Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CÁC KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN TIÊN PHƯỚC

CÁC KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN TIÊN PHƯỚC

Tải bản đầy đủ - 0trang

77

xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới là 30% và 70% vào năm 2020.

3.1.2. Định hướng hoạt động của PGD NHCSXH huyện Tiên Phước

Căn cứ theo định hướng về mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tại địa

phương, đồng thời căn cứ theo định hướng hoạt động của NHCSXH Việt

Nam đối với cơ sở, PGD NHCSXH huyện Tiên Phước xác định những mục

tiêu trong thời gian tới như sau:

- Tiếp tục tranh thủ sự quan tâm và chỉ đạo của NHCSXH tỉnh và lãnh đạo

cấp uỷ, chính quyền địa phương trong cơng tác triển khai hoạt động tín dụng và

quản trị RRTD. Chủ động và tích cực phối hợp với các ngành, hội, đoàn thể và

UBND các địa phương để tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình tín dụng

chính sách trên địa bàn; gắn kết chặt chẽ giữa tín dụng chính sách với các

chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

- Phấn đấu đạt mức tăng trưởng dư nợ chung cho các chương trình trong

giai đoạn mới khoảng 25 – 30%/năm và đạt 100% kế hoạch được giao. Nâng

cao mức cho vay bình quân/hộ lên 25 triệu đồng/hộ vay vốn. Giảm nợ quá

hạn cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối, duy trì tỷ lệ nợ quá hạn dưới 1% đối

với từng chương trình vay so với tổng dư nợ, kiểm soát nợ xấu. Tỷ lệ thu nợ

đạt từ 95% trở lên và tỷ lệ thu lãi đạt 100%.

- Tiếp tục xem xét kiện toàn và củng cố hoạt động của Tổ TK&VV. Phối

hợp với các Hội, đoàn thể nhận uỷ thác tiếp tục thực hiện tốt các nội dung,

công việc nhận uỷ thác vốn vay theo đúng thỏa thuận. Thực hiện tốt cơng tác

kiểm tra, kiểm sốt nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, đối chiếu nợ vay,

tiền gởi tiết kiệm đến khách hàng.

3.2. KHUYẾN NGHỊ NHẰM HỒN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN

DỤNG TẠI PGD NHCSXH HUYỆN TIÊN PHƯỚC

3.2.1. Khuyến nghị về nhận diện rủi ro

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả cơng tác thẩm định tín dụng và phân tích tín



78

dụng. RRTD bắt đầu từ những thẩm định và phân tích tín dụng khơng cẩn

trọng và thiếu chính xác dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Nếu làm

tốt công tác này sẽ hạn chế được RRTD ở mức cao nhất và ít tổn thất nhất.

Trên cơ sở giới hạn tín dụng đã được phê duyệt, trong từng lần cấp tín

dụng chủ yếu tập trung phân tích rủi ro của phương án vay. Trong phân tích

này, cần tập trung đến tính pháp lý, khả năng tiêu thụ,… Đồng thời đưa ra

những rủi ro dự kiến, khả năng kiểm soát của ngân hàng và phương án xử lý

tình huống xấu xảy ra. Cần phối hợp chặt chẽ các điều kiện tín dụng trong

hợp đồng như lãi suất, tỷ lệ vốn tự có tham gia phương án,… nhằm đảm bảo

lợi ích thu được phải tương xứng với mức độ rủi ro.

Cùng với việc thấm định hồ sơ trước khi giải ngân thì việc thẩm định lại

trong quá trình cho vay sẽ giúp ngân hàng xác định được mức độ tổn thất khi

rủi ro vỡ nợ xảy ra để ngăn ngừa hoặc tính biện pháp xử lý. Việc thẩm định

RRTD, xác định mức độ thiệt hại khi rủi ro xảy ra hoặc hậu quả của việc

không trả được nợ để xác định mức độ tổn thất ước tính là nhân tố quan trọng

ảnh hưởng đến mức dự phòng rủi ro mà các ngân hàng đặt ra.

Thứ hai, hoàn thiện và tn thủ nghiêm ngặt quy trình tín dụng. Trong

giai đoạn kiểm tra hồ sơ thông tin khách hàng, việc kiểm tra các thông tin liên

quan đến hồ sơ pháp lý, uy tín tín dụng, năng lực tài chỉnh chủ yếu dựa trên

hai nguồn thông tin là từ khách hàng và từ thông tin nội bộ trên mạng của

ngân hàng. CBTD cần phải tận dụng tồn bộ nguồn thơng tin này để nhận

định chính xác về khách hàng. Vì nguồn thơng tin do khách hàng cung cấp có

thể thiếu tính chính xác, đặc biệt trong trường hợp khách hàng cố ý làm sai

nên để tránh gặp phải rủi ro thơng tin, ngân hàng cần có sự kết hợp với một số

cơ quan ban ngành có đủ chức năng để đối chiếu thông tin khách hàng cung

cấp và áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp khách hàng vay và những

người có liên quan, đồng thời sử dụng triệt để nguồn thơng tin từ trung tâm



79

thơng tin tín dụng của NHNN để xác minh tính xác thực của thơng tin. Một

rủi ro khác ở giai đoạn này là sự chủ quan hoặc cố ý đưa ra nhận định chủ

quan của CBTD trong việc nhận xét về năng lực tài chính của khách hàng. Do

vậy cần hoàn thiện hơn nữa phần mềm chấm điểm tín dụng cho khách hàng.

Trong giai đoạn thẩm định phương án vay vốn và trả nợ, khi thẩm định

phương án vay vốn, CBTD cần phải xem xét tính xác thực của phần vốn tự có

của khách hàng khi tham gia vào dự án. Ngoài ra, khi thấm định, CBTD cần

đánh giá năng tài chính, khả năng sản xuất kinh doanh của khách hàng vay để

xem xét hiệu quả của vốn tín dụng. Khi đánh giá khả năng trả nợ của khách

hàng vay vốn, CBTD phải nắm rõ nguồn lực tài chính, tức là dòng tiền

phương án vay và các nguồn thu khác mà khách hàng xem xét kèm theo

những rủi ro tiềm tàng có thể mà bước đầu tín dụng chưa thẩm định được

nhiều nhằm điều chỉnh thời hạn cho vay và thu hồi.

Trong giai đoạn quyết định cho vay, trước khi CBTD quyết định cho vay

và lãnh đạo ngân hàng quyết định cho vay thì cần phải tập hợp một số biến

động thị trường, chính sách kinh tế,… để có cái nhìn hệ thống về rủi ro có thể

xảy ra trước khi ra quyết định. Việc ra quyết định kiểm tra cần phải có sự

kiểm tra kỹ lưỡng thay vì sơ sài và quyết định theo đề nghị của CBTD thì

hiệu quả phòng ngừa rủi ro sẽ cao hơn.

Giai đoạn tiếp theo là kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi cho vay, đây là

giai đoạn mang ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa RRTD. Công việc

này được tiến hành định kỳ ngay cả khi khoản vay là tốt nhất để nhằm đảm

bảo nó đang hoạt động theo đúng dự kiến mà khơng có tình trạng xấu đi. Tuy

vậy, đối với một số khách hàng có quan hệ tín dụng lâu dài, CBTD thường có

tâm lý tin tưởng và bỏ qua việc kiểm tra định kỳ nên không phát hiện được

những dấu hiệu bất thường trong hoạt động của khách hàng dẫn tới tăng tỷ lệ

nợ xấu trong ngân hàng. Việc kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay sau khi cho



80

vay cần phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt với tinh thần trách nhiệm

cao. Ngồi việc trực tiếp kiểm tra, có thể có một cơ chế kiểm tra chéo trong

giai đoạn này để đảm bảo tính khách quan trong kiểm tra nhận diện rủi ro của

các khoản vay.

Thứ ba, nâng cao chất lượng hoạt động của đơn vị nhận uỷ thác và tổ

TK&VV

Nâng cao chất lượng hoạt động của đơn vị nhận uỷ thác

Trong suốt hơn 12 năm hoạt động tín dụng chính sách, phương thức uỷ

thác tín dụng qua các hội, đồn thể là Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân,

Hội cựu chiến binh, Đồn TNCS HCM cả nước nói chung và đại diện huyện

Tiên Phước nói riêng đã góp phần thực hiện hiệu quả các chương trình tín

dụng ưu đãi của Chính phủ. So với việc cho vay trực tiếp đòi hỏi một lực

lượng cán bộ lớn, kèm theo nhiều vấn đề khác làm gia tăng chi phí cho vay và

tốn rất nhiều thời gian thì cơ chế uỷ thác tín dụng qua các tổ chức chính trị xã

hội như vậy sẽ góp phần đưa chủ trương chính sách tín dụng của Nhà nước

đến với nhân dân một cách nhanh chóng và thuận tiện hơn.Thơng qua việc

thực hiện dịch vụ ủy thác, các tổ chức chính trị - xã hội có điều kiện củng cố

tổ chức và thu hút hội viên; tham gia giám sát đảm bảo chính sách tín dụng

được thực hiện công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả trong sử dụng nguồn

lực của Nhà nước cho mục tiêu giảm nghèo…

Để tiếp tục phát huy hiệu quả của phương thức uỷ thác qua các tổ chức

chính trị xã hội, NHCSXH cần tăng cường một số biện pháp như sau:

Một là, PGD NHCSXH huyện cần có sự phối hợp tốt hơn nữa với các

hội đồn thể, các trưởng thơn, phụ trách khối phố để đáp ứng tốt nhu cầu vốn

của các đối tượng, đưa ra mức cho vay và thời hạn cho vay phù hợp với nhu

cầu sử dụng vốn của từng đối tượng về thời điểm, mức vay, tránh tình trạng

phân bổ mang tính bình qn như hiện nay.



81

Hai là, NHCSXH cần tăng cường phối hợp với các hội đồn thể, tổ vay

vốn để kiểm tra tình hình sử dụng vốn với nhiều hình thức như kiểm tra tại

chỗ, kiểm tra định kỳ, kiểm tra chéo, kiểm tra đột xuất,… nhằm có biện pháp

xử lý kịp thời những sai sót.

Ba là, tiếp tục thực hiện tốt hơn việc trao đổi thông tin hai chiều giữa

NHCSXH với các tổ chức hội. NHCSXH cần nâng cao chất lượng hoạt động

tại các điểm giao dịch lưu động tại xã, phường, thị trấn. Đảm bảo 100% giao

dịch được thực hiện tại các điểm giao dịch. Củng cố và duy trì các cuộc họp

giao ban theo định kỳ với các tổ chức chính trị xã hội, các hội đoàn thể. Tại

các cuộc họp này NHCSXH huyện sẽ gửi sao kê nợ đến hạn, lãi tạm tính hàng

tháng (quý) cho các xã, thị trấn theo hội quản lý và các tổ chức chính trị cấp

huyện. Các hội có thể chuyển trực tiếp sao kê này hoặc niêm yết tại điểm giao

dịch, giao cho tổ trưởng thu lãi, đôn đốc hộ vay trả nợ. Đồng thời các tổ chức

hội đoàn thể tổng hợp báo cáo tình hình triển khai tín dụng, tình hình thu nợ

và những khó khăn vướng mắc trong q trình ủy thác tín dụng tại tổ chức với

tổ chức hội cấp trên và NHCSXH huyện để có hướng xử lý cụ thể. Hằng năm

lập kế hoạch kiểm tra, kiểm soát thường xuyên định kỳ hoặc đột xuất đối với

công tác nhận ủy thác cho vay vốn NHCSXH.

Bốn là, nâng cao công tác chỉ đạo, quản lý của các tổ chức chính trị - xã

hội nhận ủy thác đối với các tổ TK&VV, tăng cường theo dõi giám sát hoạt

động của Tổ đảm bảo đúng Quy chế và theo các văn bản hướng dẫn nghiệp

vụ uỷ thác của NHCSXH.Hàng năm, tổ chức hội chủ động xây dựng kế hoạch

kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, trả nợ,

lãi đúng kỳ hạn.

Năm là, NHCSXH phối hợp chặt chẽ với các hội đoàn thể tổ chức các

lớp tập huấn nghiệp vụ ủy thác cho các cán bộ hội và Tổ trưởng Tổ TK&VV

do Hội quản lý.



82

Sáu là, các tổ chức hội cần đẩy mạnh việc lồng ghép giữa việc thực hiện

dịch vụ ủy thác tín dụng chính sách với hoạt động hỗ trợ các đối tượng do

mình phụ trách để phát triển sinh kế, định hướng sử dụng vốn vay có mục

đích gắn với các chương trình phát triển kinh tế của địa phương, chuyển đổi

cây trồng, vật ni, ngành nghề phù hợp, các chương trình dạy nghề, chuyển

giao cơng nghệ, khuyến nơng, khuyến lâm, tìm đầu ra cho sản phẩm,…

Bảy là, cùng với NHCSXH, các tổ chức hội cần chủ động báo cáo cấp

ủy, chính quyền, đồn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các địa phương

về hoạt động của NHCSXH nói chung, hoạt động ủy thác của tổ chức hội nói

riêng. Qua đó tranh thủ sự quan tâm, tạo điều kiện của cấp ủy, chính quyền

các cấp trong thực hiện tín dụng chính sách trên địa bàn.

Tám là, để củng cố, nâng cao chất lượng ủy thác của hội cơ sở cần đẩy

mạnh công tác tuyên truyền, xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.

Trong đó chú trọng tuyên truyền các chủ trương, chính sách về tín dụng ưu đãi,

các chương trình tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ TK&VV

Thứ nhất, NHCSXH tăng cường giám sát hoạt động bình xét hộ gia đình

được đề nghị vay vốn. Hoạt động này phải được tổ chức công khai thông qua

cuộc họp Tổ, trong đó có sự giám sát, chứng kiến của trưởng thôn và tổ chức

hội nhân uỷ thác cấp xã. Việc bình xét phải đươc lập biên bản và có ghi chép

rõ ràng, cụ thể. Quá trình bình xét phải diễn ra cơng tâm, khơng cả nể, xuề

xồ. Trong đó phải đảm bảo được các bước như sau:

- Đánh giá được mức vốn xin vay, mức độ phù hợp của nhu cầu sử dụng

vốn vay để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh của tổ viên theo từng

chương trình xin vay và theo quy định của NHCSXH. Đồng thời căn cứ vào

chu kỳ sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ của từng hộ để bình xét và đề

nghị được vay vốn với mức vốn cần thiết, thời hạn vay vốn phù hợp.



83

- Sau khi được Tổ thống nhất bình xét cho vay công khai và biểu quyết

các hộ được vay vốn thì tổ trưởng lập danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn

gửi Ban giảm nghèo để trình UBND cấp xã xác nhận, đề nghị NHCSXH cho

vay. Sau đó, Tổ trưởng quán triệt cho tổ viên về ý thức vay vốn, sử dụng vốn

vay đúng mục đích, trả nợ và lãi đầy đủ, đúng kỳ hạn.

Thứ hai, thực hiện cơ chế các thành viên trong tổ TK&VV tự thẩm định

món vay, bảo lãnh cho nhau và khả năng được vay trong những lần tiếp theo

tuỳ thuộc vào tình hình hồn trả nợ của các thành viên trong tổ. Việc hoàn trả

nợ vay được phân kỳ trả hằng tháng. Thành viên nào thanh toán nợ đúng hạn

sẽ được ưu tiên vay các khoản mới, lớn hơn. Theo cách này rủi ro có thể ở

mức thấp mà vẫn cho phép khách hàng phát triển kinh doanh hiệu quả.

Thứ ba, ngoài việc uỷ thác cho tổ chức chính trị - xã hội theo dõi, giám

sát, đôn đốc hoạt động của Tổ TK&VV, NHCSXH có trách nhiệm theo dõi,

giám sát hoạt động của Tổ, đồng thời phối hợp với UBND cấp xã và tổ chức

chính trị - xã hội nhận ủy thác,hàng tháng thực hiện việc chấm điểm, đánh giá

xếp loại chất lượng hoạt động ủy nhiệm của tổ TK&VV. Nhờ đó giúp

NHCSXHkiểm soát tốt hoạt động của tổ TK và VV, chủ động và kịp thời

phối hợp với các hội, đoàn thể nhận ủy thác thực hiện các biện pháp củng cố,

kiện tồn các tổ yếu kém, trung bình.

Thứ tư, NHCSXH huyệnthường xuyên phốihợp với các hội, đoàn thể

nhận ủy thác rà sốt, sáp nhập các tổ có số thành viên thấp để nâng cao năng

lực hoạt động của mạng lưới tổ TK&VV.

Thứ năm, hàng tháng tổ chức họp tổ để trả lãi tiền vay và góp tiết kiệm

hằng tháng. Tổ viên tham gia đóng góp tiết kiệm như một hình thức bắt buộc.

Khoản tiết kiệm này được coi như là một hình thức đảm bảo cho khoản vốn

vay và là hình thức góp vốn trả dần cho khoản vay của các thành viên. Ngân

hàng và các hội, đoàn thể cử cán bộ tham gia sinh hoạt cùng tổ TK&VV tăng



84

cường công tác tuyên truyền, giải đáp các thắc mắc của người dân giúp cho

các hộ vay vốn nắm vững được các chủ trương, chế độ, chính sách của Đảng,

Nhà nước, nâng cao vai trò giám sát của người dân.

Thứ sáu, việc bầu chọn ban quản lý tổ, tổ trưởng tổ TK&VV phải do các

tổ viên bình chọn và bầu ra mà không theo bất kỳ chỉ định nào của thường vụ

các tổ chức hội ở cấp xã, nhằm đảm bảo khách quan và hiệu quả.

Thứ bảy, NHCSXH trực tiếp kiểm tra đối chiếu nợ vay hoặc phối hợp

với Hội đoàn thể các cấp, tổ TK&VV kiểm tra, đối chiếu nợ vay, phân tích

nợ. Chỉ có thơng qua đối chiếu mới chứng tỏ vốn vay có hiệu quả hay khơng,

chất lượng tín dụng tốt hay xấu. Trong cơng tác này, sau khi xem xét hiệu quả

sử dụng vốn, kết hợp tư vấn giúp đỡ hộ vay sử dụng vốn tốt hơn. Đồng thời

qua đối chiếu cũng có thể rút ra những mặt được, chưa được, những vướng

mắc của người vay để phản ánh với các cấp thẩm quyền. Ngồi ra, thơng qua

đối chiếu trực tiếp với người vay có thể phát hiện được những sai phạm, tiêu

cực của các cán bộ liên quan để kịp thời xử lý. Sau hoạt động kiểm tra, đối

chiếu cần xây dựng một số kênh thông tin phản hồi từ cơ sở về tình hình hoạt

động và cán bộ của Tổ TK&VV, tổ giao dịch lưu động của NHCSXH hoạt

động tại điểm giao dịch cố định.

3.2.2. Khuyến nghị về đo lường rủi ro

Tập trung cải tiến cơng tác xếp hạng tín dụng nội bộ. Để hạn chế RRTD,

việc đánh giá phân loại khách hàng là hết sức cần thiết. Mặc dù chi nhánh đã

áp dụng mô hình chấm điểm, xếp hạng tín dụng và phân loại khách hàng vào

công tác đo lường RRTD nhưng hiệu quả thực sự chưa cao. NHCSXH huyện

cần nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động này trên cơ sở linh hoạt trong

việc áp biểu các chỉ tiêu định tính và định lượng phù hợp với hoạt động kinh

doanh, đối tượng khách hàng và tính chất rủi ro của từng loại dịch vụ tín

dụng. Chủ động xây dựng hệ thống phân loại đánh giá tín dụng khách hàng



85

theo đặc điểm kinh tế của địa phương để sớm nhận biết những khách hàng có

dấu hiệu, nguy cơ nợ xấu, chây ỳ thanh tốn hoặc bỏ trốn,… để sớm có biện

pháp xử lý.

Nâng cao năng lực nhận thức, đào tạo chuyên môn về việc vận hành

chương trình chấm điểm, xếp hạng tín dụng và phân loại khách hàng cho đội

ngũ cán bộ làm cơng tác tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót

trong q trình thực hiện để tránh RRTD ở góc độ hoạt động.

3.2.3. Khuyến nghị về kiểm sốt rủi ro

Tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại chi nhánh.

Đồng thời với việc thiết lập cơ chế giám sát song song thông qua công tác

quản lý nợ, cần chú ý công tác hậu kiểm của kiểm tra nội bộ để tăng cường

khả năng kiểm sốt tính tn thủ trong hoạt động cấp tín dụng, giảm thiểu

những RRTD. Trong công tác kiểm tra nội bộ, ngoài thực hiện kiểm tra theo

định kỳ, cần tập trung và tăng tần suất kiểm tra các khách hàng có nợ xấu,

đánh giá việc thực thi các biện pháp quản lý nợ có vấn đề và khả năng thu hồi

nợ. Cơng tác kiểm tra nội bộ cần thực hiện có trọng điểm, không qua loa lấy

lệ để kịp thời chấn chỉnh các nguy cơ gây rủi ro và đề xuất các giải pháp để

tăng cường các khả năng phòng ngừa RRTD.

Để tăng cường khả năng phát hiện và ngăn chặn các gian lận, sai sót

trong hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, cần thiết phải tiến hành các biện pháp

kiểm soát trong quy trình nghiệp vụ như: Kiểm tra chéo định kỳ giữa các giao

dịch viên với nhau trong nội bộ chi nhánh; Định kỳ luân chuyển các giao dịch

viên;… Cơ chế kiểm sốt bằng cách tự kiểm sốt sẽ góp phần tăng tinh thần

trách nhiệm giữa các nhân viên, tạo hiệu ứng có lợi cho mơi trường kiểm sốt.

Đó là cơng việc nhân viên làm ln có người kiểm tra, theo dõi, đánh giá,

đồng thời giảm thiểu chi phí tổ chức đồn kiểm tra và có thể ngăn ngừa gian

lân hơn là phát hiện và khắc phục hậu quả.



86

Chế tài thưởng phạt mang tính chất kinh tế nên được áp dụng nhằm

khuyến khích nhân viên trong cơng tác nghiệp vụ và tiến gần hơn với cơ chế

của thị trường bên ngoài như hiện nay. Nhân viên khi nhận thấy được việc

thưởng phạt cơng minh sẽ tự hồn thiện việc hồn thành nhiệm vụ, có ý thức

nhắc nhở và tố giác những hành vi sai phạm trong ngân hàng.

Cần có một cơ chế xử lý vi phạm nghiêm khắc hơn, rõ ràng hơn, minh

bạch và công khai trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có sai phạm gây thiệt hại

cho ngân hàng. Qua đó vừa có tác dụng răn đe, giáo dục, vừa có tác dụng

nâng cao trách nhiệm của cán bộ ngân hàng, góp phần nâng cao chất lượng

hoạt động ngân hàng.

3.2.4. Khuyến nghị về tài trợ rủi ro

Thứ nhất, NHCSXH cần hồn thiện cơng tác đánh giá chất lượng các

khoản nợ. Chi nhánh cần phải xếp loại các khoản nợ quá hạn, và các khoản nợ

trong hạn một cách chính xác với mục đích phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro

để thực hiện hỗ trợ khách hàng hoặc phối hợp hành động với các tổ chức, ban

ngành trong việc thu nợ và đồng thời trích lập dự phòng chính xác hơn.

Thứ hai, cần phát hiện sớm nợ xấu và nâng cao hiệu quả áp dụng biện

pháp thu hồi nợ trực tiếp. Đối với ngân hàng, việc nhận dạng sớm nợ xấu, và

áp dụng các biện pháp phù hợp để đôn đốc khách hàng trực tiếp trả nợ vay là

rất cần thiết. Ngân hàng cần nắm rõ thực trạng và tính chất, nguồn gốc phát

sinh các khoản nợ xấu và phân loạinợ xấu dựa trên các quy định của pháp luật

và nghiệp vụ ngân hàng để có phương án xử lý kịp thời. Việc này có thể được

thực hiện thông qua hoạt động kiểm tra thường xuyên các khoản vay. Nếu

phát hiện các dấu hiệu của nợ xấu, ngân hàng lập danh sách các khoản nợ cần

chú ý và theo dõi tình hình tài chính của khách hàng để thu hồi nợ. Nếu nợ

xấu do khách hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh tốn thực sự do

ngun nhân khách quan, do làm ăn thua lỗ, mất vốn và thu hồi nợ có thể thực



87

hiện sau khi phục hồi kinh doanh thì ngân hàng cùng đồng hành với khách

hàng để tháo gỡ khó khăn, cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng và có thể tiếp

tục hỗ trợ vay vốn. Nếu khách hàng khơng có khả năng trả nợ trong tương lai

thì phải áp dụng các biện pháp hành chính hoặc kinh tế quyết liệt hơn để giải

quyết. Đối với các khoản nợ xấu do vi phạm từ phía cán bộ ngân hàng trong

khâu thẩm định, xét duyệt cho vay thì cần xác định rõ trách nhiệm của cá

nhân và tập thể có liên quan. Thiết lập cơ chế thưởng hấp dẫn dành cho nhân

viên ngân hàng và các cá nhân, tổ chức trong công tác thu hồi nợ xấu.

Thứ ba, giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay và tiêu chuẩn hố hệ

thống thơng tin về các khoản nợ xấu. Một trong những nguyên nhân dẫn đến

nợ xấu là do hoạt động giám sát vốn vay được thực hiện chưa hiệu quả. Nhiều

khoản vay không được sử dụng đúng mục đích và theo lộ trình thể hiện trên

hợp đồng tín dụng. Vì vậy, việc rà sốt, theo dõi khoản vay, đánh giá thực

trạng sử dụng vốn vay của khách hàng và kịp thời báo cáo cấp uỷ, chính

quyền địa phương trong các trường hợp vi phạm hợp đồng tín dụng, chiếm

dụng vốn là rất cần thiết. Trong trường hợp nhất định có thể phối hợp với cơ

quan Cơng an, viện kiểm sát, Tồ án để đưa ra xử lý trước pháp luật những

trường hợp cố tình chiếm dụng vốn của nhà nước. Ngoài ra, cũng nhận thấy

rằng, hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro, vì vậy các khoản nợ xấu ln có

thể xảy ra, việc tiêu chuẩn hố hệ thống thơng tin về các khoản nợ xấu để dễ

dàng giới thiệu các khoản nợ xấu này trên thị trường mua bán nợ, đáp ứng

nhu cầu của thị trường cũng rất quan trọng.

3.2.5. Khuyến nghị khác

*Nâng cao trình độ cán bộ về nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp

Cán bộ, nhân viên là khâu quyết định hiệu quả của hoạt động tín dụng

ngân hàng cũng như quản trị RRTD. Kết quả này phụ thuộc rất lớn vào trình

độ chun mơn, nghiệp vụ, tính năng động sáng tạo, đạo đức nghề nghiệp,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CÁC KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN TIÊN PHƯỚC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×