Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhìn chung, công tác xếp hạn tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp đã hổ trợ khá đắc lực cho hoạt động cho vay trung dài hạn tại Chi nhánh. Kết quả xếp hạn tín dụng nội bộ được sử dụng để phân loại khách hàng, hổ trợ cho việc lấy các quyết đ...

Nhìn chung, công tác xếp hạn tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp đã hổ trợ khá đắc lực cho hoạt động cho vay trung dài hạn tại Chi nhánh. Kết quả xếp hạn tín dụng nội bộ được sử dụng để phân loại khách hàng, hổ trợ cho việc lấy các quyết đ...

Tải bản đầy đủ - 0trang

47

hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực quản lý, uy tín của Ban lãnh đạo và

khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng như của các chủ sở hữu. Tuy

nhiên một số trường hợp nội dung phân tích chưa sâu, còn sơ sài như: Chưa

phân tích cụ thể về chất lượng cũng như tính cạnh tranh của sản phẩm của

khách hàng vay so với các sản phẩm khác trên thị trường. Ngồi ra phân tích

mối quan hệ với các TCTD chỉ mới nêu nhóm nợ hiện tại và đang quan hệ ở

TCTD nào chứ chưa đi vào phân tích cụ thể uy tín, lịch sử giao dịch.

+ Thẩm định về tính pháp lý, phương diện tài chính của phương án kinh

doanh, dự án đầu tư: Trong nội dung này BIDV Đà Nẵng rất chú trọng đến hồ

sơ pháp lý của phương án kinh doanh, dự án đầu tư, đảm bảo hồ sơ pháp lý

đầy đủ, rõ ràng và đúng theo quy định.Về phương diện tài chính tập trung

thẩm định tổng mức đầu tư và cơ cấu nguồn vốn của phương án kinh doanh,

dự án đầu tư. Trong thực tế đối với các phương án kinh doanh việc xác định

tổng nhu cầu vốn thường đơn giản và đảm bảo tính chính xác cao hơn so với

dự án đầu tư. Đối với các dự án đầu tư mà BIDV Đà Nẵng cho vay thời gian

qua có rất nhiều trường hợp xác định tổng mức đầu tư không hợp lý. Nguyên

nhân một phần do trình độ chun mơn, kinh nghiệm của người lập dự án đầu

tư còn yếu hoặc cố đẩy lên cao để vay vốn được nhiều, một phần do trình độ

của cán bộ còn hạn chế, đặc biệt đối với các dự án có quy mơ lớn, phức tạp.

Tiếp theo đó sẽ thẩm định tính khả thi của các nguồn vốn tham gia vào

phương án kinh doanh, dự án đầu tư xem có đầy đủ và đảm bảo theo tiến độ

thay khơng

+ Thẩm định hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của phương án kinh

doanh, dự án đầu tư: Hiệu quả tài chính của phương án kinh doanh, dự án đầu

tư phụ thuộc lớn vào các thông số giả định về doanh thu, cơng suất, giá bán,

chi phí đầu vào, ... của phương án kinh doanh, dự án đầu tư và là một trong

những căn cứ quan trọng để ra quyết định cho vay. Do đó Chi nhánh rất chú



48

trọng đến nội dung thẩm định này và thực tế các phương án kinh doanh, dự án

đầu tư được thẩm định khá chi tiết, đầy đủ các khoản mục chi phí liên quan.

Tuy nhiên đối với dự án đầu tư việc thẩm định hiệu quả tài chính còn nhiều

bất cập như xác định công suất dự án không đúng với thực tế, xác định lãi

suất chiết khấu chưa linh hoạt, tất cả dự án đều áp dụng lãi suất chiết khấu

bằng với lãi suất cho vay trong khi dự án được tài trợ bằng nhiều nguồn vốn

khác nhau, phân tích độ nhạy dự án khơng đồng bộ giữa các chỉ tiêu nên

không đánh giá được độ nhạy của dự án đúng nghĩa.Cán bộ thẩm định căn cứ

phương án kinh doanh, dự án đầu tư, kế hoạch sản xuất kinh doanh dự kiến,

dòng tiền có được từ phương án kinh doanh, dự án đầu tư để xác định các

nguồnvốn có thể dùng để trả nợ và nhận xét tính khả thi của các nguồn vốn trả

nợ. Đồng thời phải xem xét khả năng trả nợ có phù hợp với điều kiện về thời

gian vay vốn và khả năng sinh lời của phương án kinh doanh, dự án đầu tư để

bảo đảm cho việc trả nợ đúng theo lịch trả nợ

d. Tăng cường kiểm tra giám sát quá trình trước trong và sau khi vay

vốn của doanh nghiệp

Hàng năm NH đều kiểm tra hoạt động tín dụng theo chỉ đạo của NHNN

Việt Nam. Tất cả các chi nhánh các phòng giao dịch có dư nợ cho vay đều

được kiểm tra. Trong công tác kiểm tra, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương

mại được đặc biệt quan tâm do đặc thù của lĩnh vực này có nhiều biến động,

đặc biệt là đối với các khoản vay trung dài hạn của doanh nghiệp, đòi hỏi NH

sau khi cho vay phải theo sát, nắm vững tình hình sử dụng vốn vay trên cơ sở

đó, đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp. Đối tượng thường được quan tâm

trong các cuộc kiểm tra không chỉ dừng lại ở bề mặt hồ sơ mà còn kiểm tra

thực tế tình hình kinh doanh của khách hành, tình hình thực hiện phương án

kinh doanh, thực trạng tài sản đảm bảo… Việc này có ý nghĩa quan trọng

trong cơng tác quản lý tín dụng và thực tế kết quả đã được khẳng định ở chất



49

lượng tín dụng tại chi nhánh luôn ở mức cao trong hệ thống Sau khi kiểm tra,

chi nhánh luôn tổ chức kiểm điểm lại những việc làm được và chưa làm được,

những việc còn sai sót, từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời. Phòng QHKH

sẽ chịu trách nhiệm nắm các thơng tin liên quan đến khách hàng vay, giám sát

việc sử dụng vốn vay của KH, tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài

chính, thu nhập, cơng nợ của KH sau khi giải ngân, cũng như biến động về tài

sản đảm bảo để đảm bảo khoản vay thực hiện đúng các điều khoản trong hợp

đồng. Phòng QHKH giao cho chính cán bộ quan hệ khách hàng phụ trách

khoản vay đó đảm nhận việc giám sát này mà không phân công cho chun

viên QHKH khác và khơng có bộ phận chun trách tại chi nhánh thực hiện.

Khi kiểm tra, cán bộ QHKH phải lập biên bản kiểm tra và mọi sự bất thường

trong quá trình theo dõi giám sát KH, cán bộ QHKH phải phản ánh với

Trưởng phòng QHKH để báo cáo Ban Giám đốc và tìm biện pháp xử lý thích

hợp.bao gồm:

Từ chối cho vay:

Chi nhánh chủ động từ chối cho vay đối với doanh nghiệp không đủ tiêu

chuẩn vay vốn. Cụ thể:

- Đối với doanh nghiệp tiếp thị mới có đủ điều kiện định hạng tín dụng:

doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn sàng lọc khách hàng.

- Đối với doanh nghiệp tiếp thị mới chưa đủ điều kiện định hạng tín dụng

nội bộ hoặc doanh nghiệp vay vốn cũ của Chi nhánh bị xuống hạng thấp hơn

BB: Tùy vào mức độ mà Chi nhánh áp dụng các biện pháp ngăn ngừa RRTD

và biện pháp giảm thiểu tổn thất khác nhau.

Trong giai đoạn 2015-2017, Chi nhánh áp dụng các tiêu chí sàng lọc

khách hàng của BIDV, cụ thể đối với doanh nghiệp đủ điều kiện định hạng

như sau:



50

Về khả năng trả nợ của doanh nghiệp vay vốn:

Chi nhánh thực hiện đánh giá rủi ro tín dụng thơng qua việc định hạng

tín dụng cho từng doanh nghiệp và xếp doanh nghiệp vào 10 loại theo mức độ

RRTD gồm AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC,C,D. Chi nhánh chấp nhận

cho vay đối với các doanh nghiệp có mức định hạng từ BB trở lên, tức là chấp

nhận cấp tín dụng đối với doanh nghiệp ít có nguy cơ mất khả năng trả nợ hơn

các nhóm từ B đến D

Về tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn:

BIDV khơng qui định tiêu chuẩn về tình hình tài chính đối với doanh

nghiệp vay vốn mà giao cho cấp có thẩm quyền phê duyệt cho vay phân tích

và quyết định có chấp nhận tình hình tài chính của từng doanh nghiệp cụ thể

hay không. Tuy nhiên, BIDV qui định giới hạn hệ số nợ tối đa theo từng

ngành. Cụ thể, BIDV cho vay đối với doanh nghiệp có hệ số nợ phải trả /vốn

chủ sở hữu đáp ứng theo từng ngành nghề kinh doanh như sau:

- Hệ số nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu ≤ 5 áp dụng với các ngành: Nhiệt

điện, Hoá dầu, Phần mềm, Vận tải hàng không, Sản xuất thiết bị viễn thông

và điện gia dụng, Kinh doanh bất động sản, Dịch vụ vui chơi giải trí, Kinh

doanh khách sạn, Dịch vụ y tế giáo dục cơng ích.

- Hệ số nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu ≤ 6 áp dụng với các ngành: Chăn

nuôi chế biến thức ăn, Chế biến thuỷ hải sản, Sản xuất gia công hàng da giầy,

dệt may, Sản xuất thiết bị văn phòng, đồ gia dụng, thiết bị y tế.

- Hệ số nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu ≤ 7 áp dụng đối với các ngành còn lại.

Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp đã được

BIDV đánh giá khi định hạng tín dụng do vậy, qui định chỉ tiêu hệ số nợ theo

từng ngành kinh tế là hợp lý nhằm mục đích hạn chế RRTD theo từng ngành.

Doanh nghiệp vay vốn phải có phương án sản xuất kinh doanh, dự án

đầu tư khả thi, hiệu quả.



51

Về vấn đề đánh giá phương án sản xuất kinh doanh, dự án của doanh

nghiệp vay vốn, BIDV khơng qui định tiêu chí cụ thể mà giao thẩm quyền cho

các cấp có thẩm quyền phán quyết tín dụng đánh giá tính khả thi của từng

phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư. Tùy thuộc vào mức độ rủi ro tín

dụng mà cấp quyết định cho vay đối với phương án kinh doanh, dự án đầu tư

khác nhau. Mức thấp nhất là phó giám đốc quan hệ khách hàng, mức cao nhất

là Hội đồng tín dụng BIDV.

Đánh giá về biện pháp từ chối cho vay của Chi nhánh.

Nhìn chung, việc từ chối cho vay của Chi nhánh có tiêu chí rõ ràng do đó

dễ dàng cho cán bộ quan hệ khách hàng chủ động trong việc tìm kiếm, lựa

chọn khách hàng. Tiêu chí sàng lọc được xây dựng một cách khoa học và giúp

cho Chi nhánh né tránh được những rủi ro tín dụng trong thời gian qua. Việc

đưa ra tiêu chí hệ số nợ tùy theo từng ngành kinh tế đã cơ bản tính đến rủi ro

tín dụng theo ngành kinh tế. Việc Chi nhánh chấp nhận doanh nghiệp vay vốn

có ít nguy cơ rủi ro tín dụng (BB) để cho vay đã thể hiện Chi nhánh chấp

nhận doanh nghiệp có rủi ro tín dụng nhưng ở mức độ trung bình để mang lại

thu nhập trong hoạt động cho vay.

Tuy nhiên, hiện tại BIDV chưa đưa ra tiêu chuẩn sàng lọc doanh nghiệp

đối với các doanh nghiệp mới thành lập, chưa đủ điều kiện định hạng mà chỉ

sử dụng các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu RRTD.

Giới hạn tín dụng trên một doanh nghiệp vay vốn

Giới hạn tín dụng được Chi nhánh xác định cho cả doanh nghiệp chưa

đủ điều kiện định hạng và đủ điều kiện định hạng.

Định kỳ hàng năm, Chi nhánh đều phê duyệt giới hạn tín dụng trên một

khách hàng. Doanh nghiệp được duy trì dư nợ trong giới hạn tín dụng trong

vòng 12 tháng kể từ ngày phê duyệt giới hạn tín dụng. Căn cứ để xác định

giới hạn tín dụng là nhu cầu vốn cần thiết và nhu cầu bảo lãnh trong năm sau



52

khi trừ đi phần vốn chủ sở hữu và vốn khác của doanh nghiệp.

Việc hàng năm tính tốn và rà sốt giới hạn tín dụng của từng doanh

nghiệp đã giúp cho Chi nhánh đánh giá lại mức độ chính xác của giới hạn tín

dụng, xác định lại giới hạn tín dụng cho phù hợp với kế hoạch kinh doanh

của khách hàng. Tuy nhiên, thời gian xác định giới hạn tín dụng dài dẫn đến

giới hạn không sát với nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Trong

thực tế triển khai kế hoạch kinh doanh, nhiều doanh nghiệp không đạt kế

hoạch kinh doanh đã đề ra đầu năm. Việc xác định giới hạn theo năm đối với

các doanh nghiệp này dễ dẫn đến rủi ro. Lợi dụng giới hạn tín dụng còn dư,

doanh nghiệp lập chứng từ giả để rút tiền vay lớn hơn so với nhu cầu phục

vụ cho sản xuất. .

Cho vay đồng tài trợ

Chi nhánh kêu gọi cho vay đồng tài trợ đối với dự án cho vay dự án có

giá trị lớn, thời gian cho vay dài hạn. Hiện tại, Chi nhánh đã và đang triển

khai 2 dự án cho vay đồng tài trợ do Chi nhánh làm đầu mối, các NHTM

Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nơng thơn là các thành

viên. Đó là dự án Khách sạn Furama, dự án thủy điện Avương với tổng dư nợ

là 808,388 triệu đồng, thời hạn cho vay trên 12 năm trong đó chi nhánh nắm

tỷ trọng cho vay 43% trên tổng dư nợ, tức là 347,167 triệu đồng (nguồn báo

cáo tổng kết năm 2017)

Việc lường trước những RRTD trong tương lai là rất khó, nhất là đối với

những khoản cho vay dự án có giá trị lớn, thời gian cho vay dài như trên có

thể gây tổn thất trong tương lai. Do vậy Chi nhánh chọn hình thức kêu gọi các

NHTM trên tham gia đồng tài trợ các dự án lớn và thời gian cho vay dài như

trên là hợp lý.



53

2.2.2. Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay trung

dài hạn khách hàng doanh nghiệp

a. Sử dụng biện pháp tài sản đảm bảo nợ vay

Tùy vào định hạng tín dụng mà chi nhánh yêu cầu doanh nghiệp phải có

tài sản đảm bảo theo tỷ lệ như bảng

Bảng 2.3. Tỷ lệ tài sản đảm bảo đối với doanh nghiệp vay vốn

Định hạng tín dụng nội bộ



AAA AA



A



BBB



1.Tỷ lệ tài sản đảm bảo vay ngắn hạn



20% 30%



50%



70%



2.Tỷ lệ tài sản đảm bảo vay trung dài hạn



100% 100% 100%



100%



(Nguồn: Báo xếp hạng khách hàng năm 2015, 2016, 2017)

Nhìn chung, việc áp dụng các biện pháp đảm bảo của Chi nhánh trên là

hợp lý và phù hợp với bối cảnh cạnh tranh trên địa bàn trong giai đoạn 20152017. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, Chi

nhánh yêu cầu tài sản đảm bảo với tỷ lệ như bảng 2.3 là chưa hoàn toàn hợp

lý với tình hình khó khăn của thị trường bất động sản, cũng như RRTD của

ngành này trong giai đoạn hiện nay.

Về định giá tài sản đảm bảo, hiện nay Chi nhánh thực hiện đánh giá tài

sản đảm bảo chủ yếu theo giá trị thị trường và theo giá trị sổ sách. Việc định

giá theo giá trị thị trường chưa được đồng nhất giữa các cán bộ định giá do

nguồn thông tin thu thập từ nguồn rao bán tài sản trên internet rất đa dạng và

đây là nguồn thông tin chưa đáng tin cậy, không phải là giá giao dịch thực tế.

Về công tác kiểm tra tài sản đảm bảo, công tác kiểm tra tài sản đảm bảo

chưa được quan tâm đúng mức, chưa được thực hiện kịp thời. Định kỳ 12

tháng 1 lần kiểm tra tài sản đảm bảo, dẫn đến có một số tài sản đảm bảo là

máy móc thiết bị còn lại của doanh nghiệp bị hỏng, lạc hậu về cơng nghệ. Do

đó trong năm 2017, Chi nhánh phải dùng nguồn dự phòng rủi ro để xử lý 228



54

triệu đồng nợ xấu của doanh nghiệp. Ngoài ra, một số tài sản là tài sản hình

thành trên đất thuê nên trong thực tế rất khó xử lý để thu hồi nợ xấu. Chính vì

một số tài sản thiếu tính thanh khoản nên Chi nhánh không bán được các tài

sản trên để xử lý. Để thu hồi được số nợ xấu trên, Chi nhánh phải thực hiện

biện pháp kiện ra tòa án mới có thể thu hồi được.

Về số tiền cho vay tối đa trên giá trị tài sản đảm bảo, Chi nhánh thực

hiện theo hướng dẫn của BIDV. Cụ thể đối với tài sản đảm bảo là bất động

sản, động sản như máy móc thiết bị,... cho vay tối đa 80% giá trị tài sản; đối

với tiền gửi, giấy tờ có giá do BIDV phát hành, cho vay tối đa 100% giá trị tài

sản đảm bảo.

Về công tác định giá lại tài sản đảm bảo, Chi nhánh tổ chức định giá lại

tài sản đảm bảo 12 tháng/lần do đó chưa phù hợp với tình hình biến động của

thị trường bất động sản như hiện nay, giá trị tài sản đảm bảo sẽ không được

định giá kịp thời và sẽ chênh lệch so với giá trị thị trường.

b. Yêu cầu doanh nghiệp vay vốn có vốn tự có tham gia vào phương án

sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư

Bảng 2.4. Tỷ lệ vốn tự có tham gia phương án, dự án vay vốn

2015-2016

Thời gian thành lập

doanh nghiệp

A.Mới thành lập



Ngắn

hạn



2017



Trung

Trung dài hạn (năm)

Ngắn

dài

hạn

≤5

6-7

≥7

hạn



30%



30%



30%



40%



50%



60%



AAA



0



15%



0



20%



25%



30%



AA



0



17%



0



20%



25%



30%



A



0



20%



0



25%



30%



35%



BBB



0



25%



0



30%



35%



40%



30%



30%



30%



40%



50%



60%



B.Thành lập từ 3 năm trở lên



BB



55

Biện pháp yêu cầu doanh nghiệp phải có vốn tự có tham gia vào phương

án sản xuất kinh doanh hoặc dự án được chi nhánh áp dụng thường xuyên

nhất là đối với các dự án đầu tư. Doanh nghiệp phải có vốn tự có tham gia vào

dự án đáp ứng một tỷ lệ vốn chủ sở hữu nhất định trên giá trị của dự án,

phương án sản xuất. Tỷ lệ vốn tự có được xác định theo kết quả định hạng của

doanh nghiệp, loại vay, thời gian hoạt động của doanh nghiệp và được tóm tắt

ở bảng 2.4

Nhìn chung, áp dụng biện vốn tự có tham gia như hiện nay là phù hợp

với tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay.

c. Sử dụng các biện pháp tài chính

Chi nhánh sử dụng các biện pháp tài chính như lãi suất quá hạn, phí cơ

cấu nợ và được thỏa thuận khi ký kết hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên trong

thực tế các biện pháp này thường không đủ mạnh và phải kết hợp các biện

pháp khác như thực hiện thu nợ trước hạn. Chi nhánh áp dụng biện pháp thu

nợ trước hạn bằng cách thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nếu khách hàng vi

phạm nghiêm trọng các cam kết cho vay như sử dụng sai mục đích, cung cấp

thơng tin sai sự thật về việc sử dụng vốn vay và tình hình tài chính, tình hình

sản xuất kinh doanh và thơng tin cần thiết liên quan đến vốn vay, tình hình

sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp đe doạ nghiêm

trọng đến khả năng trả nợ ngân hàng.

2.2.3. Các biện pháp giảm thiểu tổn thất trong cho vay trung dài hạn

doanh nghiệp

a. Phân loại nợ và lập quỹ dự phòng rủi ro

Hiện nay, Chi nhánh thực hiện phân loại nợ theo Quyết định

493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 đối với khách hàng doanh nghiệp.

Theo quy định tại hệ thống định hạng tín dụng nội bộ, việc chấm điểm

doanh nghiệp thực hiện 5 lần trong năm vào tháng cuối cùng của mỗi quý và

tháng 12 (31/03, 30/06, 30/09, 30/11, 31/12).



56

Căn cứ vào kết quả xếp hạng, các khoản nợ của khách hàng sẽ được

phân loại vào các nhóm nợ tương ứng như bảng 2.5

Bảng 2.5. Bảng phân loại nợ theo định hạng tín dụng

Xếp hạng khách hàng theo Hệ thống

xếp hạng tín dụng nội bộ



Phân loại nhóm nợ



AAA,AA,A



Nợ nhóm 1



BBB,BB



Nợ nhóm 2



B,CCC,C



Nợ nhóm 3



C



Nợ nhóm 4



D



Nợ nhóm 5

Việc trích dự phòng rủi ro được thực hiện theo quý vào các ngày 15



tháng đầu tiên của quý. Riêng quý 4 hàng năm trích vào ngày 15/12.

Chi nhánh trích dự Phòng rủi ro cụ thể theo công thức sau:

R = max {0, (A-C)} x r

Trong đó:



R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A: Giá trị của khoản nợ

C: Giá trị của tài sản đảm bảo

r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể



Tỷ lệ trích dự phòng cụ thể (r) theo nhóm nợ của từng khoản vay cụ thể.

Nhóm 1: 0%, nhóm 2: 5%, nhóm 3: 20%, nhóm 4: 50%, nhóm 5: 100%.

Chi nhánh trích mức trích dự phòng chung cho dư nợ từ nhóm 1 đến

nhóm 4 với tỷ lệ 0.75%.

Nhìn chung, việc trích dự phòng rủi ro tín dụng tại Chi nhánh thực hiện

đúng qui định.

b. Áp dụng lãi suất cho vay theo mức độ rủi ro tín dụng

Chi nhánh chưa phân biệt lãi suất theo mức độ RRTD của doanh nghiệp

mà chỉ thực hiện nâng lãi suất cho vay đối với một số lĩnh vực RRTD cao như

bất động sản trên cơ sở lãi suất sàn theo chỉ đạo của BIDV và giảm lãi suất



57

cho vay một số lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính Phủ và BIDV.

c.Sử dụng biện pháp giảm dần dư nợ vay

Để hạn chế RRTD phát sinh trong tương lai, Chi nhánh cũng đã áp dụng

biện pháp giảm dần dư nợ vay đối với một số doanh nghiệp có hạn mức dưới

40 tỷ đồng, kinh doanh thua lỗ hai năm liên tiếp. Việc áp dụng biện pháp

giảm dần dư nợ vay nhìn chung Chi nhánh đã áp dụng có hiệu quả.

2.2.4. Các cơng cụ chuyển giao rủi ro tín dụng trong cho vay trung

dài hạn doanh nghiệp

a. Yêu cầu doanh nghiệp vay vốn mua bảo hiểm

Hiện tại, Chi nhánh chưa yêu cầu doanh nghiệp thực hiện công tác bảo

hiểm đối với các tài sản, hàng hóa vật tư hình thành từ vốn vay trừ trường hợp

tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay. Như vậy, Chi nhánh áp dụng chưa triệt

để hình thức mua bảo hiểm, chưa kiên quyết trong việc yêu cầu doanh nghiệp

mua bảo hiểm tài sản đảm bảo thuộc sở hữu của doanh nghiệp như nhà cửa,

kho tàng ...

b. Thực hiện bán nợ

Đây là biện pháp Chi nhánh sử dụng rất nhiều trong giai đoạn trước năm

2015 nhằm mục đích bán các khoản nợ xấu. Tuy nhiên từ năm 2015 đến nay,

Chi nhánh thực hiện bán nợ trong hạn cho Ngân hàng Liên Doanh Việt Nga,

đây là khoản nợ nhóm 1. Mục đích của việc bán nợ là nhằm giảm giới hạn tín

dụng của Chi nhánh.

c. Sử dụng biện pháp bảo lãnh của bên thứ ba

Đặc thù tài sản đảm bảo của doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh hầu hết

là máy móc thiết bị, nhà làm việc… khơng đủ để đảm bảo cho dư nợ vay vốn

tại Chi nhánh. Do đó, Chi nhánh yêu cầu các cá nhân, tổ chức dùng tài sản

của mình để bảo lãnh cho doanh nghiệp. Nhìn chung, việc sử dụng biện pháp

này Chi nhánh thực hiện tốt. Tuy nhiên, hiện nay Chi nhánh cho vay thanh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhìn chung, công tác xếp hạn tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp đã hổ trợ khá đắc lực cho hoạt động cho vay trung dài hạn tại Chi nhánh. Kết quả xếp hạn tín dụng nội bộ được sử dụng để phân loại khách hàng, hổ trợ cho việc lấy các quyết đ...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×