Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

13

Trong đó:

Dự tốn NVL sử

dụng



=



Định mức tiêu hao

NVL



*



Số lượng sản phẩm SX

theo dự tốn



- Dự tốn chi phí nhân cơng trực tiếp

Dự tốn này cung cấp những thơng tin quan trọng liên quan đến quy mô của

lực lượng lao động cần thiết cho kỳ kế toán. Mục tiêu cơ bản của kỳ kế tốn này là

duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cần sản xuất , tránh tình trạng

lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao động. Dự tốn lao động còn là cơ sở để

doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong q trình hoạt động sản xuất.

- Dự tốn chi phí sản xuất chung: bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí cố định

+ Dự tốn biến phí sản xuất chung

+ Dự tốn định phí sản xuất chung

Dự tốn chi phí SXC = Dự tốn biến phí

SXC



+ Dự tốn định phí

SXC



Trong đó:

Dự tốn biến phí SXC = Dự tốn biến phí * Sản lượng sản xuất

SXC đơn vị

Dự tốn định phí SXC = Định phí SXC



theo dự tốn

* Tỷ lệ tăng (giảm) định



thực tế kỳ trước



phí SXC theo dự kiến



1.3.1.2 Lập dự toán giá thành sản phẩm

Dự tốn chi phí sản xuất của doanh nghiệp là dự tính tồn bộ các khoản chi phí



mà doanh nghiệp phải chi ra cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong

một thời kỳ nhất định có thể nói dự tốn chi phí sản xuất là bản dự tính toàn bộ chi

tiêu của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định nên cần thiết phải có lập dự tốn

giá thành sản phẩm để góp phần kiểm sốt tốt chi phí sản xuất từ đó có thể xây

dựng giá thành sản phẩm tối ưu nhất.

Có nhiều phương pháp để lập dự tốn giá thành sản phẩm nhưng luận văn chỉ

trình bày 2 phương pháp sau:

* Lập dự toán theo phương pháp tồn bộ



14

Dựa trên tồn bộ các chi phí liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành

trong kỳ, cụ thể là chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp và chi phí SXC

để tính giá thành. Trên phương diện kế toán quản trị phương pháp này được xem là

cách tính đầy đủ các chi phí sản xuất làm cơ sở định giá bán sản phẩm, đánh giá

hiệu quả nội bộ, kiểm sốt chi phí theo từng trung tâm chi phí và ra quyết định.

Nhưng phương pháp này không đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí của đơn vị khi

các tình huống quy mơ sản xuất, quy trình cơng nghệ, chất lượng dịch vụ, sản phẩm

khác nhau; có sự cạnh tranh về giá trong việc tìm kiếm thị trường dẫn đến chi phí

đơn vị kết quả từng mặt hàng sẽ khơng chính xác.

Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được tính theo cơng thức:

Giá thành sản phẩm =

hồn thành



chi phí



+ chi phí



NVLTT



NCTT



+



chi phí

SXC



Với quy mơ sản xuất của mỗi doanh nghiệp khác nhau thì việc lập kế hoạch

đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị cũng khác nhau

* Lập dự tốn theo phương pháp trực tiếp

Khác với phương pháp lập dự tốn theo phương pháp tồn bộ, phương pháp này

chi phí sản xuất chung chỉ liên quan đến chi phí biến đổi. Phần chi phí sản xuất chung

cố định khơng được tính vào giá thành sản phẩm hồn thành. Vì định phí sản xuất

chung là chi phí thời kỳ, nghĩa là doanh nghiệp ln phát sinh chi phí này để duy trì và

điều hành hoạt động sản xuất cho dù có sự tăng giảm sản lượng trong kỳ trong giới hạn

quy mơ nhà xưởng. Định phí sản xuất chung gần như ít thay đổi qua các năm, trước khi

có sự thay đổi quy mô đầu tư nên sẽ bất hợp lý khi tính chi phí sản xuất chung cố định

cho sản phẩm hồn thành, vì định phí này khơng gắn với hoạt động sản xuất như các

chi phí biến đổi khác. Do vậy, cơng thức tính dự tốn như sau:

Giá thành sản phẩm =

hồn thành



Chi phí

NVLTT



+



Chi phí

NCTT



+



Biến phí

SXC



Trường hợp khơng thể phân loại ngay thành biến phí và định phí thì chi phí

này sẽ được theo dõi riêng, đến cuối kỳ sẽ phân tích thành biến phí và định phí. Kế



15

tốn sẽ tổng hợp tồn bộ biến phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm. Lúc này, giá

thành đơn vị được xác định:

Giá thành đơn vị



Tổng biến phí sản xuất

=



Sản phẩm



Sản lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ



Phương pháp trực tiếp đã loại trừ được hạn chế của phương pháp tồn bộ

trong việc phân bổ các chi phí chung cho đơn vị sản phẩm, phương pháp này được

sử dụng nhiều trong KTQT như: định giá sản phẩm, lập dự toán linh hoạt, lập báo

cáo thu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ chi phí,

khối lượng và lợi nhuận, xác định sản lượng hòa vốn...Phương pháp tính giá thành

theo phương pháp trực tiếp được sử dụng rộng rãi trong các DN sản xuất.

1.3.2 Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1.3.2.1 Tập hợp chi phí sản xuất

Là phạm vi được xác định trước để tập hợp chi phí. Xác định đối tượng tập

hợp chi phí thực chất là xác định giới hạn các bộ phận chịu chi phí hoặc các đối

tượng chịu chi phí làm cơ sở cho việc tính giá thành.

Xác định đối tượng tập hợp chi phí là khâu rất quan trọng trong tồn bộ tổ

chức cơng tác KTQT chi phí và tính giá thành sản phẩm, dịch vụ. Khi xác định đối

tượng tập hợp chi phí, kế toán phải dựa trên các yếu tố sau:

- Phân cấp quản lý và yêu cầu quản lý đối với các bộ phận của tổ chức

- Quy trình cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp

- Đơn vị tính giá thành áp dụng trong doanh nghiệp

1.3.2.2 Tính giá thành trong doanh nghiệp sản xuất

Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa, phản ánh lượng

giá trị của lao động sống và lao động vật hóa đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu

thụ sản phẩm trong giá thành sản phẩm.

Một hệ thống tính giá thành rất chi tiết và cụ thể có thể cung cấp nhiều thông

tin cho nhà quản trị, nhưng lại mất nhiều thời gian và tiền bạc, nhất là các chi phí về

đào tạo. Do vậy, hệ thống tính giá thành phức tạp chỉ vận dụng khi các nhà quản trị



16

tin tưởng rằng hoạt động chung của toàn doanh nghiệp được cải thiện nhiều trên cơ

sở các thông tin được cung cấp của hệ thống tính giá thành. Hệ thống tính giá thành

cần phải được thiết kế phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại. Nó phụ

thuộc vào bản chất của ngành sản xuất, quy trình cơng nghệ, tính đa dạng của sản

phẩm, dịch vụ và yêu cầu về thông tin cho công tác quản trị. Mặt khác trong công

tác tính giá thành việc xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá

thành là một đặc tính quan trọng trong kế tốn quản trị, bởi vì khơng chỉ đơn thuần

phục vụ cho cơng tác tính giá mà còn liên quan đến cơng tác tổ chức dữ liệu và

phục vụ các nhu cầu khác của nhà quản trị.

Giá thành sản phẩm bao gồm 3 khoản mục chi phí : Chi phí nguyên vật liệu

trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Tính giá thành sản

phẩm sử dụng một trong bốn phương pháp :

+ Phương pháp tính giá thành theo cơng việc ( phương pháp giản đơn)

+ Phương pháp tính giá thành theo q trình sản xuất( phương pháp cộng

chi phí)

+ Phương pháp hệ số

+ Phương pháp loại trừ chi phí theo các sản phẩm phụ.[12,Tr196]

1.3.3 Tổ chức thông tin phục vụ kiểm sốt chi phí sản xuất kinh doanh trong

doanh nghiệp sản xuất

1.3.3.1 Xây dựng và phân tích chi chí định mức

Chi phí định mức là chi phí được tính tốn từ trước trong một số điều kiện

làm việc cụ thể. Sử dụng các chi phí định mức sẽ cho chúng ta biết kết quả hoạt

động sẽ có thể như thế nào trong những hồn cảnh nhất định. Từ đó, ta có thể xác

định được những biến động và kiểm sốt được hiệu quả hoạt động thực tế.

Để công tác định mức chi tiêu được tốt chúng ta cần nhiều kênh thông tin

khác nhau, cụ thể như sau:

+ Tiêu chuẩn kỹ thuật (kỹ thuật cung cấp).

+ Chi phí thực tế nhiều kỳ (kế tốn cung cấp).

+ Dự tốn chi phí (kế toán cung cấp).



17

Doanh nghiệp cần định mức cả về giá lẫn về lượng vì sự biến đổi của hai yếu

tố này đều tác động đến sự thay đổi của chi phí:

Định mức giá: định mức giá được ước lượng bằng cách tổng cộng tất cả các

khoản chi phí liên quan đến việc mua hàng hay nguyên vật liệu (đối với định mức

giá nguyên vật liệu) hay lương và các chi phí liên quan (đối với định mức chi phí

lao động hay còn gọi là định mức lương).

Định mức lượng: Để xây dựng và thực hiện hệ thống định mức lượng,

doanh nghiệp cần phải quyết định:

+ Số lượng, chủng loại và thành phần kết hợp các nguyên vật liệu để tạo ra

từng loại sản phẩm.

+ Lượng và loại lao động để sản xuất bất kỳ một sản phẩm hay thực hiện một

dịch vụ nào đó.

1.3.3.2 Cơng tác kiểm sốt chi phí

Kiểm sốt chi phí là hoạt động thiết yếu cho bất kỳ doanh nghiệp nào. Hiểu

được các loại chi phí, các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí, chúng ta có thể kiểm sốt

được chi phí, từ đó có thể tiết kiệm chi phí, vấn đề chi tiêu sẽ hiệu quả hơn, và sau

cùng là tăng lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp. Đối với nhà quản lý thì các chi

phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh

hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra. Do đó, kiểm sốt chi phí là vấn đề quan

trọng và mang tính sống còn đối với doanh nghiệp.

Đối với nhà quản lý, để kiểm sốt được chi phí phát sinh hàng ngày, điều

quan trọng là phải nhận diện ra các loại chi phí, đặc biệt là nhà quản lý nên nhận

dạng những chi phí kiểm sốt được để đề ra biện pháp kiểm sốt chi phí thích hợp

và nên bỏ qua những chi phí khơng thuộc phạm vi kiểm sốt của mình nếu khơng

việc kiểm sốt sẽ khơng mang lại hiệu quả so với cơng sức, thời gian bỏ ra.

Chi phí cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ln có những biến động nhất

định trong từng thời kỳ. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý

chi phí là xem xét, lựa chọn cơ cấu chi phí sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất.

Doanh nghiệp cần phân tích biến động của một số loại chi phí sau:



18

* Phân tích các biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là một loại biến phí, khi chi phí nguyên vật

liệu thực tế khác với định mức chi phí ngun vật liệu thì ta gọi mức chênh lệch đó

là biến động chi phí ngun vật liệu. Sự biến động này gồm biến động lượng sử

dụng và biến động giá nguyên vật liệu.

Trong thực tế, sự biến động giá phụ thuộc vào cả nguyên nhân khách quan

(quan hệ cung cầu thay đổi trên thị trường, sự thay đổi chính sách của Nhà nước,…)

và nguyên nhân chủ quan (chọn chất lượng hàng mua, phương pháp tính trị giá

nguyên liệu xuất kho,…). Biến động về lượng nguyên vật liệu sử dụng phụ thuộc

vào trình độ quản lý nguyên vật liệu, tay nghề của công nhân trực tiếp sản xuất, tình

trạng hoạt động của máy móc thiết bị, điều kiện nơi sản xuất, …

Sự phân tích các biến động nói trên phải được tiến hành càng sớm càng tốt,

nhằm phát hiện kịp thời những bất hợp lý để điều chỉnh nhằm tìm ra nguyên nhân

và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chi phí nguyên vật liệu.

*Phân tích các biến động chi phí lao động trực tiếp:

Chi phí lao động trực tiếp là một loại biến phí, vì vậy việc phân tích các biến

động của nó cũng dùng mơ hình chung về phân tích biến động biến phí. Biến động

chi phí lao động trực tiếp có thể chi tiết hóa như sau:

+ Biến động năng suất lao động.

+ Biến động thời gian nhàn rỗi (ngừng sản xuất).

+ Biến động đơn giá tiền lương.

Biến động năng suất phụ thuộc vào công nhân phải mất thời gian sản xuất

nhiều hay ít hơn so với định mức. Nhà quản lý cần đặc biệt quan tâm về biến động

năng suất bất lợi, và xác định rõ người chịu trách nhiệm và lý do vì sao thời gian

sản xuất lại kéo dài. Năng suất lao động tăng hay giảm có thể thường do ảnh hưởng

của các nguyên nhân:

+ Sự thay đổi cơ cấu lao động;

+ Năng suất lao động cá biệt;

+ Tình trạng hoạt động của máy móc thiết bị;



19

+ Chất lượng của nguyên liệu được sử dụng;

+ Các biện pháp quản lý sản xuất;

+ Chính sách trả lương cho cơng nhân,….

Biến động thời gian nhàn rỗi hay còn gọi là biến động chi phí thời gian xảy

ra khi thời gian cơng nhân khơng có cơng việc để làm lâu hơn so với dự kiến.

Biến động lương xảy ra khi doanh nghiệp phải trả lương thực tế cho công nhân cao

hơn hoặc thấp hơn so với dự kiến. Đơn giá tiền lương tăng do nhiều nguyên nhân,

có thể tổng hợp thành hai nguyên nhân:

+ Do đơn giá tiền lương của các bậc thợ tăng lên;

+ Sự thay đổi về cơ cấu lao động. Tiền lương tăng lên khi cơ cấu lao động

thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nhân bậc cao và giảm tỷ trọng cơng nhân

bậc thấp tính trên tổng số giờ lao động được sử dụng.

* Phân tích biến động của chi phí sản xuất chung:

Chi phí sản xuất chung là một loại chi phí khá phức tạp, bởi nó là một chi phí

gián tiếp với nhiều loại chi phí khác nhau về tính chất và được tính vào giá thành

các sản phẩm thông qua sự phân bổ, vì vậy sẽ khơng có một mơ hình duy nhất về

phương pháp để phân tích chung cho các doanh nghiệp. Thơng thường phân tích

biến động chi phí sản xuất chung được thực hiện như sau:

+ Phân tích biến động chi phí sản xuất chung khả biến: Theo mơ hình phân

tích biến phí đã trình bày ở trên, thì sự tăng giảm chi phí sản xuất chung khả biến so

giữa thực tế và định mức (hay dự tốn) có thể chia thành hai loại biến động: Biến

động giá và biến động năng suất. Mặc khác, do chi phí sản xuất chung có nhiều

khoản mục nên doanh nghiệp cần lập một bảng tính tốn tổng hợp các biến động và

xem đó là báo cáo thực hiện chi phí sản xuất chung khả biến.

+ Phân tích biến động chi phí sản xuất chung bất biến: đặc điểm cơ bản của chi

phí bất biến là không thay đổi cùng với những thay đổi của các mức độ hoạt động. Do

vậy, khi phân tích chi phí sản xuất chung bất biến cần lưu ý một số điểm sau:

Mọi sự chia nhỏ định phí đều có bản chất giả tạo vì chúng khơng phụ thuộc vào

mức hoạt động.



20

Xây dựng đơn giá phân bổ định phí sản xuất chung là cần thiết cho q trình

tính tốn biến động nhưng khơng có giá trị đối với việc kiểm sốt chi phí đặt trong

mối quan hệ với mức hoạt động.

Vì những lý do này nên biến động chi phí sản xuất chung bất biến thường

được biểu hiện dưới dạng vật chất thay vì tiền tệ. Sự thể hiện các biến động dưới

hình thái vật chất sẽ cung cấp cho nhà quản lý một cách rõ ràng và cụ thể hơn

nguyên nhân biến động, từ đó sẽ có biện pháp kiểm sốt biến động hữu hiệu hơn.

Ngồi ra, để có thể kiểm sốt các loại chi phí khác, nhà quản lý còn có thể tiến hành

phân tích sự biến động của chi phí hàng tồn kho, chi phí bán hàng và chi phí quản lý

doanh nghiệp, ….

1.3.4 Phân tích thơng tin chi phí phục vụ việc quản lý và ra quyết định

1.3.4.1 Phân tích chi phí theo các trung tâm chi phí

Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong tổ chức, nơi mà nhà quản trị bộ

phận chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của bộ phận mình. Theo đó, căn cứ vào

cơ cấu tổ chức và mức độ phân cấp quản lý của doanh nghiệp mà có hệ thống các

trung tâm trách nhiệm tương ứng. Các trung tâm trách nhiệm tạo thành một hệ

thống thang bậc trách nhiệm từ cấp lãnh đạo thấp nhất đến cấp lãnh đạo cao nhất.

Trung tâm cung ứng: Chịu trách nhiệm về chi phí đầu vào của tổ chức. Trách

nhiệm tài chính của trung tâm này là kiểm soát và báo cáo về chi phí như tình hình

cung ứng ngun vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, chi phí vận chuyển, bốc dỡ...

Khi báo báo sẽ phản ánh số liệu thực tế và số liệu dự tốn để phân tích các biến động

của chi phí nhằm đánh giá mức độ hồn thành kế hoạch, sự cố gắng trong việc tiết

kiệm các yếu tố đầu vào. Qua đó dự đốn được xu hướng biến động của giá, tình hình

cung ứng vật tư giúp doanh nghiệp chủ động trong sản xuất, tiết kiệm chi phí.

Trung tâm sản xuất: trong DNSX thì trung tâm này bao gồm chi phi

NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC. Vì bao gồm nhiều chi phí và khá phức tạp nên

báo cáo kết quả của trung tâm sản xuất phải được thiết lập theo từng công đoạn sản

xuất, từng phân xưởng sản xuất để tiện theo dõi và để kiểm sốt chi phí gắn với

trách nhiệm quản lý của từng bộ phận.



21

Trung tâm tiêu thụ: báo cáo về chi phí bán hàng của từng bộ phận tiêu thụ

sản phẩm

Trung tâm quản lý: báo cáo về chi phí quản lý DN, kiểm sốt chi phí của

từng phòng ban chức năng thuộc bộ phận quản lý doanh nghiệp

Trung tâm lợi nhuận: Một trung tâm trách nhiệm được gọi là trung tâm lợi

nhuận khi người quản lý chịu trách nhiệm cho cả chi phí (đầu ra) và doanh thu (đầu

vào) và chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào chính là lợi nhuận. Các trung tâm lợi

nhuận không chỉ là các công ty chuyên về phân phối trong một tập đoàn hoặc các

cửa hàng bán lẻ.

1.3.4.2 Phân tích mối quan hệ Chi phí – Sản lượng – Lợi nhuận(CVP)

Ngày nay, kế tốn quản trị đã trở thành một nội dung quan trọng và cần thiết

cho các nhà quản trị doanh nghiệp, trong đó phân tích mối quan hệ giữa chi phí –

khối lượng – lợi nhuận đã tỏ ra là một công cụ hữu ích hỗ trợ cho nhà quản trị khi

chọn lọc thơng tin phù hợp trong q trình ra quyết định.

Việc phân tích thơng qua mơ hình CVP khơng chỉ giúp việc lựa chọn dây

chuyền sản xuất, định giá bán sản phẩm, xây dựng chiến lược tiêu thụ, chiến lược

marketing nhằm khai thác có hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà

còn giúp ích nhiều cho việc xem xét rủi ro của doanh nghiệp. Kế toán quản trị chi

phí phân tích những biến đổi của chi phí thơng qua xem xét mối quan hệ chi phí khối lượng - lợi nhuận để có thể hiểu và nắm rõ về những biến động của chi phí,

cung cấp thơng tin hữu ích cho nhà quản trị ra quyết định.

Nội dung của phân tích CVP có thể tóm tắt như sau :

- Phân tích điểm hòa vốn

Phân tích hòa vốn là khởi điểm của phân tích mối quan hệ chi phí - sản lượng

- lợi nhuận. Điểm hòa vốn là điểm về sản lượng tiêu thụ (hoặc doanh số) mà tại đó

tổng doanh thu bằng tổng chi phí, nghĩa là doanh nghiệp khơng có lỗ và lãi. Mặc dù

điểm hòa vốn không phải là mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp nhưng phân tích

hòa vốn sẽ chỉ ra mức hoạt động cần thiết để doanh nghiệp có những giải pháp

nhằm đạt một doanh số mà kinh doanh không bị lỗ.



22

- Phân tích mức sản lượng cần thiết để đạt mức lợi nhuận mong muốn

- Xác định giá bán sản phẩm với mức sản lượng, chi phí và lợi nhuận mong muốn

- Phân tích ảnh hưởng của giá bán đối với lợi nhuận theo các thay đổi dự tính

về biến phí và định phí.

Với nội dung trên, phân tích CVP đòi hỏi hệ thống kế tốn phải cung cấp đầy

đủ tình hình chi phí phân theo cách ứng xử. Đây là cơ sở để kế tốn quản trị tiếp tục

việc phân tích, cung cấp thơng tin có ích nhất cho nhà quản lý ra quyết định.

Thơng thường để phân tích CVP, kế tốn quản trị thường sử dụng các cơng cụ

phân tích sau:

+ Số dư đảm phí: được hiểu là phần còn lại của doanh thu bán hàng sau khi

trừ đi biến phí. Nó được dùng để bù đắp định phí và phần còn lại sẽ tạo ra lợi nhuận

cho doanh nghiệp. Như vậy, có thể xem số dư đảm phí là một chỉ tiêu thể hiện kết

quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu định phí khơng đổi, số dư đảm phí càng cao

thì lợi nhuận càng lớn và ngược lại, còn nếu số dư đảm phí khơng đủ bù đắp định

phí thì lỗ sẽ xuất hiện.

+ Tỷ lệ số dư đảm phí: là chỉ tiêu thể hiện bằng số tương đối quan hệ tỷ lệ

giữa tổng số dư đảm phí với doanh thu, hoặc giữa phần đóng góp với giá bán.

(1) Tổng SDĐP = Tổng doanh thu – Tổng biến phí.

(2) SDĐP đơn vị = Giá bán – Biến phí đơn vị.



SDĐP đơn vị

Tổng SDĐP

hoặc

Tổng doanh thu

Giá bán

Tổng số dư đảm phí cho biết số dư đảm phí thu được tương ứng với tổng số

(3)Tỷ lệ SDĐP =



lượng sản phẩm tiêu thụ.

Số dư đảm phí đơn vị cho biết số dư đảm phí thu được từ việc tiêu thụ 1 đơn

vị sản phẩm.

Tỷ lệ số dư đảm phí cho biết, cứ trong 1 đồng doanh thu, doanh nghiệp có

được bao nhiêu đồng số dư đảm phí

Như vậy, để đem lại lợi nhuận thì tổng chi phí của doanh nghiệp phải nhỏ

hơn tổng doanh thu. Một khi đã kinh doanh, doanh nghiệp phải phát sinh các định

phí nhất định bất kể mức tiêu thụ tại doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh vì thế



23

trước hết phải xem xét doanh thu có bù đắp biến phí, tạo ra mức lợi nhuận để tiếp

tục bù đắp định phí hay khơng. Vấn đề này đặt các nhà quản trị quan tâm đến cả giá

bán, số lượng hàng bán trong mục tiêu chung về lợi nhuận của doanh nghiệp. Một

quyết định về giá bán của một sản phẩm có thể tạo ra lỗ cho kinh doanh sản phẩm

đó, nhưng có thể lại kích thích tiêu thụ một sản phẩm khác của doanh nghiệp. Cho

nên, phân tích mối quan hệ chi phí - sản lượng - lợi nhuận để ra quyết định phải đặt

trong bối cảnh cụ thể tại doanh nghiệp, lấy mục tiêu của doanh nghiệp đặt hàng đầu.

Nhưng DN cũng hay gặp khó khăn trước sự biến động của những thông tin phức

tạp liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, cần có một phương pháp

khoa học tổng hợp, phân tích và báo cáo ngắn gọn, nhanh chóng những thơng tin

cần thiết đảm bảo cho việc ra các quyết định của nhà quản trị chính xác hơn, đó

chính là phương pháp phân tích thơng tin chi phí thích hợp cho việc ra quyết định

kinh doanh.

1.3.4.3 Phân tích thơng tin chi phí để lựa chọn thơng tin thích hợp cho các quyết

định kinh doanh.

Để phục vụ cho việc ra quyết định, người quản lý cần thiết phải tập hợp và

phân tích nhiều dạng thơng tin khác nhau, trong đó thơng tin cung cấp bởi kế tốn

quản trị, đặc biệt là thơng tin về chi phí đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vấn đề đặt

ra ở đây là các thông tin này phải được xử lý bằng các phương pháp phù hợp như

thế nào để phục vụ có hiệu quả nhất cho việc ra các quyết định của người quản lý.

Như vậy, cách tiếp cận cơ bản về thơng tin kế tốn quản trị chi phí phục vụ cho việc

ra quyết định ngắn hạn tại doanh nghiệp là nhận diện và thu thập các loại chi phí.

- Các chi phí cơ bản được xem xét xoay quanh bốn vấn đề sau:

+ Những chi phí nào thuộc về quyết định đang xem xét? (chi phí có ảnh

hưởng).

+ Doanh nghiệp phải từ bỏ gì nếu chọn giải pháp này thay vì chọn giải pháp

khác (chi phí cơ hội – chọn phương án tối ưu nhất).

+ Những chi phí đi kèm với phương án được chọn sẽ như thế nào? (chi phí

biến đổi? chi phí cố định?).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x