Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Câu 1. Theo anh chị, Công ty Y có những hành vi xâm phạm nào đối với QSHTT của Công ty X?

Câu 1. Theo anh chị, Công ty Y có những hành vi xâm phạm nào đối với QSHTT của Công ty X?

Tải bản đầy đủ - 0trang

“1. Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu gắn trên

hàng hố, bao bì hàng hố, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu,

phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc

tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ.

2. Căn cứ để xem xét yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là

phạm vi bảo hộ nhãn hiệu, gồm mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hoá, dịch

vụ được xác định tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy chứng

nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam.

3. Để xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải là yếu tố xâm phạm

quyền đối với nhãn hiệu hay khơng, cần phải so sánh dấu hiệu đó với nhãn

hiệu, đồng thời phải so sánh sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu đó với sản

phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ. Chỉ có thể khẳng định có yếu tố xâm

phạm khi đáp ứng cả hai điều kiện sau đây:

a) Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn

với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với

nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả

màu sắc); một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn

hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hồn tồn trùng nhau

hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách

phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và

gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

b) Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự

về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, cơng dụng và có cùng kênh tiêu thụ

với hàng hố, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.

4. Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là yếu tố

xâm phạm nếu:

a) Dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a khoản 3

Điều này;



3



b) Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện quy

định tại điểm b khoản 3 Điều này hoặc hàng hố, dịch vụ khơng trùng, khơng

tương tự, khơng liên quan tới hàng hố, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng

nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng

hoá, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất,

kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

5. Trường hợp sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu trùng hoặc khó phân

biệt về tổng thể cấu tạo và cách trình bày so với nhãn hiệu được bảo hộ cho

sản phẩm, dịch vụ cùng loại thuộc phạm vi bảo hộ thì bị coi là hàng hoá giả

mạo nhãn hiệu theo quy định tại Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ.”

Căn cứ vào điều luật nêu trên để xác định công ty Y có hành vi xâm

phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu hay không ta sẽ so sánh dấu hiệu

“Lohipopp” gắn trên sản phẩm kẹo của Công ty Y và nhãn hiệu “Lolipop” đã

được cấp GCNĐKNH của cơng ty X thì nhận thấy như sau:

- Kí tự: có 6/8 kí tự trùng và trình tự sắp xếp giống nhau, chỉ thêm 1 chữ

“p” và hay đổi chữ “l” thành chữ “h”;

- Cách phát âm: Đều có ba âm tiết, các âm cũng phát âm tương tự như

nhau (Lo–li –pop) và (Lo-hi-pop) đặc biệt sự trùng hai âm “lo” và “pop” và

phát âm liên tục khơng có qng nghỉ.

- Hình thức trình bày: Bao gói của hai sản phẩm kẹo có in nhãn hiệu có

hình thức tương tự nhau, bao gói của cơng ty Y chỉ thay đổi vị trí và màu sắc

của các quả bóng bay.

- Về hàng hóa sử dụng cho nhãn hiệu và dấu hiệu: Đều cùng sử dụng

cho một loại hàng hóa đó là sản phẩm kẹo.

Từ những phân tích nêu trên ta xác định dấu hiệu “Lohipopp” mà công

ty Y xử dụng cho sản phẩm kẹo với nhãn hiệu “Lolipop” mà công ty X là chủ

sở hữu có những điểm tương đồng gây đến sự nhầm lẫn giữa dấu hiệu

“Lohipopp” với nhãn hiệu “Lolipop” thuộc quyền sở hữu của công ty X và

đang được pháp luật bảo hộ về quyền sở hữu nhãn hiệu.

4



KẾT LUẬN: Công ty Y đã có hành vi xâm phạm quyền sở hữu với

nhãn hiệu mà công ty X đang là chủ sở hữu. Cụ thể cơng ty Y đã có các hành

vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều

129: “Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá,

dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục

đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn

về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ

Trường hợp 2: Nhãn hiệu “Lolipop” của công ty X đã hết thời gian

bảo hộ mà công ty không xin gia hạn thêm

Căn cứ vào Khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung

năm 2009 thì GCNĐKNH của Công ty X đã hết hiệu lực như vậy sẽ không

được pháp luật bảo hộ về quyền sở hữu công nghiệp nữa. Do vậy, dù dấu hiệu

của “Lohipopp” của công ty Y có những đặc điểm tương tự dẫn đến nhầm

lẫn với nhãn hiệu “Lolipop” của cơng ty X thì cũng khơng bị coi là có hành

vi xâm phạm do nhãn hiệu của cơng ty X khơng còn là đối tượng đang được

bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

KẾT LUẬN: Cơng ty Y khơng có hành vi vi phạm đối với Công ty X

Trường hợp 3: Nhãn hiệu “Lolipop của công ty X đã trở thành

nhãn hiệu nổi tiếng

Theo như đề bài nhãn hiệu “Lolipop” đã được công ty X sử dụng rộng

rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam kể từ cuối năm 2000. Nên hồn tồn có khả

năng nhãn hiệu “Lolipop” của công ty X đã trở thành nhãn hiệu nổi tiếng khi

đã đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 75 Luật sở hữu trí tuệ 2005.

“1. Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc

mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thơng qua quảng

cáo;

2. Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;

3. Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu

hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;

5



4.Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;

5. Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;

6. Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;

7. Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;

8. Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư

của nhãn hiệu”.

Nếu nhãn hiệu “Lolipop” của công ty X đã trở thành nhãn hiệu nổi

tiếng vậy căn cứ theo Khoản 2 Điều 42 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN công

ty X không cần phải đăng ký hoặc tiếp tục gia hạn giấy chứng nhận đăng ký

nhãn hiệu. Trong trường hợp này nhãn hiệu “Lolipop” đương nhiên được bảo

hộ không phụ thuộc vào hiệu lực của giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

Trong tình huống này như đã phân tích ở trường hợp 1 cơng ty Y đã có hành

vi sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng “Lolipop” của công ty

X đối với trùng loại hàng hóa là kẹo và có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn

gốc hàng hóa, gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu

hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng. Như vậy Công ty Y đã vi phạm

quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ “Sử dụng dấu hiêu

trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch

nghĩa phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa dịc vụ bất kỳ ,kể cả hàng

hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa,

dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử

dụng hồn tồn có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ

hoặ gây ấn tượng sai lệch về mỗi quan hệ giữ người sử dụng dấu hiệu với chủ

sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng”.

Kết luận: Như vậy trong trường hợp này công ty Y đã xâm phạm quyền sở

hữu nhãn hiệu công nghiệp thuộc quyền sở hữu cuả công ty X.



6



Câu 2: Anh chị hãy tư vấn cho Công ty X lựa chọn các biện pháp và cơ

quan có thẩm quyền để bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty.

1. Biện pháp thỏa thuận

Trước khi xét đến các biện pháp theo quy định của pháp luật nhóm em

xin đề xuất biện pháp thương lượng giữa hai công ty. Sở dĩ nhóm đề xuất biện

pháp này bởi vì bản chất của quan hệ luật sở hữu trí tuệ là một luật chuyên

ngành trong lĩnh vực pháp luật dân sự mà một nguyên tắc rất quan trong trong

luật dân sự đó là ngun tắc thỏa thuận. Cơng ty X có thể sẽ u cầu thỏa

thuận với cơng ty Y về việc chấm dứt việc công ty Y đang sử dụng dấu hiệu

tương tự gây trùng lặp với nhãn hiệu của cơng ty X và có thể đề nghị cơng ty

Y trở thành đối tác làm ăn cùng nhau kinh doanh phân phối sản phẩm kẹo này

ra thị trường. Biện pháp này thể hiện sự thiện chí của cơng ty X đối với công

ty Y, nếu thỏa thuận đạt được kết quả tốt như mong đợi đôi bên sẽ cùng có lợi

mà tránh được các chi phí, thủ tục liên quan đến thủ tục pháp lý, phát triển

mối quan hệ trong làm ăn kinh doanh tăng sức cạnh tranh với các nhãn hiệu

kẹo khác trên thị trường.

2. Biện pháp pháp lý

Trong trường hợp áp dụng biện pháp thỏa thuận không đạt được kết

quả thì sẽ áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật.

Quyền được bảo vệ đối với quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại

Khoản 1 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, theo đó: “Chủ thể quyền sở

hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu

trí tuệ của mình:

a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền

sở hữu trí tuệ;

b) u cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải

chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính cơng khai, bồi thường thiệt

hại;



7



c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền

sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật

có liên quan;

d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

mình”

Từ quy định trên Cơng ty X có thể áp có thể áp dụng các biện pháp

trong khuôn khổ pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

như:

Thứ nhất, u cầu Công ty Y phải chấm dứt hành vi xâm phạm xâm

phạm, cụ thể là yêu cầu Công ty Y phải sửa lại nhãn hiệu “Lohipopp” với

bao gói có cách trình bày tương tự với bao gói của Cơng ty X; buộc Cơng ty

Y phải xin lỗi, cải chính cơng khai, phải bồi thường thiệt hại vì trong q trình

Cơng ty Y sử dụng nhãn hiệu này trên thị trường có thể ảnh hưởng đến khả

năng phân biệt của sản phẩm hoặc lợi dụng uy tín của Cơng ty X để bán sản

phẩm. Biện pháp này có ưu điểm thể hiện sự chủ động của công ty mà không

phải trải qua các thủ tục pháp lý phức tạp, giúp cho việc giải quyết được

nhanh chóng, đơn giản, đỡ tốn kém thời gian và tiền bạc cho Công ty X. Tuy

nhiên hiệu quả của biện pháp này không cao, để biện pháp này áp dụng một

cách có hiệu quả thì còn phụ thuộc vào sự thiện chí, hợp tác của Cơng ty Y.

Thứ hai, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi

phạm của Công ty Y. Khoản 2 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 có quy

định: “Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí

tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho

người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm

quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật

này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Ưu điểm lớn nhất của

biện pháp này là nhanh chóng và ít tốn kém. Tuy nhiên, thẩm quyền xử lý vi

phạm quy định cho nhiều cơ quan dẫn tới tình trạng hoạt động chồng chéo,

gây khó khăn cho người dân.

8



Về cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì trong trường hợp này Cơng

ty X có thể u cầu các cơ quan sau đây xử lí hành vi vi phạm của Cơng ty Y

như: Cơ quan Thanh tra, Cơng an, Quản lí thị trường, Hải quan, Uỷ ban

nhân dân các cấp theo quy định tại Khoản 3 Điều 200 Luật sở hữu trí tuệ

năm 2005. Việc yêu cầu xử lí vi phạm này phải được thể hiện bằng văn bản

dưới hình thức đơn yêu cầu, kèm theo các tài liệu chứng cứ chứng minh có

liên quan theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày

29/08/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu cơng

nghiệp. Thẩm quyền xử phạt cụ thể của từng cơ quan cũng được quy định cụ

thể tại Điều 15 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP, theo đó:

“1. Thanh tra Khoa học và Cơng nghệ có thẩm quyền xử phạt các hành vi vi

phạm quy định tại Chương II của Nghị định này.

2. Thanh tra Thông tin và Truyền thơng có thẩm quyền xử phạt hành vi vi

phạm quy định tại Điểm a Khoản 16 Điều 14 của Nghị định này.

3. Quản lý thị trường có thẩm quyền xử phạt các hành vi vi phạm sau đây:

a) Hành vi vi phạm quy định tại Điều 12 và Điều 13 của Nghị định này trong

hoạt động sản xuất, bn bán, vận chuyển, tàng trữ hàng hóa tại thị trường

trong nước;

b) Hành vi vi phạm quy định tại các Điều 6, 9, 11 và 14 của Nghị định này

trong hoạt động bn bán, vận chuyển hàng hóa tại thị trường trong nước.

Trong trường hợp xử lý hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản

3 Điều này mà xác định được cơ sở sản xuất loại hàng hóa đó thì Quản lý thị

trường có thẩm quyền tiếp tục xử lý hành vi vi phạm tại cơ sở sản xuất.

4. Hải quan có thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm quy định tại các Điều 6,

9, 10, 11, 12, 13 và 14 của Nghị định này trong hoạt động q cảnh, nhập

khẩu hàng hóa.

5. Cơng an có thẩm quyền phát hiện, xác minh, thu thập thông tin, chứng cứ

các hành vi xâm phạm quyền về sở hữu công nghiệp và cung cấp cho các cơ

quan xử lý vi phạm quy định tại các Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này; có thẩm

quyền xử phạt hành vi vi phạm quy định tại các Điều 9, 12 và 13 của Nghị

định này.

9



6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có thẩm quyền xử phạt hành vi vi

phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp xảy ra tại địa phương theo nguyên

tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định

tại Điều 38 và Điều 52 của Luật Xử lý vi phạm hành chính”.

Như đã phân tích ở câu 1, hành vi của công ty Y là hành vi xâm phạm

quyền đối với nhãn hiệu quy định tại Điều 11 Nghị định này. Mặt khác, hành

vi này cũng không thuộc hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu trong

hoạt động buôn bán, vận chuyển hàng hóa tại thị trường trong nước tại điểm b

Khoản 3 Điều 15 và trong hoạt động quá cảnh nhập, cảnh tại Khoản 4 Điều

này. Do đó, thẩm quyền xử lí vi phạm quyền đối với nhãn hiệu trong trường

hợp này thuộc về Thanh tra Khoa học và Cơng nghệ.

Thứ ba, khởi kiện tại Tòa án hoặc u cầu trọng tài giải quyết bảo vệ

quyền lợi của mình. Từ những phân tích tại câu 1, theo nhóm chúng em cơng

ty X đã có đầy đủ các bằng chứng chứng minh cơng ty Y đã có hành vi xâm

phạm quyền đối với nhãn hiệu của cơng ty mình, vì vậy cơng ty X hồn tồn

có thể khởi kiện cơng ty Y về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đây

được coi là biện pháp đạt hiệu quả cao vì vấn đề sẽ được giải quyết theo đúng

pháp luật hiện hành và sau khi có phán quyết của Tòa án thì Cơng ty Y bắt

buộc phải chấm dứt ngay các hành vi vi phạm của mình.

Về cơ quan có thẩm quyền giải quyết, theo quy định tại Khoản 2

Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những tranh chấp trong kinh

doanh, thương mại liên quan đến “Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ,

chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích

lợi nhuận” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Cụ thể, thẩm quyền giải

quyết trong trường hợp này thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định

tại Điểm a Khoản 1 Điều 37 Luật tố tụng dân sự năm 2015: “Tranh chấp về

dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại

các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm

quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và

10



khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này”. Mặt khác, theo quy định tại Điểm b Khoản

1 Điều 35 thì chỉ các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương

mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục

đích lợi nhuận tại Khoản 1 Điều 30 mới thẩm quyền giải quyết của Tòa án

nhân dân cấp huyện. Như vậy, các tranh chấp quy định tại Khoản 2 Điều 30 sẽ

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Câu 3. Giả sử trong quá trình xử lí vi phạm đối với cơng ty Y, cơng ty Y

xuất trình Bằng độc quyền kiểu dáng cơng nghiệp đã được Cục Sở hữu

trí tuệ cấp ngày 5/9/2013 trên cơ sở đơn nộp của Công ty Y ngày

1/10/2011 bảo hộ kiểu dáng bao gói đúng như bao gói Cơng ty Y đang sử

dụng. Theo anh chị, Công ty X cần tiến hành những thủ tục nào để bảo

vệ quyền lợi của mình?

1. Hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của công ty

Y.

Bước 1: Để có thể hủy bỏ bằng sáng chế độc quyền của cơng ty Y Luật Sở

hữu trí tuệ: “Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng

cơng nghiệp, thiết kế bố trí:

a) Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng cơng nghiệp, thiết kế bố trí bằng cơng

sức và chi phí của mình;

b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới

hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác và

thỏa thuận đó không trái với quy định tại khoản 2 Điều này.”

Căn cứ vào quy định trên kết hợp với các tình tiết trong tình huống:

- Kiểu dáng bao gói của sản phẩm công ty X đã được sử dụng rộng rãi từ

cuối năm 2000 trên toàn bộ thị trường Việt Nam, đó là kiểu dáng cơng nghiệp

có thể do cơng ty X sáng tạo ra hoặc do công ty X đã bỏ chi phí, phương tiện

vật chất ký hợp đồng thuê hoặc giao việc cho một cá nhân hoặc tổ chức khác

sáng tạo ra để làm bao bì cho sản phẩm kẹo.

11



- Tháng 8/2015 công ty X phát hiện công ty Y sử dụng kiểu dáng tương

tự nhãn hiệu của mình chỉ đổi vị trí và màu sắc quả bóng bay. Kiểu dáng của

cơng ty Y có tính chất là bản sao kiểu dáng của cơng ty X vì tổng thể thiết kế

đều có các chi tiết viên kẹo lớn, một số quả bóng bay, hình ơng mặt trời cách

điệu. Thiết kế này dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.

Như vậy công ty X đã xử dụng kiểu dáng công nghiệp là bao bì sản

phẩm kẹo trước khi cơng ty Y sử dụng loại bao bì tương tự gây nhầm lẫn, việc

sử dụng này hồn tồn rộng rãi và cơng khai. Nên trong trường hơp này Công

ty X mới là chủ thể có quyền đăng ký kiểu dáng cơng nghiệp chứ không phải

công ty Y.

Bước 2: Căn cứ theo quy định tại Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ về hủy

bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ như sau: “1. Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ

hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

a) Người nộp đơn đăng ký khơng có quyền đăng ký và khơng được chuyển

nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố

trí, nhãn hiệu;

b) Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời

điểm cấp văn bằng bảo hộ.

2. Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ một phần hiệu lực trong trường hợp phần đó

khơng đáp ứng điều kiện bảo hộ.

3. Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở

hữu công nghiệp hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ trong các trường hợp quy

định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này với điều kiện phải nộp phí và lệ phí.

Thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ là suốt

thời hạn bảo hộ; đối với nhãn hiệu thì thời hiệu này là năm năm kể từ ngày

cấp văn bằng bảo hộ, trừ trường hợp văn bằng bảo hộ được cấp do sự không

trung thực của người nộp đơn.

4. Căn cứ kết quả xem xét đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ và ý

kiến của các bên liên quan, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công

12



nghiệp quyết định hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ hiệu lực văn bằng bảo hộ

hoặc thông báo từ chối hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ.

5. Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này cũng được áp dụng đối với

việc huỷ bỏ hiệu lực đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu.”

Kết luận: Tình huống trên thuộc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 96.

Bước 3: Công ty X nộp đơn yêu cầu cục sở hữu công nghiệp đã cấp bằng

độc quyền về kiểu dáng công nghiệp cho cơng ty Y hủy bỏ văn bằng đó theo

quy định của pháp luật, đồng thời nộp kèm các tài liệu chứng cứ chứng minh

cơng ty X mới có quyền đăng ký kiểu dáng cơng nghiệp, sau khi nộp phí và lệ

phí đơn của cơng ty sẽ được xem xét và giải quyết. Sau khi đã giải quyết xong

và văn bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp của công ty Y đã bị hủy bỏ thì

cơng ty X nên đăng ký với cục sở hữu công nghiệp để được cấp bằng độc

quyền về kiểu dáng công nghiệp hạn chế các tranh chấp sau này, đảm bảo cho

hoạt động kinh doanh của công ty.

Theo khoản 2 Điều 21 TT01/2007/TT-BKHCN công ty X cần chuẩn bị các

giấy tờ sau:

- Tờ khai yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bản bảo hộ, làm theo mẫu 04-



CDHB

Chứng cứ

Giấy ủy quyền (trường hợp nộp văn bản u cầu thơng qua đại diện)

Văn bản trình lý do yêu cầu và các tài liệu liên quan theo quy định.

Bản sao chứng từ nộp phí, lệ phí (trường hợp nộp phí, lệ phí qua dịch

vụ bưu chính hoặc nộp trực tiếp vào tài khoản của Cục SHTT)



2. Sử dụng quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ quy định về hành vi cạnh tranh không lành

mạnh như sau:

“1. Các hành vi sau đây bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh:



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Câu 1. Theo anh chị, Công ty Y có những hành vi xâm phạm nào đối với QSHTT của Công ty X?

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×