thiết của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào

tạo Đại học

2.1. Khái niệm, nội dung chi NSNN cho giáo dục Đại học

NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự tốn đã được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm

để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà Nước ( Điều 1 luật

NSNN )

Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một

phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu

của Nhà nuớc.

Thu NSNN gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; từ các hoạt động kinh

tế của Nhà nước; thu từ bán, khoán cho thuê tài nguyên; thu từ viện trợ của các

tổ chức và cá nhân và các khoản thu khác theo luật định…

Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quĩ NSNN nhằm đảm bảo thực

hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN

ta bao gồm :

- Chi thường xuyên

- Chi đầu tư phát triển

- Chi trả nợ gốc tiền vay



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



- Chi bổ sung quĩ dự trữ tài chính

Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng, vốn từ quĩ

NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hện các nhiệm vụ thường

xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội.

Chi NSNN cho sự nghiệp đào tạo là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu

chi thường xun của NSNN, đó là q trình phân phối lại nguồn vốn từ quĩ tiền

tệ tập trung của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi để duy trì và phát triển sự

nghiệp đào tạo theo ngun tắc khơng hồn trả trực tiếp.

Chi NSNN cho đào tạo Đại học là quá trình phân phối lại quỹ NSNN

nhằm đáp ứng nhu cầu chi và phát triển sự nghiệp đào tạo đại học theo ngun

tắc khơng hồn trả trực tiếp.

Chi NSNN cho đào tạo đại học bao gồm: Chi thường xuyên; chi chương

trình mục tiêu; chi đầu tư XDCB

Chi chương trình mục tiêu cho sự nghiệp đào tạo là khoản chi để giải

quyết những những vấn đề cấp bách mang tính chiến lược trong sự nghiệp đào

tạo ( Các khoản chi cho chương trình mục tiêu cho sự nghiệp đào tạo mới chỉ

xuất hiện từ năm 1990 ). Như vậy nội dung chi chương trình mục tiêu phát sinh

khơng thường xun mà chỉ phát sinh trong một thời gian nhất định, khi các

chương trình mục tiêu đó đạt được thì các nội dung chi đó cũng kết thúc.

Chi đầu tư XDCB nhằm từng bước mở rộng và tăng cường cơ sở vật chất

kỹ thuật cho sự nghiệp đào tạo đại học. Do đặc điểm riêng của hoạt động XDCB

và sản phẩm của XDCB cho nên công tác quản lý chi đầu tư XDCB thường được

tách riêng với chi thường xuyên và chi chương trình mục tiêu cho sự nghiệp đào

tai đại học.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Với đặc thù như vậy, trong phạm vi đề tài này không đi sâu nghiên cứu 2

khoản chi trên, chỉ xin đi sâu phân tích về mức độ và cơng tác quản lý chi thường

xuyên cho sự nghiệp đào tạo đại học.

Chi thường xuyên cho sự nghiệp đào tạo đại học nhằm đáp ứng những nhu

cầu chi gắn chặt với hoạt động thường xuyên của sự nghiệp đào tạo đại học.

Trong công tác quản lý chi thường xuyên của NSNN nói chung và chi thường

xuyên cho sự nghiệp đào tạo đại học nói riêng, người ta phân loại nội dung chi

này thành 4 nhóm theo đối tượng sử dung kinh phí :

 Nhóm 1 : Chi cho con người :

Bao gồm các khoản: chi lương, phụ cấp,các khoản phúc lợi, BHXH,

BHYT cho giáo viên, cán bộ quản lý và phục vụ, học bổng cho học sinh, sinh

viên .

 Nhóm 2: Chi cho quản lý hành chính :

Thuộc nhóm chi này bào gồm các khoản chi về cơng tác phí,nghiệp vụ

phí,hội nghị phí,cơng vụ phí đảm bảo phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính

của nhà trường và các cơ sở đào tạo.

 Nhóm 3: Chi cho giảng dạy,học tập và nghiên cứu khoa học:

Nhóm chi này đáp ứng nhu cầu kinh phí cho việc mua sắm tài liệu, sách

giáo khoa,giáo trình,đồ dùng học tập, hố chất thí nghiệm,phấn viết bảng… chi

nghiên cứu khoa học,chi kiến tập, chi thực tập ngồi trường

 Nhóm 4; Chi cho mua sắm,sửa chữa trang thiết bị học tập:

Nhóm chi này đáp ứng nhu cầu kinh phí cho việc mua sắm, sủa chữa máy

móc, thiết bị học tập, thực hành cho sinh viên. Các khoản chi này phát sinh

không thường xuyên,mức độ chi phụ thuộc vào nhu cầu, thực trạng nhà cửa,

trang thiết bị.



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

cơng



Khoa tài chính



Chi NSNN cho đào tạo ĐH được phân bổ tính theo đầu sinh viên tuyển

theo chi tiêu kế hoạch Nhà nước có ngân sách.

Tổng số chi NSNN cho đào tạo ĐH thay đổi qua các năm. Điều này phụ

thuộc vào các nhân tố sau :

Một là : Định hướng và chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nói chung

và đào tạo đại học nói riêng của Đảng và nhà nước ta trong từng thời kỳ.

Với ý nghĩa là bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế hiện đại và ngày

càng được coi là yếu tố đứng hàng đầu tạo ra động lực bên trong cho phát triển

kinh tế, giáo dục đào tạo nói chung và sự nghiệp đào tạo đại học nói riêng ln

được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cả về định hướng phát triển cũng như

nguồn kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ khác nhau do thực

trạng nền kinh tế xã hội và nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn lao

động thì chiến lược giáo dục đào tạo của Nhà Nước thay đổi cho phù hợp. Điều

đó kéo theo sự thay đổi của nguồn kinh phí cho giáo dục đào tạo nói chung và

đào tạo đại học nói riêng.

Hai là : Khả năng của NSNN trong từng thời kỳ.

Đây là nhân tố quyết định đến cơ cấu và mức độ chi NSNN cho đào tạo

đại học. Với quan điểm “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu ” Đảng và nhà nước

ta luôn tạo mọi đIều kiện thuận lợi về chính sách, chế độ, tài chính… cho sự

phát triển của giáo dục đào tạo. Tuy nhiên với một NS hạn hẹp, thu NSNN tăng

chậm, trong khi nhu cầu chi luôn tăng nhanh cả về phạm vi và mức độ chi, do

đó dù cố gắng đến mấy thì NSNN cũng chi giành một phần nhất định trong

tổng chi NSNN cho giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng.Do

đó tuỳ thuộc vào khả năng của NSNN mà tổng chi NSNN cho đào tạo đại học



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Luận văn tốt nghiệp

công



Khoa tài chính



trong từng thời kỳ là khác nhau,theo nguyên tắc chú trọng tới các khoản mục

chi nhằm nâng cao hiệu quả của đồng vốn Ngân Sách.

2.2. Vai trò của chi NSNN đối với sự phát triển của sự nghiệp đào tạo

Đại học.

Giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng hiện đang là mối

quan tâm lớn của toàn xã hội,bất cứ một quốc gia nào trên thế giơí muốn trở nên

giàu mạnh và phát triển một cách bền vững thì việc đầu tiên phải chú trọng là

nhân tố con người.Đào tạo đại học vừa là nơi hoàn thiện nhân cách con người,

vừa là nơi cung cấp đội ngũ cán bộ có trình độ năng lực,bồi dưỡng nhân tài cho

sự phát triển đất nước.Ngày nay, tiến bộ của loài người đã chuyển sang thời đại

văn minh hậu công nghiệp với đặc trưng là khoa học công nghệ và trí tuệ đã trở

thành động lực trực tiếp của sự phát triển.Do đó phát triển giáo dục đào tạo nói

chung và đào tạo đại học nói riêng là một điều hết sưc cần thiết hiện nay.Tuy

nhiên đào tạo đại học là một hoạt động không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nên

nó khơng thể tự đảm bảo cho mình một nguồn tài chính để hoạt động.

Hiện nay, các nguồn tài chính đầu tư cho đào tạo đại học bao gồm: nguồn

NSNN, nguồn đóng góp của nhân dân, các tổ chức xã hội, nguồn vốn tài trợ …

nhưng trong đó nguồn vốn NSNN là nguồn vốn ổn định và giữ vai trò chủ đạo

chiếm khoảng 85%-90% trong các nguồn vốn đầu tư cho đào tạo đại học. Vì vậy

muốn duy trì và phát triển hệ thống đào tạo đại học cơng lập thì vai trò của chi

NSNN là vơ cùng quan trọng và đóng vai trò quyết định.Sở dĩ NSNN cần đầu tư

cho đào tạo đại học là do những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất: Giáo dục không phải là hàng hố cơng cộng thuần t. Nó

mang đặc trưng của hàng hố cơng cộng khơng thuần t và tạo ra những ảnh



SV Phan Thế Thành-K39/01.04



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHƯNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×