Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC

LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí hoạt động kinh tế của

một tổ chức.

Để cụ thể hóa nội dung và chức năng quản trị chi phí chúng ta sẽ phân tích đối

tượng sử dụng thơng tin kế tốn.

Có hai loại đối tượng sử dụng thơng tin kế tốn là bên ngồi tổ chức và nội bộ tổ

chức. Đối tượng sử dụng bên ngoài tổ chức là các cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp,

khách hàng, cơ quan thuế, chủ đầu tư,...Đối tượng sử dụng thơng tin kế tốn trong nội

bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp (ban giám đốc và lãnh đạo các bộ phận) trong tổ

chức. Mặc dù cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưng hai loại đối tượng này cần

những thơng tin với các tính chất khác nhau. Bên ngồi tổ chức cần thơng tin tổng qt

về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tế của tổ chức. Các nhà quản lý trong

nội bộ trong tổ chức cần thông tin chi tiết theo từng mặt hoạt động nhằm đánh giá hiệu

quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trong tương lai cho tổ chức.

Để cung cấp thông tin cho cả hai loại đối tượng này hệ thống kế toán trong tổ

chức được chia thành hai bộ phận: hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế tốn quản

trị. Kế tốn tài chính chủ yếu cung cấp thơng tin cho các chủ thể quản lý bên ngồi tổ

chức, còn kế tốn quản trị hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản

lý trong nội bộ tổ chức.

Kế toán quản trị thường được định nghĩa là quá trình định dạng, đo lường, phân

tích, thiết lập, diễn giải và cung cấp thơng tin tài chính và phi tài chính cho các nhà

quản lý trong việc lập kế hoạch, đánh giá, kiểm soát tổ chức và đảm bảo cho việc sử

dụng hợp lý các nguồn lực của tổ chức. Khái niệm này tập trung vào việc xác định nội

dung, mục đích của kế toán quản trị, phân định ranh giới giữa kế tốn quản trị và kế

tốn tài chính. Mục đích chủ yếu của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho các nhà

quản trị trong nội bộ tổ chức để đánh giá, kiểm sốt q trình hoạt động trong khi mục

đích chủ yếu của kế tốn tài chính là cung cấp cơ sở thông tin cho các nhà đầu tư, các

ngân hàng, các đối tác ký kết hợp đồng kinh tế đối với tổ chức. Với mục đích khác



9



nhau nên nội dung của kế toán quản trị và kế tốn tài chính cng khác nhau. Kế tốn

quản trị cung cấp thông tin hướng về tương lai của tổ chức, trong khi kế tốn tài chính

cung cấp thơng tin về quá khứ của tổ chức. Kế toán quản trị khơng chỉ cung cấp thơng

tin tài chính mà còn cung cấp thơng tin phi tài chính về các q trình hoạt động trong

nội bộ tổ chức cũng như môi trường bên ngồi tổ chức.

Bên cạnh khái niệm kế tốn tài chính và kế tốn quản trị còn có khái niệm kế tốn

chi phí. Theo Viện kế tốn viên quản trị của Mỹ (IMA), kế tốn chi phí được định

nghĩa là “ kỹ thuật hay phương phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một

q trình hoặc một sản phẩm... Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp,

kết chuyển tùy ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý”. Theo định nghĩa này,

kế tốn chi phí khơng phải là một bộ phận độc lập, một phân hệ thứ ba của hệ thống kế

tốn, mà kế tốn chi phí vừa là một bộ phận của kế tốn tài chính và vừa là một bộ

phận của kế tốn quản trị.

Dưới góc độ kế tốn tài chính, bộ phận kế tốn chi phí có chức năng tính tốn, đo

lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp

thông tin về giá vốn hàng bán các chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh và

giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế tốn. Kế tốn chi phí là một loại hình kế tốn

mà các nhà quản lý có khả năng phải đối mặt nhiều nhất. Loại kế tốn này có thể giúp

nhà quản lý biết hoạt động nào hoặc sản phẩm nào đóng góp một cách kinh tế vào lợi

nhuận của cơng ty. Kế tốn chi phí cũng giúp nhà quản lý tránh việc phân bổ chi phí

quản lý chung tùy tiện, hạn chế khả năng sinh lợi. Dưới góc độ kế tốn quản trị, bộ

phận kế tốn chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng

sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận của tổ chức nhằm

nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinh doanh.

Bên cạnh quan điểm coi kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế tốn tài chính

và vừa là một bộ phận của kế tốn quản trị còn có quan điểm đồng nhất kế tốn chi phí

với kế tốn quản trị. Quan điểm này xuất phát từ thực tế khách quan là thông tin chi phí



10



cho các mục đích quản trị nội bộ ngày càng quan trọng đối với sự sống còn của tổ

chức.

Với các phân tích trên, tác giả cho rằng kế tốn quản trị chi phí là một bộ phận

của hệ thống kế toán quản trị chuyên thực hiện việc xử lý và cung cấp thơng tin về chi

phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các

hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết

định hợp lý.

1.1.2. Sơ lược về sự ra đời và phát triển kế tốn quản trị chi phí

Cùng với sự đổi mới nền kinh tế sang cơ chế thị trường, khái niệm về kế toán

quản trị và kế toán quản trị chi phí xuất hiện tại Việt Nam từ đầu những năm

1990.KTQT là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng 15 năm trở lại đây và

đã thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp. Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã

bước đầu vận dụng và xây dựng cho mình một bộ máy kế tốn quản trị riêng biệt.

Đánh dấu cho sự mở đầu này khi Luật Kế tốn Việt Nam được Quốc hội nước

Cộng hồ XHXN Việt Nam khố XI kỳ họp thứ 3 thơng qua ngày 17/6/2003 có hiệu

lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về KTQT ở các đơn vị như sau: KTQT là việc

thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong

nội bộ đơn vị kế toán (Luật Kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4). Tuy nhiên, việc này

chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ thể hay

hướng dẫn thi hành mang tính tổng qt. Do đó việc hiểu và vận dụng KTQT ở các DN

Việt Nam còn rất mơ hồ.

Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tư

hướng dẫn về thực hiện KTQT tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM. Có thể nói, đây là

động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nước đối với việc thực hiện KTQT

tại Việt Nam.

Đến ngày 12/6/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng

dẫn áp dụng kế tốn quản trị trong doanh nghiệp chính thức được ra đời nhằm hướng



11



dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT. Từ khi ra đời đến nay kế toán quản trị vẫn

mò mẫm lối đi, vẫn chưa có một tổ chức nào có đủ chun mơn và kinh nghiệm

chun tư vấn xây dựng hệ thống KTQT. Còn đối với các doanh nghiệp, thì KTQT vẫn

còn xa vời về mặt lý luận lẫn vận hành

Qua quá trình phát triển gần 30 năm, KTQT tại Việt Nam hiện vẫn chỉ dừng lại ở

khâu lập kế hoạch và quản trị chi phí, chưa tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp.

KTQT vẫn bị hiểu sai từ nội dung đến cách thức xây dựng khiến cho nhiều doanh

nghiệp còn lúng túng khi nghiên cứu để áp dụng.

1.1.3. Bản chất và vai trò của kế tốn quản trị chi phí

1.1.3.1. Bản chất của kế tốn quản trị chi phí

Kế tốn quản trị cung cấp thường xuyên và liên tục. Đối với nhà quản trị thông tin

cần thiết về qua khứ và hiện tại là dự tốn cho tương lai. Do đó, KTQT phải xây dựng

dự tốn, thu nhận và xử lý các thơng tin về chi phí, giá thành, thu nhập và kết quả...của

từng tổ, đội, phân xưởng hoặc cho từng công việc, từng sản phẩm, từng cơng đoạn sản

xuất hoặc cho cả q trình sản xuất. Tiến hành phân tích kịp thời các thơng tin làm căn

cứ cho việc đưa ra các giải pháp, quyết định đúng đắn để đối phó kịp thời với những

diễn biến của thị trường, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp.

Đối với các nhà quản lý thì những chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi lợi

nhuận chịu những ảnh hưởng với những chi phí đã chi. Vì vậy, vần đề đặt ra là làm sao

kiểm sốt được chi phí. KTQT chi phí sẽ trả lời chi phí là bao nhiêu, biến động như thế

nào khi có sự thay đổi của các nhân tố nào đó, ai sẽ là người chịu trách nhiệm giải thích

những thay đổi bất lợi của chi phí và giải pháp đưa ra để điều chỉnh kịp thời. Từ đó cho

thấy KTQT chi phí mang nặng bản chất của KTQT hơn là kế tốn chi phí thuần túy và

cung cấp các thơng tin về chi phí nhằm thực hiện các chức năng quản trị

1.1.3.2. Vai trò của kế tốn quản trị chi phí

Kế tốn quản trị chi phí cung cấp thơng tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp

trong việc thực hiện các chức năng quản lý. Để thực hiện vai trò của mình, kế tốn



12



quản trị chi phí tiến hành lập dự tốn chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp

thực hiện chức năng lập kế hoạch; phản ánh thông tin thực hiện để trợ giúp các nhà

quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch và xử lý thông

tin thực hiện để từ đó các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng kiểm tra,

đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Như vậy, KTQT chi phí đóng vai trò quan trọng

trong việc cung cấp thông tin cho quản lý cả trước, trong và sau q trình kinh doanh.

Kế tốn quản trị chi phí tiến hành cụ thể hóa các kế hoạch hoạt động của doanh

nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh. Kế tốn quản trị chi phí cung cấp thơng

tin về chi phí ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc các đối tượng khác theo yêu cầu

của nhà quản lý nhằm giúp họ ra các quyết định quan trọng về đặc điểm sản phẩm, cơ

cấu sản phẩm sản xuất và phân bổ hợp lý các nguồn lực có hạn cho các hoạt động của

doanh nghiệp. Bên cạnh cung cấp thơng tin về dự tốn chi phí cho việc lập kế hoạch và

ra quyết định của các nhà quản lý, kế tốn quản trị chi phí cũng cung cấp các thơng tin

để nhà quản lý kiểm sốt q trình thực hiện kế hoạch thơng qua các báo cáo đánh giá,

đặc biệt là giúp cho các nhà quản lý trong việc kiểm sốt chi phí và nâng cao hiệu quả

của q trình hoạt động. Việc cung cấp thơng tin về chi phí của các hoạt động một cách

chi tiết và thường xuyên sẽ giúp ích cho các nhà quản lý rất nhiều trong kiểm sốt và

hồn thiện q trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ vì những thơng tin

này giúp các nhà quản lý phát hiện các hoạt động tốn kém quá nhiều chi phí để thiết kế

lại q trình sản xuất, loại bỏ hoạt động tốn kém chi phí đó hoặc có những cải tiến làm

cho hoạt động đó hiệu quả hơn, ít tốn kém chi phí hơn.

Để thực hiện vai trò cung cấp thơng tin của mình, mơ hình kế tốn quản trị chi phí

được tổ chức thành hai nội dung cơ bản: tổ chức bộ máy kế tốn chi phí và tổ chức các

khâu cơng việc kế tốn quản trị chi phí. Bộ máy kế tốn quản trị chi phí cần được tổ

chức hợp lý để thực hiện tốt các nội dung của quản trị chi phí và ra các quyết định kinh

doanh.



13



1.1.4. Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp

1.1.4.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế

Theo cách phân loại này những loại chi phí có chung tính chất kinh tế được xếp

vào một yếu tố chi phí khơng kể chi phí đó phát sinh vào thời điểm nào và với mục

đích gì trong q trình sản xuất kinh doanh, theo cách phân loại này thì tồn bộ chi phí

sản xuất của doanh nghiệp xây lắp được chia thành 7 yếu tố chi phí sau:

- Yếu tố chi phí nguyên vật liệu: bao gồm các chi phí về các loại nguyên liệu, vật

liệu chính, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử

dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.

- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực: bao gồm các chi phí về nhiên liệu, động lực

mà doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.

- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp: bao gồm toàn bộ số tiền công

phải trả cho công nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.

- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN: bao gồm tồn bộ số trích bảo

hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí cơng đồn, bảo hiểm thất ngiệp của công nhân và

nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.

- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm tồn bộ số tiền trích khấu hao tài sản

cố định sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp.

- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã chi

trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài như tiền điện, tiền nước,tiền bưu phí...phục vụ

vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

- Yếu tố chi phí bằng tiền khác: bao gồm tồn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động

sản xuất ngoài các yếu tố chi phí trên.

Phân loại theo yếu tố chi phí giúp ta biết được chi phí nào đã dùng vào sản xuất

và tỷ trọng của từng chi phí đó là bao nhiêu để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện

dự tốn chi phí sản xuất từ đó cung cấp tài liệu để tổng hợp tính tốn thu nhập quốc

dân.



14



1.1.4.2. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động của chi phí

Bao gồm: Chi phí sản xuất và chi phí ngồi sản xất.

* Chi phí sản xuất:

- Chi phí vật liệu trực tiếp: là chi phí ( đã tính đến hiện trường xây lắp) của các vật

liệu chính, vật liệu kết cấu,vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển ( ván khuôn, đà giáo...),

bán thành phẩm để tạo nên sản phẩm xây lắp.

- Chi phí nhân cơng trực tiếp: bao gồm chi phí về tiền lương, tiền công của công

nhân trực tiếp xây lắp, khơng tính vào khoản mục này số tiền cơng BHXH, BHYT,

KPCĐ, BHTN của công nhân xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công, nhân viên sản

xuất chung (phân xưởng, đội sản xuất), nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý.

- Chi phí sử dụng máy thi cơng: bao gồm những chi phí liên quan đến việc sử

dụng máy thi cơng để hồn thành sản phẩm xây lắp.

+ Chi phí nhân cơng: là chi phí liên quan phải trả cho công nhân (thợ, điều khiển

máy) như: tiền công, tiền lương, các khoản phụ cấp;

+ Chi phí vật liệu: là chi phí về vật liệu dùng để chạy máy, sửa chữa máy thi cơng

như nhiên liệu....

+ Chi phí dụng cụ sản xuất: là chi phí cơng cụ, dụng cụ dùng cho sử dụng máy thi

cơng;

+ Chi phí khấu hao máy thi cơng: là tồn bộ số tiền trích khấu hao cơ bản của máy

thi cơng;

+ Chi phí dịch vụ mua ngồi: là chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên ngồi để sử

dụng máy thi cơng như: Chi phí về điện, nước, hơi, khí nén, chi phí sửa chữa máy thi

cơng th ngồi...;

+ Chi phí bằng tiền khác: là những chi phí bằng tiền ngồi những chi phí nêu trên

phục vụ cho sử dụng máy thi thi công.

- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở

các đội (phân xưởng) sản xuất ngoài ba khoản mục nêu trên, bao gồm:



15



+ Chi phí nhân viên quản lý đội xây dựng: bao gòm chi phí tiền lương, tiền cơng

trả cho quản lý đội xây dựng, các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ,

BHTN tính cho các bộ phận: Nhân cơng trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiển máy

thi công, nhân viên quản lý đội xây dựng...

+ Chi phí vật liệu

+ Chi phí dụng cụ sản xuất

+ Chi phí khấu hao tài sản cố định

+ Chi phí dịch vụ mua ngồi

+ Chi phí bằng tiền khác

* Chi phí ngồi sản xuất:

- Chi phí bán hàng: rất ít phát sinh tại đơn vị xây lắp

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các chi phí dùng vào tổ chức, quản lý và phục

vụ sản xuất kinh doanh có tính chất chung tồn doanh nghiệp. Cụ thể, chi phí quản lý

doanh nghiệp bao gồm:

+ Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương vào chi phí của người lao

động, quản lý ở các bộ phận phòng ban của doanh nghiệp.

+ Chi phí vật liệu, năng lượng,cơng cụ, dụng cụ dùng trong hành chính quản trị

văn phòng

+ Chi phí dịch vụ điện nước, điện thoại, bảo hiểm phục vụ chung cho toàn doanh

nghiệp

+ Các khoản thuế, lệ phí chưa tính vào giá trị tài sản

+ Các khoản phí liên quan đến sự giảm sút giá trị tài sản như dự phòng nợ phải

thu khó đòi, hao hụt trong khâu dự trữ.

Như vậy, chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là một khoản mục chi phí gồm nhiều

thành phần có đặc điểm khác nhau và khá phức tạp. Đây là khoản mục chi phí liên

quan khá chặt chẽ đến quy mơ, trình độ tổ chức quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, sự nhận

diện và phân cấp quản lý, phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp rất khó khăn, đơi khi



16



dẫn đến mức phân bổ sai lệch cho các sản phẩm, dịch vụ làm đánh giá sai lầm thành

quả đóng góp, kiềm chế tính năng động và sáng tạo của các bộ phận.

Phân loại chi phí theo đúng mục đích và cơng dụng kinh tế có tác dụng phục vụ

cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mực, cung cấp số liệu cho việc tính giá

thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện giá thành.

1.1.4.3. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản

xuất và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia thành hai loại:

- Chi phí trực tiếp: là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc sản xuất ra

một cơng trình, hạng mục cơng trình, căn cứ vào số liệu của chứng từ kế toán để ghi

trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.

- Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến việc sản xuất ra nhiều cơng

trình, nhiều hạng mục cơng trình, những chi phí này phải thơng qua phân bổ cho các

đối tượng chịu chi phí có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp.

Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa trong việc xác định phương pháp

kế tốn tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp lý.

1.1.4.4. Phân loại theo cách ứng xử

- Chi phí biến đổi (biến phí): là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi theo

các mức độ hoạt động. Chi phí biến đổi chỉ phát sinh khi có hoạt động xảy ra.Tuy

nhiên có loại chi phí biến đổi tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của mức hoạt động

như chi phí phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp...nhưng có chi phí

biến đổi chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng như chi phí lao

động gián tiếp, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị...

- Chi phí cố định (định phí): là những chi phí, xét về lý thuyết khơng có sự thay

đổi về mức độ hoạt động đạt được nhưng chi phí trung bình của một đơn vị hoạt động

thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức biến động của mức hoạt động. Chi phí cố định khơng

thay đổi về tổng số trong phạm vi phù hợp của mức độ hoạt động.



17



- Chi phí hỗn hợp: là những chi phí cấu thành nên nó bao gồm cả chi phí biến đổi

và chi phí cố định (như chi phí điện thoại, Fax...).

Việc phân loại chi phí thành chi phí biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp

tùy thuộc vào quan điểm nhìn nhận của từng nhà quản trị trong mục tiêu sử dụng cụ

thể. KTTC không phân chia chi phí theo tiêu thức này nhưng nó lại rất cần thiết cho

KTQT, giúp nhà quản trị có cách nhìn nhận chi phí, sản lượng và lợi nhuận để có quyết

định quản lý phù hợp.

1.1.4.5. Phân loại chi phí trong kiểm tra và ra quyết định

Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành:

- Chi phí kiểm sốt được: là những chi phí mà cấp quản lý dự đốn được sự phát

sinh và thuộc quyền quyết định của cấp quản lý đó.

- Chi phí khơng kiểm sốt được: là chi phí mà cấp quản lý khơng dự đốn được sự

phát sinh của nó, đồng thời khơng thuộc quyền quyết định của cấp quản lý đó.

- Chi phí trực tiếp: là chi phí cấu thành nên sản phẩm, gắn liền với một sản phẩm

hay dịch vụ nhất định hoàn thành.

- Chi phí gián tiếp: là chi phí liên quan đến nhiều sản phẩm, hoặc nhiều dịch vụ

khác nhau không làm tăng giá trị sản phẩm, dịch vụ.

- Chi phí lặn: chỉ nảy sinh khi ta xem xét các chi phí gắn liền với các phương án

hành động liên quan đến tình huống cần ra quyết định lựa chọn.

- Chi phí chênh lệch: là những khoản chi phí có ở những phương án SXKD này

nhưng khơng có hoặc chỉ có một phần ở phương án SXKD khác. Đây là một khái niệm

rộng về chi phí được dùng để so sánh chi phí khi lựa chọn phương án kinh doanh tối

ưu.

- Chi phí cơ hội: là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiện

phương án này thay cho phương án khác.



18



1.2. NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH

NGHIỆP XÂY LẮP

1.2.1. Lập dự tốn chi phí sản xuất

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động hiệu quả đều phải có một dự tốn

cụ thể. Dự tốn càng chính xác bao nhiêu thì việc tiến hành thực hiện cơng việc hiệu

quả bấy nhiêu.

Lập dự tốn là q trình tính tốn chi tiết nhằm chỉ ra cách huy động, sử dụng vốn

và các nguồn lực khác theo từng kỳ và được biểu diễn một cách có hệ thống dưới dạng

số lượng và giá trị. Việc lập dự tốn chi phí sản xuất là dự tốn về chi phí cần thiết để

hồn thành khối lượng xây lắp của hạng mục cơng trình, cơng trình.

Việc lập dự tốn sẽ có tác dụng:

- Cung cấp thơng tin một cách có hệ thống tất cả dự tốn của các cơng trình trong

doanh nghiệp;

- Xác định mục tiêu cụ thể để làm căn cứ đánh giá sau này;

- Định hướng cho việc đầu tư.

Để lập được dự tốn chi phí trong xây lắp cho các cơng trình, hạng mục cơng

trình cần dựa vào:

- Bản vẽ thiết kế (cơ sở, thi công...)

- Định mức xây dựng cơ bản phần xây dựng, lắp sặt khảo sát của Bộ xây dựng

- Đơn giá xây dựng cơ bản của tỉnh, thành phố

- Thông tư hướng dẫn lập dự tốn (TT 05/2007/TT-BXD)

- Thơng tư điều chỉnh dự tốn

- Thơng tư hướng dẫn áp dụng luật thuế giá trị gia tăng

- Thông tư về chế độ tiền lương, phụ cấp

- Công bố giá nguyên vật liệu xây dựng của sở xây dựng

Trước khi đi vào lập dự toán, cần xây dựng định mức cho từng khoản mục chi phí



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x