Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định

161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ. Suốt trong những năm tháng kháng

chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt

thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, qn nhân và gia đình

họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của

cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước.

Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền

kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, sự thay đổi

mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã

hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ:

“Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức Nhà nước và người

làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với

người lao động”. Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam

cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao

động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng

góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến Văn kiện

Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng đã nêu lên “ Mở rộng chế độ BHXH đối với

người lao động thuộc các thành phần kinh tế”. Như vậy, các văn bản trên của

Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới chính

sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường, ngay say khi Bộ luật lao động có

hiệu lực từ ngày 1/1/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị đình 12/CP ngày

26/1/1995/ về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần

kinh tế. Nội dung của bản Điều lệ này góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng

và Nhà nước đặt ra, góp phần thực hiện cơng bằng và tiến bộ xã hội, góp phần

làm lành mạnh hóa thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong

mỏi của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả nước.

Và gần đây là sự ra đời Nghị định số 01/2003/NĐ-CP về việc mở rộng đối



7

tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong khu vực kinh tế

ngoài quốc doanh cùng với kế hoạch hồn thành việc soạn thảo luật BHXH.

BHXH đã được hình thành ngay từ những năm đầu thành lập nước, tuy

nhiên chỉ áp dụng hình thức BHXH bắt buộc. Cùng với quá trình phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi cần phải đổi mới và hồn thiện hệ thống

BHXH theo cả hai hình thức bắt buộc và tự nguyện. Chính vì vậy những năm

qua đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về lĩnh vực này, tuy nhiên tập trung

chủ yếu về lĩnh vực BHXH bắt buộc. Đối với BHXH tự nguyện, các cơng

trình nghiên cứu đã đề cập tới phải kể đến là: "Cơ sở lý luận về việc thực hiện

các loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn

Tiến Phú, đề tài cấp Bộ năm 2001, trong đó tác giả mới chỉ dừng ở việc

nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện loại

hình BHXH tự nguyện ở Việt Nam, chứ chưa nghiên cứu sâu về nội dụng,

hình thức, tổ chức quản lý quá trình phát triển loại hình BHXH tự nguyện;

- Hai cơng trình nghiên cứu tiếp theo là: "Nghiên cứu mở rộng đối tượng

tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập"

của tác giả Bùi Văn Hồng, đề tài cấp Bộ năm 2002; "Giải pháp mở rộng đối

tượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân theo đường

lối đổi mới của Đảng và Nhà nước" của tác giả Kiều Văn Minh, đề tài cấp Bộ

năm 2003 tập trung nghiên cứu các giải pháp mở rộng đối tượng tham gia

BHXH tự nguyện, chưa đề cập đầy đủ mối quan hệ lợi ích giữa người lao

động khu vực phi chính thức và chế độ BHXH tự nguyện;

- Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội hiện nay và các biện pháp

nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu, Đề tài nghiên cứu của TS. Nguyễn Văn

Châu. Nguyên Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam, 1996.

- Cơ sở khoa học hồn thiện quy trình quản lý thu Bảo hiểm xã hội, Đề

tài nghiên cứu của TS. Dương Xuân Triệu, 1999



8

- Chiến lược phát triển bảo hiểm xã hội phục vụ mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội đến năm 2020, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của TS. Nguyễn

Huy Ban, nguyên Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam, 1999.

- Hoàn thiện quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, luận văn Tiến Sĩ

kinh tế của Đỗ Văn Sinh – Phó Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam, 2005

- Đề tài "Cơ sở khoa học quản lý và tổ chức thu bảo hiểm xã hội tự

nguyện" của tác giả Nguyễn Anh Vũ, đề tài cấp Bộ năm 2003, mới chỉ đề cập

đến vấn đề thu BHXH tự nguyện;

- Cơng trình "Nghiên cứu xây dựng lộ trình tiến tới thực hiện bảo hiểm

xã hội cho mọi người lao động" của tác giả Nguyễn Tiến Phú, đề tài cấp Bộ

năm 2004, đã tập trung nghiên cứu lộ trình và các bước tiến hành thực hiện

BHXH tự nguyện, nhưng nghiên cứu này thực hiện trong bối cảnh chưa có

Luật BHXH;

- Đề tài "Mơ hình thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số nước

trên thế giới và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam"

của tác giả Đào Thị Hải Nguyệt, đề tài cấp Bộ năm 2007, tập trung nghiên

cứu kinh nghiệm của nước ngoài trong việc thực hiện BHXH tự nguyện;

- Đề tài "Khảo sát về triển vọng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho

khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Kiến nghị chính sách", đề tài cấp Bộ năm

2007 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Ngân hàng thế giới, đề tài

tập trung nghiên cứu và đưa ra cơ sở để triển khai Luật BHXH về BHXH tự

nguyện;

- Đề tài "Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hồn thiện hệ thống chính

sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2007-2015", đề tài cấp bộ của tác giả

Mai Ngọc Cường - Trường Đại học Kinh tế quốc dân, đề tài này nghiên cứu

tổng thể hệ thống ASXH ở nước ta. Từ trước năm 2008 có đề cập đến một số

cơ sở để xây dựng chính sách về BHXH tự nguyện.



9

- Luận văn thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia

Bảo hiểm xã hội tự nguyện của những người buôn bán nhỏ lẻ tại tỉnh Phú

Yên” của tác giả Nguyễn Quốc Bình năm 2013, đề tài đánh giá cảm nhận của

người lao động buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Phú Yên.

- Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện đối

với người lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Phạm Thị Lan

Phương năm 2015. Luận án đã đã góp phần bổ sung và làm sáng tỏ những vấn

đề lý luận và thực tiễn liên quan đến BHXH, phân tích các nhân tố ảnh hưởng

tới sự phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện và phát triển BHXH TN đối với

NLĐ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, xây dựng mô hình nghiên cứu và rút ra

được những nhân tố tác động đến sự tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học

cho việc xây dựng và thực hiện BHXH tự nguyện ở nước ta những năm qua,

nhưng vẫn mới là những nghiên cứu bước đầu, còn chưa đầy đủ, thiếu hệ

thống, đặc biệt chưa cập nhật được những xu hướng phát triển mới của hệ

thống BHXH tự nguyện, trong bối cảnh đất nước chuyển mạnh sang nền kinh

tế thị trường, tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực và điểm cần

nhấn mạnh đó là các nghiên cứu trên thực hiện trong điều kiện Luật BHXH,

về BHXH tự nguyện chưa được thực thi.



10



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI

TỰ NGUYỆN

1.1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.1.1. Tổng quan về bảo hiểm xã hội

a. Các khái niệm

- Bảo hiểm : Theo Monique (2010): “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó,

một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo

hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong

trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả

bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm

đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống

kê”.

Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển rất

lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu. Có nhiều khái niệm về BHXH do đó có

nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau. Khái niệm được hiểu một cách chính

xác nhất theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (1999). “BHXH là sự thay thế

hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những

biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng

cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của

người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm

đảm bảo an tồn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm

bảo an tồn xã hội”.

Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế



11

hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất

thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp,

hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”

Quy định tại điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam (2006): “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo

hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham

gia”.

- Khái niệm phí bảo hiểm xã hội: Theo Trần Quang Hùng và Mạc Văn

Tiến (1998): “Phí BHXH là khoản tiền đóng góp hàng tháng hoặc định kỳ của

những người tham gia BHXH cho Quỹ bảo hiểm xã hội”.

- Khái niệm trợ cấp bảo hiểm xã hội: Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ

Quỹ BHXH được cơ quan hay tổ chức BHXH chi trả cho người được BHXH

khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị

mất việc làm và có đủ điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật BHXH.

Trợ cấp BHXH có nhiều loại như trợ cấp một lần, trợ cấp lần đầu, trợ cấp

hàng tháng, trợ cấp ngắn hạn, trợ cấp dài hạn (Trần Quang Hùng và Mạc Văn

Tiến, 1998).

- Khái niệm người lao động: Quy định tại Điều 6 Bộ Luật Lao động

của Quốc hội (1994), “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả

năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự

quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”

b. Vai trò của bảo hiểm xã hội

- Đối với cá nhân người lao động và gia đình

+ Thứ nhất, ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình. Khi tham

gia BHXH, BHXH TN, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH,

khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi

phí gia đình tăng lên, khi về già hết tuổi lao động hoặc phải ngừng làm việc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×