Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

7

- Chi phí nhân cơng trực tiếp là tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích

theo lương của cơng nhân trực tiếp sản xuất.

- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí cần thiết khác để sản xuất sản phẩm

ngồi 2 loại chi phí trên. Chi phí sản xuất chung chủ yếu bao gồm 3 loại chi phí là

chi phí NVL gián tiếp, chi phí lao động gián tiếp và các chi phí khác.

+ Chi phí ngồi sản xuất

Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp còn phải thực

hiện một số khoản chi phí ở khâu ngồi sản xuất được gọi là chi phí ngồi sản xuất.

- Chi phí bán hàng và tiếp thị bao gồm tồn bộ những chi phí cần thiết để đẩy

mạnh q trình lưu thơng hàng hóa và đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay người

tiêu dùng.

- Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm những khoản chi phí liên quan tới việc

tổ chức hành chính và các hoạt động văn phòng làm việc của doanh nghiệp.

1.2.2 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Cách “ứng xử” của chi phí là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phí

tương ứng với các mức độ hoạt động đạt được. Mục đích của cách phân loại chi phí

này trong kế tốn quản trị là cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm

tra và chủ động điều tiết chi phí cho phù hợp. Nghĩa là, căn cứ vào các thông tin do

kế toán quản trị cung cấp, các nhà quản trị sẽ thấy được sự biến động của chi phí có

phù hợp với sự biến động của mức độ hoạt động và từ đó có các biện pháp hữu hiệu

nhằm quản lý tốt các chi phí.

+ Biến phí

Biến phí (chi phí biến đổi): Là tập hợp loại chi phí mà lượng tiêu hao của chúng tỷ

lệ thuận với sự biến đổi sản lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sản xuất, mua vào

hoặc bán ra trong kì như: chi phí ngun vật liệu, chi phí nhân cơng, chi phí sản

xuất chung. Chi phí khả biến khơng thay đổi khi tính cho một đơn vị sản phẩm,

cơng việc.

Trong q trình sản xuất, có nhiều loại chi phí khác nhau, để xác định xem

đó có phải là chi phí biến đổi hay khơng chúng ta phải dựa vào tính chất về lượng



8

tiêu hao của nó, bởi vì biến phí được cấu thành từ hai yếu tố cơ bản là lượng tiêu

hao và mức giá đầu vào. Về mặt giá trị thì biến phí có thể khơng hồn tồn tỷ lệ

thuận với sự biến đổi của sản lượng một mặt hàng nào đó. Chẳng hạn, bộ phận sản

xuất tăng sản lượng sản phẩm thì mức tiêu hao nguyên, vật liệu sẽ tăng tỷ lệ thuận

với sản lượng, nhưng do khối lượng nguyên, vật liệu mua vào nhiều nên giá mua

của nguyên, vật liệu có thể giảm xuống do được hưởng chiết khấu, giảm giá. vì vậy,

chi phí ngun vật liệu trực tiếp có thể khơng tăng tỷ lệ thuận với sản lượng sản

phẩm sản xuất.

Khi tính tốn mức hao phí của biến phí cho 1 đơn vị sản lượng thì nó có tính

chất ổn định, vì vậy, biến phí là loại chi phí có thể xây dựng được định mức tiêu hao

cho từng đơn vị sản lượng của mặt hàng kinh doanh.

+ Định phí

Định phí (chi phí cố định): Là tập hợp các loại chi phí mà mức tiêu hao của

chúng khơng phụ thuộc sản lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ sản xuất hoặc bán ra

trong kỳ. Bao gồm : chi phí tài sản cố định, cơng cụ dụng cụ, chi phí tạo mơi trường

làm việc (điện thắp sáng, chạy các thiết bị vệ sinh cơng nghiệp...), chi phí cho nhân

viên phân xưởng, chi phí hành chính của phân xưởng, lãi vay…

Định phí là những khoản chi phí khơng biến đổi khi mức độ hoạt động thay

đổi. Định phí chỉ giữ nguyên trong phạm vi phù hợp của doanh nghiệp. Phạm vi phù

hợp là phạm vi giữa khối lượng sản phẩm tối thiểu và khối lượng sản phẩm tối đa

mà doanh nghiệp dự định sản xuất.

Khi phân định một yếu tố chi tiêu cho sản xuất là định phí hay biến phí còn

phụ thuộc cách thức tính tốn khoản chi tiêu đó. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp trả

lương cho người lao động theo thời gian làm việc thì chi phí nhân cơng là định phí,

nhưng khi doanh nghiệp trả lương cho người lao động theo sản phẩm trực tiếp hoặc

gián tiếp thì nó trở thành biến phí.

+ Chi phí hỗn hợp

Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi

phí khả biến và chi phí bất biến. Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn



9

hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí

hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến. Trong các doanh nghiệp sản

xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí như: chi

phí điện thoại, chi phí bảo trì MMTB, chi phí về cơng cụ,dụng cụ dùng để sản xuất

tạo ra sản phẩm.

Ví dụ: chi phí về cơng cụ, dụng cụ để sản xuất tạo ra sản phẩm

- Là biến phí: Nếu một khn mẫu đúc sử dụng có định lượng số sản phẩm

sản xuất, vượt quá số sản phẩm này phải thay khuôn.

- Là định phí: Nếu căn cứ vào thời gian sử dụng của mộtkhuôn mẫu, khuôn

để thay mà không quan tâm đến lượng sản phẩm sản xuất của một khuôn mẫu.

Nhằm phục vụ việc lập kế hoạch, phân tích và quản lý chi phí, cần phải phân

tích các chi phí hỗn hợp thành yếu tố khả biến và yếu tố bất biến. Việc phân tích này

được thực hiện bằng một trong ba phương pháp: phương pháp cực đại, cực tiểu,

phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất.

Áp dụng kế toán quản trị dựa trên cơ sở của phương pháp phân loại chi phí

theo cách ứng xử của chi phí đối với kết quả tiêu thụ có thể sử dụng trong việc xác

định giá của sản phẩm, để lập kế hoạch sản xuất và để tính tốn đánh giá kết quả mức

độ đóng góp của từng sản phẩm trong toàn bộ kết quả chung của doanh nghiệp.

1.2.3 Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế

- Chi phí NVL: Bao gồm giá trị của nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng

thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng cho sản xuất trong kỳ báo cáo trừ nguyên vật

liệu xuất bán hoặc xuất cho xây dựng cơ bản,…

- Chi phí CCDC sản xuất là tồn bộ các cơng cụ dụng cụ chỉ phục vụ cho quá

trình sản xuất như quần áo bảo hộ lao động cho công nhân, búa…

- Chi phí nhiên liệu bao gồm nhiên liệu phục vụ cho máy móc thiết bị vận hành

- Chi phí nhân cơng Bao gồm tồn bộ chi phí phải trả cho người lao động về

tiền lương, tiền cơng, phụ cấp có tính chất lương và các khoản trích theo lương

trong kỳ báo cáo.

- Chi phí khấu hao TSCĐ Là tồn bộ các khoản trích khấu hao tài sản cố



10

định của DN dùng trong sản xuất kinh doanh kỳ báo cáo.

- Chi phí dịch vụ mua ngồi Gồm các khoản chi phí phải trả cho công ty điện

lực, điện thoại, nước, vệ sinh và các dịch vụ khác

- Chi phí bằng tiền khác Bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh khác, chưa

được phản ánh trong các chi tiêu trên đã chi bằng tiền trong kỳ báo cáo như tiếp

khách, lệ phí, hội nghị, thuê quảng cáo

Cách phân loại này chủ yếu phục vụ cho việc xây dựng dự toán chi phí cho

từng đơn đặt hàng nhằm góp phần kiểm sốt chi phí.

1.2.4 Phân loại chi phí sử dụng cho mục đích kiểm tra và ra quyết định

Nhằm mục đích phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi

phí của doanh nghiệp phải được xem xét ở nhiều khía cạnh khác. Nổi bật nhất là

việc xem xét trách nhiệm của các cấp quản lý đối với các loại chi phí phát sinh,

thêm nữa, các nhà quản lý nên nhìn nhận đúng đắn sự thích đáng của các loại chi

phí khác nhau phục vụ cho việc phân tích, so sánh để ra quyết định lựa chọn

phương án tối ưu trong các tình huống.

+ Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

- Chi phí trực tiếp đối với một đối tượng chịu chi phí là loại chi phí liên

quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí và có thể tính trực tiếp cho đối tượng đó

một cách hiệu quả ít tốn kém.[7,Tr63]

- Chi phí gián tiếp là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc phục vụ

và quản lí sản xuất - kinh doanh như chi phí phân xưởng, chi phí quản lí doanh

nghiệp. chi phí gián tiếp được tính vào giá thành sản phẩm theo phương pháp phân

bổ gián tiếp (phân bổ theo tỉ lệ với tiền lương của công nhân sản xuất chính hoặc

với chi phí trực tiếp). Chi phí gián tiếp càng chiếm tỉ lệ thấp thì hiệu quả kinh tế

càng tăng cao

+ Chi phí kiểm sốt được và chi phí khơng kiểm sốt được

Đây là một phương pháp phân loại chi phí có thể hữu ích trong việc kiểm

sốt chi phí. Phương pháp phân loại này dựa trên khả năng kiểm sốt chi phí đối với

các nhà quản lý. Nếu một nhà quản lý có thể kiểm sốt hoặc quyết định về một loại



11

chi phí, thì chi phí ấy được gọi là chi phí kiểm sốt được bởi nhà quản lý đó. Ngược

lại, chi phí mà nhà quản lý khơng có khả năng kiểm sốt hoặc gây ảnh hướng lớn

lên nó thì được phân loại là chi phí khơng kiểm sốt được đối với nhà quản lý đó.

Chẳng hạn, người quản lý bán hàng có trách nhiệm trong việc tuyển dụng

cũng như quyết định cách thức trả lương cho nhân viên bán hàng, do vậy, chi phí

tiền lương trả cho bộ phận nhân viên này là chi phí kiểm sốt được đối với bộ phận

bán hàng đó. Tương tự như vậy là các khoản tiếp khách, chi phí hoa hồng bán hàng.

Tuy nhiên, chi phí khấu hao các phương tiện kho hàng, một khoản chi phí cũng phát

sinh ở bộ phận bán hàng thì lại là chi phí khơng kiểm sốt được đối với người quản

lý bán hàng vì quyền quyết định xây dựng kho hàng cũng như quyết định cách thức

khấu hao của nó thuộc bộ phận quản lý doanh nghiệp.[7,Tr62]

+ Chi phí chênh lệch

Để có quyết định đúng đắn khi ra quyết định nhà quản lý thường phải so

sánh nhiều phương án khác nhau.Tất nhiên, sẽ phát sinh các chi phí gắn liền với

phương án đó. Các nhà quản lý thường so sánh các chi phí phát sinh trong các

phương án khác nhau để đi đến quyết định là chọn nhiều hay chọn một phương án.

Có những khoản chi phí hiện diện trong phương án này nhưng lại không hiện

diện hoặc chỉ hiện diện một phần trong phương án khác. Những chi phí này được

gọi là chi phí chênh lệch. Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương

án trên cơ sở phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là

dạng thơng tin thích hợp cho việc ra quyết định.

+ Chi phí cơ hội

Trong hoạt động kinh doanh, bất kỳ một khoản mục chi phí nào phát sinh

đều được phản ánh và theo dõi trên các sổ sách kế tốn. Tuy nhiên, có một loại chi

phí hồn tồn khơng được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng,

cần được xem xét đến mỗi khi nhà quản lý lựa chọn các phương án kinh doanh, đầu

tư. Đó là chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội được định nghĩa là lợi ích (lợi nhuận) tiềm

tàng bị mất đi khi chọn một phương án này thay vì chọn phương án khác.



12

+ Chi phí chìm

Chi phí chìm là những chi phí đã phát sinh do quyết định trong quá khứ.

Doanh nghiệp phải chịu chi phí này cho dù bất kỳ phương án nào được chọn. Vì

vậy, trong việc lựa chọn các phương án khác nhau, chi phí này khơng được đưa vào

xem xét, nó khơng thích hợp cho việc ra quyết định trong doanh nghiệp

1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH

NGHIỆP SẢN XUẤT

1.3.1 Lập dự tốn chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh

nghiệp sản xuất

1.3.1.1 Lập dự toán chi phí sản xuất

Lập dự tốn chi phí là căn cứ để đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã

dự kiến, tìm ra những nguyên nhân, nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện các

chỉ tiêu đó trên cơ sở đó có biện pháp nâng cao hiệu quả SXKD trong thời kỳ tiếp

theo. Và cũng là căn cứ để các nhà quản lý doanh nghiệp khai thác các khả năng

tiềm tàng, khă năng cạnh tranh nhằm phát huy nội lực.

Dự tốn chi phí sản xuất là dự tốn số chi phí cần cho q trình sản xuất của tồn

doanh nghiệp hoặc 1 bộ phận. Gồm:

- Dự tốn chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: phản ánh tất cả chi phí NVL trực

tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thực hiện trên dự toán khối

lượng sản phẩm sản xuất.

Để lập dự toán cần xác định:

+ Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm

+ Đơn giá xuất

nguyên vật liệu

+ Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự tốn.

Dự tốn chi phí NVL

trực tiếp



=



Dự tốn lượng NVL

sử dụng



*



Đơn giá xuất

NVL



13

Trong đó:

Dự tốn NVL sử

dụng



=



Định mức tiêu hao

NVL



*



Số lượng sản phẩm SX

theo dự toán



- Dự toán chi phí nhân cơng trực tiếp

Dự tốn này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của

lực lượng lao động cần thiết cho kỳ kế toán. Mục tiêu cơ bản của kỳ kế toán này là

duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng u cần sản xuất , tránh tình trạng

lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao động. Dự toán lao động còn là cơ sở để

doanh nghiệp lập dự tốn về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất.

- Dự tốn chi phí sản xuất chung: bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí cố định

+ Dự tốn biến phí sản xuất chung

+ Dự tốn định phí sản xuất chung

Dự tốn chi phí SXC = Dự tốn biến phí

SXC



+ Dự tốn định phí

SXC



Trong đó:

Dự tốn biến phí SXC = Dự tốn biến phí * Sản lượng sản xuất

SXC đơn vị

Dự tốn định phí SXC = Định phí SXC



theo dự tốn

* Tỷ lệ tăng (giảm) định



thực tế kỳ trước



phí SXC theo dự kiến



1.3.1.2 Lập dự tốn giá thành sản phẩm

Dự tốn chi phí sản xuất của doanh nghiệp là dự tính tồn bộ các khoản chi phí



mà doanh nghiệp phải chi ra cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong

một thời kỳ nhất định có thể nói dự tốn chi phí sản xuất là bản dự tính tồn bộ chi

tiêu của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định nên cần thiết phải có lập dự tốn

giá thành sản phẩm để góp phần kiểm sốt tốt chi phí sản xuất từ đó có thể xây

dựng giá thành sản phẩm tối ưu nhất.

Có nhiều phương pháp để lập dự toán giá thành sản phẩm nhưng luận văn chỉ

trình bày 2 phương pháp sau:

* Lập dự tốn theo phương pháp tồn bộ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x