Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG:

CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG:

Tải bản đầy đủ - 0trang





Ưu điểm của hình thức tiền lương ngày là đơn giản, dễ tính tốn, phản ánh



đúng trình độ kỹ thuật, điều kiện làm việc của người cơng nhân. Còn nhược điểm cơ

bản là chưa gắn tiền lương người lao động của từng người. Vì thế khơng kích thích

người cơng nhân tạn dụng thời gian lao động nâng cao năng suất lao động và chất

lượng sản phẩm.

• Hình thức tiền lương này áp dụng cho mọi công việc ở các bộ phận mà q

trình sản xuất chủ yếu do máy móc thực hiện, những công việc chưa xây dựng định

mức lao động hoặc không thể định mức được những công việc đòi hỏi độ chính xác

cao. Khi lao động thủ cơng còn phổ biến, trình độ chun mơn sản xuất chưa cao thì

cần mở rộng hình thức trả lương theo sản phẩm nhưng khi sản xuất phát triển ở trình

độ cao, q trình sản xuất được cơ giới hố và tự động hố thì hình thức trả lương

theo thời gian sẽ phổ biến.

Hình thức theo thời gian có 2 loại:

- Tiền lương thời gian giản đơn:

Cơng thức tính lương thời gian giản đơn:

Tiền lương thời gian

phải trả



Đơn giá tiền lương

thời gian



=



x



Thời gian làm việc

thực tế



Trong đó đơn giá tiền lương thời gian tính riêng cho từng bậc lương khác nhau.

Loại tiền lương này có hạn chế là khơng xét đến thái độ lao động, hình thức sử

dụng thời gian lao động, sử dụng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị nên khơng tránh

khỏi hiện tượng bình qn chủ nghĩa tiền lương. Do vậy trong thực tế nó ít được áp

dụng.

- Tiền lương thời gian có thưởng:

Cơng thức xác định:

Tiền lương thời

gian có thưởng



=



Tiền lương thời

gian giản đơn



+



Tiền thưởng



Loại tiền lương này đã khắc phục hạn chế của tiền lương thời gian giản đơn, nó

khơng chỉ xét tới thời gian lao động, trình độ tay nghề mà còn xét tới chất lượng hiệu

quả công việc, thái độ, tinh thần trách nhiệm đối với cơng việc được giao và khuyến

khích những sáng kiến làm lợi cho doanh nghiệp của người lao động.



Lê Quốc Huy - K 39.21.07



- 12 -



1.2.Tiền lương tính theo sản phẩm:

Tiền lương tính theo sản phẩm là hình thức tiền lương mà số lượng của nó phụ

thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận sản phẩm mà công nhân

đã sản xuất ra hoặc theo số lượng cơng việc đã hồn thành.

• Ưu điểm của hình thức tiền lương này:

- Gắn chặt thù lao lao động với kết quả sản xuất, kích thích cơng nhân nâng cao

trình độ kỹ thuật, phát triển tài năng, cải tiến phương pháp làm việc, sử dụng triệt để

thời gian lao động và cơng suất máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động.

- Thúc đẩy phong trào thi đua, bồi dưỡng tác phong cơng nghiệp trong lao động

cơng nhân.

• Hạn chế: Do tính lương theo khối lượng cơng việc hồn thành nên cũng dễ gây

tình trạng làm ẩu, chạy theo số lượng mà vi phạm quy trình kỹ thuật, sử dụng thiết bị

vượt quá công suất cho phép và một số hiện tượng tiêu cực khác.

Hình thức tiền lương tính theo sản phẩm có nhiều loại:

- Tiền lương theo sản phẩm cá nhân trực tiếp: Theo hình thức này, tiền lương của

công nhân được xác định theo số lượng sản phẩm sản xuất ra và đơn giá lương sản

phẩm.

Tiền lương theo sản

phẩm cá nhân trực tiếp



=



Số lượng sản phẩm

hợp quy cách



x



Đơn giá lương

sản phẩm



Hình thức này đơn giản, dễ hiểu đối với cơng nhân,được áp dụng rộng rãi trong

các xí nghiệp công nghiệp, đối với công nhân trực tiếp sản xuất mà cơng việc có thể

định mức và hạch tốn kết quả riêng. Tuy nhiên hình thức tiền lương này cũng khơng

khuyến khích cơng nhân quan tâm đến lợi ích chung của tập thể.

- Tiền lương theo sản phẩm tập thể: Theo hình thức này căn cứ vào số lượng sản

phẩm của cả tổ và đơn giá chung để tính lương cho cả tổ, sau đó phân phối lại cho

từng người trong tổ. Trong thực tế thường áp dụng theo 2 phương pháp sau:

Phương pháp phân chia theo giờ hệ số:

Cơng thức xác định:

LT

Li =

. ti .

ki



Trong đó:



Lê Quốc Huy - K 39.21.07



- 13 -



Li : Tiền lương của công nhân i

LT : Tiền lương sản phẩm của cả tổ

ti : Thời gian làm việc thực tế của công nhân i

ki : Hệ số cấp bậc của công nhân i

n : Số công nhân của tổ

Phương pháp điều chỉnh:

Công thức xác định:

LTLT

Li =

=

. ti . .Mi

Li

ti .

n

Mi

∑ti.Mi

i =1



Trong đó Mi : Mức lương giờ theo cấp bậc của công nhân i

Hình thức tiền lương này có tác dụng làm cho người công nhân quan tâm đến

kết quả sản xuất chung của cả tổ, phát triển việc kiểm nghiệm nghề nghiệp và nâng

cao trình độ cho các cơng nhân. Tuy nhiên, hình thức tiền lương này cũng chưa xét

đến tinh thần lao động, sức khoẻ, sự nhanh nhẹn, tháo vát hoặc kết quả sản xuất của

từng công nhân nên trong chừng mực nhất định tiền lương mỗi người chưa thật gắn

với đóng góp vào thành tích chung của tổ. Nó được áp dụng đối với công việc do 1 tổ

sản xuất hay 1 nhóm cơng nhân tiến hành khó thống kê kết quả sản xuất của từng

ngưòi.

- Tiền lương sản phẩm cá nhân gián tiếp:

Công thức xác định:

Lp = Sc x Đsg hoặc Lp = Mp x Tc

Trong đó:

Lp : Tiền lương của công nhân phụ

Sc : Số lượng sản phẩm thực tế của cơng nhân chính

Đsg : Đơn giá lương sản phẩm gián tiếp

Mp : Mức lương cấp bậc của cơng nhân phụ

Tc : Tỷ lệ hồn thành định mức sản lượng bình qn của cơng nhân chính ( %)

Hình thức tiền lương này khơng phản ánh chính xác kết quả lao động của cơng

nhân phụ nhưng nó lại làm cho mọi người trong cùng 1 bộ phận quan tâm đến kết quả

chung. Việc khuyến khích vật chất đối với cơng nhân phụ sẽ có tác dụng nâng cao

năng suất lao động của cơng nhân chính. Vì vậy hình thức tiền lương này được áp

dụng đối với công nhân phụ, phục vụ sản xuất như: Công nhân điều chỉnh máy, sữa



Lê Quốc Huy - K 39.21.07



- 14 -



chữa máy móc thiết bị...mà kết quả công tác của họ ảnh hưởng đến kết quả công tác

của những công nhân đứng máy.

- Tiền lương theo sản phẩm luỹ tiến: Thực chất của hình thức tiền lương này là

dùng nhiều đơn giá khác nhau, tuỳ theo mức độ hoàn thành vượt mức khởi điểm luỹ

tiến, là mức sản lượng quy định mà nếu sản phẩm sản xuất vượt quá sản lượng quy

định sẽ được trả theo đơn giá cao hơn (luỹ tiến).

Áp dụng hình thức tiền lương này thường dẫn đến tốc độ tăng tiền lương cao

hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Vì vậy chỉ được sử dụng như 1 biện pháp tạm

thời trong điều kiện cần khuyến khích mạnh mẽ tăng năng suất lao động và tăng sản

lượng ở các khâu quan trọng của sản xuất nhằm tạo điều kiện phát triển sản lượng

cho các bộ phận khác và của cơng ty. Hơn nữa, khi áp dụng hình thức trả lương này,

sản lương sản phẩm vượt quá mức khởi điểm luỹ tiến phải được tính theo kết quả cả

tháng để tránh tình trạng có ngày vượt mức nhiều có ngày lại khơng đạt, kết quả cả

tháng cộng lại có thể hụt mức mà tiền lương nhận được vẫn vượt tiền lương cấp bậc

hàng tháng. Thực hiện được như vậy mới quán triệt nguyên tắc tốc độ tăng năng suất

lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương.

- Tiền lương khoán: Đây là hìn thức đặc biệt của tiền lương theo sản phẩm, trong

đó tổng số tiền lương trả cho cơng nhân được quy định trước cho 1 khối lượng công

việc hoặc khối lượng sản phẩm nhất định phải được hoàn thành trong 1 thời gian quy

định.

Hình thức trả lương này được áp dụng cho những công việc không thể định

mức cho từng bộ phận công việc hoặc làm những công việc mà xét ra giao từng chi

tiết khơng có lợi về mặt kinh tế nhưng lại là những công việc khẩn cấp cần hồn

thành sớm.

Khi áp dụng hình thức lưong khốn cần coi trọng chế độ kiểm tra chất lượng

cơng việc theo đúng hợp đồng quy định.

- Tiền lương sản phẩm có thưởng: Thực chất của hình thức tiền lương này là sự

kết hợp chế độ tiền lương theo sản phẩm với chế độ tiền thưởng. Ở doanh nghiệp,

việc áp dụng hình thức trả lương này nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm

nguyên vật liệu, giảm mức phế phẩm...

Tóm lại: Thơng qua việc nghiên cứu các hình thức tiền lương, các doanh

nghiệp tuỳ theo đặc điểm loại hình sản xuất, tính chất cơng việc cũng như u cầu

quản lý của đơn vị mình mà lựa chọn hình thức tiền lương thích hợp vùa phản ánh

được đầy đủ chi phí lao động hao phí trong q trình sản xuất, lại vùă tạo động lực

thúc đẩy người lao động nâng cao năng suất và n tâm gắn bó với cơng việc của

mình.



Lê Quốc Huy - K 39.21.07



- 15 -



2.Quỹ tiền lương và thành phần của quỹ tiền lương:

2.1.Quỹ tiền lương:

Quỹ tiền lương của doanh nghiệp (tổng quỹ lương) là tất cả các khoản tiền

lương mà doanh nghiệp phải trả cho cơng nhân viên trong một thời gian nào đó bao

gồm tiền lương trả cho lao động trong danh sách hay ngồi danh sách, lao động trong

nghành sản xuất cơng nghiệp hay lao động thuộc các nghành khác.

Doanh nghiệp căn cứ vào thang lương, bậc lương và chế độ phụ cấp do Nhà

nước quy định để tính đơn giá tiền lương trong sản phẩm theo các định mức kinh tế

kỹ thuật đã được xác định hợp lý và chặt chẽ. Đơn giá tiền lương được điều chuỉnh

theo tình hình giá cả biến động trong từng thời kỳ. Doanh nghiệp chủ động lựa chọn

hình thức và chế độ trả lương, trả lương phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp và quán triệt nguyên tắc phân phối lao động được xếp lương, nâng

cao lương cho công nhân viên chức theo chế độ, chính sách lương của Nhà nước.

2.2.Các thành phần của quỹ lương:

Theo nghị định số 235/HĐBT ngày 19/9/1985 của hội đồng bộ trưởng ( nay

thuộc chính phủ), quỹ tiền lương gồm các khoản chủ yếu sau:

- Tiền lương tính theo thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm, lương khoán.

- Tiền lương trả cho người lao động tạo ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ

quy định.

- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên

nhân khách quan, trong thời gian được điều động công tác làm nghĩa vụ do chế độ

quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học...

- Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ...

- Các khoản tiền thưởng có tính chất thương xun...

- Các khoản tiền chi trợ cấp BHXH cho công nhân viên trong thời gian ốm đau,

thai sản, tai nạn lao động...

Xét về phương diện hạch tốn, tiền lương cho cơng nhân viên trong doanh

nghiệp sản xuất được chia làm 2 loại:

- Tiền lương chính: là tiền lương trả cho cơng nhân viên trong thời gian công

nhân viên thực hiện nhiệm vụ của họ, nghĩa là thời gian có tiêu hao thực sự sức lao

động bao gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo (phụ cấp

trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp làm đêm và làm thêm giờ...)

- Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian thực hiện

nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian cơng nhân viên được nghỉ

theo đúng chế độ (nghỉ phép, nghỉ lễ, đi họp, nghỉ vì ngừng sản xuất,...). Ngồi ra tiền



Lê Quốc Huy - K 39.21.07



- 16 -



lương trả cho công nhân sản xuất sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định cũng

được xếp vào lương phụ.

Việc phân chia tiền lương thành lương chính và lương phụ có ý nghĩa quan

trọng đối với cơng tác kế tốn và phân tích tiền lương trong giá thành sản xuất. Tiền

lương phụ của công nhân sản xuất không gắn liền với từng loại sản phẩm nên được

hạch toán gián tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm theo 1 tiêu chuẩn phân bổ

nhất định. Quản lý tiền lương của doanh nghiệp phải được đặt trong mối quan hệ với

việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm sử dụng hợp lý

quỹ tiền lương, thúc đẩy tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.

Đối với phân tích hoạt động kinh tế: độ lớn của tiền lương chính phụ thuộc vào

nhiều yếu tố trong đó có tổ chức kỷ luật lao động, trình độ cơng nghệ, điều kiện làm

việc... còn độ lớn tiền lương phụ phần lớn là những khoản được Nhà nước đài thọ và

không phụ thuộc vào những yêu tố trên.

3.Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ:

3.1.Quỹ BHXH:

- Nguồn hình thành: Quỹ BHXH được hình thành do việc trích lập và tính vào

chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1 khoản chi phí BHXH theo quy định

của Nhà nước. Theo quy định hiện hành, hàng tháng doanh nghiệp tiến hành trích lập

quỹ BHXH theo tỷ lệ phần trăm nhất định trên tiền lương cơ bản của công nhân viên

và phân bổ chúng cho các đối tượng liên quan đến việc sử dụng lao động. Chế độ kế

tốn hiện hành cho phép mức trích là 20% tiền lương cơ bản trong đó 15% là người

sử dụng lao động được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, còn lại 5% là người lao

động phải tính trừ vào phần thu nhập của mình.

- Phạm vi chi dùng quỹ BHXH: ốm đau (con ốm, bản thân người lao động ốm),

thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu, nghỉ mất sức, hưu trí, tử tuất và

chi nuôi sống bộ máy quản lý quỹ BHXH.

- Phương thức quản lý, chi tiêu quỹ BHXH: hàng tháng, doanh nghiệp phải nộp

tồn bộ các khoản BHXH đã trích vào cơ quan quản lý quỹ BHXH. Các khoản chi tại

doanh nghiệp như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động sau khi đã chi trả cho người lao

động doanh nghiệp phải nộp các chứng từ gốc hợp lệ cho cơ quan quản lý quỹ để đè

nghị cơ quan này thanh toán.

3.2.Quỹ BHYT:

- Nguồn hình thành: BHYT theo quy định của chế độ tài chính hiện hành được

hình thành từ 2 nguồn: 1 nguồn do doanh nghiệp phải chịu, được trích để tính vào chi

phí sản xuất kinh doanh hàng tháng theo tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số tiền

lương cơ bản của công nhân viên. Theo chế độ kế tốn hiện nay cho phép tỷ lệ trích



Lê Quốc Huy - K 39.21.07



- 17 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×