Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hồn



theo đúng u cầu của bên đặt gia công cả về số lượng, chủng loại,

mẫu mã, thời gian. Sau khi hoàn thành quá trình gia cơng thì giao lại

thành phẩm cho bên đặt gia cơng và nhận một khoản phí gia cơng

theo thoả thuận từ trước. Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi biên

giới quốc gia gọi là gia công quốc tế. Các yếu tố sản xuất có thể đưa

vào thơng qua nhập khẩu để phục vụ q trình gia cơng. Hàng hố

sản xuất ra khơng phải để tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu

ngoại tệ chênh lệch giá phụ liệu cung cấp tiền cơng và chi phí khác

đem lại. Thực chất gia cơng xuất khẩu là hình thức xuất khẩu lao

động nhưng là lao động dưới dạng sử dụng thể hiện trong hàng hố

chứ khơng phải xuất khẩu nhân cơng ra nước ngồi.

1.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động gia công quốc tế

- Trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản

xuất.

- Mối quan hệ giữa bên đặt gia công với bên nhận gia công được xác định trong

hợp đồng gia công. Trong quan hệ hợp đồng gia công, bên nhận gia công chịu mọi chi

phí và rủi ro của q trình sản xuất gia công.

- Trong quan hệ gia công bên nhận gia cơng sẽ thu được một khoản tiền gọi là

phí gia cơng còn bên đặt gia cơng sẽ mua lại tồn bộ thành phẩm được sản xuất ra

trong q trình gia công.

- Trong hợp đồng gia công người ta quy cụ thể các điều kiện thương mại như về

thành phẩm, về nguyên liệu, về giá cả gia công, về nghiệm thu, về thanh toán, về việc

giao hàng.

- Về thực chất, gia cơng quốc tế là một hình thức xuất khẩu lao động nhưng là

lao động được sử dụng, được thể hiện trong hàng hố chứ khơng phải là xuất khẩu lao

động trực tiếp.

1.1.2 Các hình thức gia cơng quốc tế



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



7



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hồn



Có nhiều tiêu thức để phân loại gia công quốc tế như phân loại theo quyền sở

hữu ngun vật liệu trong q trình gia cơng, phân loại theo giá cả gia công hoặc theo

số bên tham gia quan hệ gia công.

* Xét về quyền sở hữu nguyên liệu

- Phương thức nhận nguyên vật liệu giao thành phẩm

Đây là phương thức sơ khai của hoạt động gia công xuất khẩu. Trong phương

thức này, bên đặt gia công giao cho bên nhận gia cơng ngun vật liệu, có khi cả các

thiết bị máy móc kỹ thuật phục vụ cho q trình gia cơng. Bên nhận gia cơng tiến hành

sản xuất gia công theo yêu cầu và giao thành phẩm, nhận phí gia cơng. Trong q trình

sản xuất gia cơng, khơng có sự chuyển đổi quyền sở hữu về ngun vật liệu. Tức là

bên đặt gia cơng vẫn có quyền sở hữu về nguyên vật liệu của mình.

Ở nước ta, hầu hết là đang áp dụng phương thức này. Do trình độ kỹ thuật máy

móc trang thiết bị của ta còn lạc hậu, chưa đủ điều kiện để cung cấp nguyên vật liệu,

thiết kế mẫu mã... nên việc phụ thuộc vào nước ngồi là điều khơng thể tránh khỏi

trong những bước đi đầu tiên của gia công xuất khẩu. Phương thức này có kiểu dạng

một vài điểm trong thực tế. Đó là bên đặt gia cơng có thể chỉ giao một phần ngun

liệu, còn lại họ giao cho phía nhận gia công tự đặt mua tại các nhà cung cấp mà họ đã

chỉ định sẵn trong hợp đồng.

- Phương thức mua đứt bán đoạn

Đây là hình thức phát triển của phương thức gia công xuất khẩu nhận nguyên liệu

và giao thành phẩm.

Ở phương thức này, bên đặt gia công dựa trên hợp đồng mua bán, bán đứt

nguyên vật liệu cho bên nhận gia công với điều kiện sau khi sản xuất bên nhận gia

cơng phải bán lại tồn bộ sản phẩm cho bên đặt gia công. Như vậy, ở phương thức này

có sự chuyển giao quyền sở hữu về ngun vật liệu từ phía đặt gia cơng sang phía

nhận gia công. Sự chuyển đổi này làm tăng quyền chủ động cho phía nhận gia cơng

trong q trình sản xuất và định giá sản phẩm gia cơng. Ngồi ra, việc tự cung cấp một



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



8



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hồn



phần ngun liệu phụ của bên nhận gia công đã làm tăng giá trị xuất khẩu trong hàng

hoá xuất khẩu, nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động gia công.

- Phương thức kết hợp

Đây là phương thức phát triển cao nhất của hoạt động gia công xuất khẩu được

áp dụng khi trình độ kỹ thuật, thiết kế mẫu mã của ta đã phát triển cao. Khi đó bên đặt

gia cơng chỉ giao mẫu mã và các thông số kỹ thuật của sản phẩm. Còn bên nhận gia

cơng tự lo ngun vật liệu, tự tổ chức q trình sản xuất gia cơng theo yêu cầu của bên

đặt gia công. Trong phương thức này, bên nhận gia cơng hầu như chủ động hồn tồn

trong q trình gia cơng sản phẩm, phát huy được lợi thế về nhân công cũng như công

nghệ sản xuất nguyên phụ liệu trong nước. Phương thức này là tiền đề cho công

nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu phát triển.

* Xét về mặt giá cả gia công

- Hợp đồng thực thi thực nhanh

Trong phương thức này người ta quy định bên nhận gia cơng thanh tốn với bên

đặt gia cơng tồn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.

Đây là phương thức gia công mà người nhận gia công được quyền chủ động trong việc

tìm các nhà cung cấp nguyên phụ liệu cho mình.

- Hợp đồng khốn

Trong phương thức này, người ta xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm,

bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Dù chi phí thực tế của bên nhận gia

cơng là bao nhiêu đi nữa, hai bên vẫn thanh toán với nhau theo giá định mức đó. Đây

là phương thức gia cơng mà bên nhận phải tính tốn một cách chi tiết các chi phí sản

xuất về ngun phụ liệu nếu khơng sẽ dẫn đến thua thiệt.

* Xét về số bên tham gia quan hệ gia công

- Gia công hai bên

Trong phương thức này, hoạt động gia công chỉ bao gồm bên đạt gia công và bên

nhận gia công. Mọi công việc liên quan đến hoạt động sản xuất đều do một nhận gia

SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



9



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hồn



cơng làm còn bên đặt gia cơng có nghĩa vụ thanh tốn tồn bộ phí gia cơng cho bên

nhận gia cơng.

- Gia cơng nhiều bên

Phương thức này còn gọi là gia cơng chuyển tiếp, trong đó bên nhận gia cơng là

một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia cơng của

đơn vị sau, còn bên đặt gia công vẫn chỉ là một. Phương thức này chỉ thích hợp với

trường hợp gia cơng mà sản phẩm gia công phải sản xuất qua nhiều công đoạn. Đây là

phương thức gia công tương đối phức tạp mà các bên nhận gia cơng cần phải có sự

phối hợp chặt chẽ với nhau thì mới bảo đảm được tiến độ mà các bên đã thoả thuận

trong hợp đồng gia công.

1.1.3 Khái niệm và chức năng của đơn đặt hàng

1.1.3.1 Khái niệm đơn đặt hàng

Đặt hàng là gì ?

Theo Võ Hữu Tửu (2007): “Đặt hàng là một thuật ngữ kinh

doanh, là lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người

mua được đưa ra dưới hình thức đặt hàng. Trong đặt hàng, người

mua nêu cụ thể về hàng hóa định mua và tất cả những nội dung cần

thiết cho việc ký kết hợp đồng. Thực tế, người ta chỉ đặt hàng với

các khách hàng có quan hệ thường xuyên. Nội dung của đơn đặt

hàng chỉ bao gồm: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng, thời

gian giao hàng... Về những điều kiện khác, hai bên sẽ áp dụng điều

kiện chung đã thỏa thuận với nhau hoặc theo những điều kiện hợp

đồng đã ký kết trong lần giao dịch trước đó”.

Các hình thức đặt hàng

- Đặt hàng trực tiếp: Hình thức đặt hàng lúc này có thể biểu hiện qua hành động,

lời nói. Đặt hàng có thể có đơn đặt hàng hoặc khơng, có đặt cọc tiền hoặc khơng có đặt

cọc tiền tùy theo thỏa thuận giữa hai bên.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



10



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hoàn



- Đặt hàng gián tiếp, bao gồm các hình thức:

+ Đặt hàng qua thư

+ Đặt hàng qua điện thoại

+ Đặt hàng qua mạng (mail và các hình thức trực tuyến khác)

Đơn đặt hàng (đơn hàng) là gì?

Theo Donald W. Dobler và David N. Burt (1996): “Đơn đặt hàng

là một bằng chứng thương mại và là lời đề nghị chính thức được đặt

ra giữa người bán và người mua. Trong đó thể hiện những đặc điểm,

quy định về loại hàng hóa, số lượng, giá cả của sản phẩm và dịch vụ.

Nó được dùng để kiểm sốt việc mua hàng từ những nhà cung cấp

bên ngoài”.

1.1.3.2 Chức năng của đơn đặt hàng

- Đơn đặt hàng cho phép người bán và người mua xác lập mối

quan hệ một cách rõ ràng và dứt khoát trong quan hệ mua – bán.

- Đơn đặt hàng dùng để bảo vệ người bán trong trường hợp người

mua khơng thanh tốn tiền hàng.

- Đơn đặt hàng giúp cho doanh nghiệp sắp xếp, quản lý tốt các

đơn hàng mới cũng như các đơn hàng chờ xử lý.

- Đơn đặt hàng là cơ sở để các tổ chức tín dụng và cho vay

thương mại cung cấp hỗ trợ cho doanh nghiệp.

1.1.4 Quản lý đơn hàng

1.1.4.1 Khái niệm quản lý đơn hàng

Theo Trần Thanh Hương (2015):“Quản lý đơn hàng là sự quản trị

tồn bộ q trình kinh doanh đơn hàng liên quan đến chủng loại

hàng hóa hay loại hình dịch vụ nào đó, từ khi bắt đầu thiết lập đơn



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



11



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hoàn



hàng đến khâu hoàn tất sao cho đảm bảo yêu cầu về giá cả, chất

lượng, số lượng, thời gian giao hàng mà hai bên đã cam kết”.

Nhiệm vụ chung trên được kết hợp thực hiện bởi bộ phận kinh

doanh, bộ phận quản lý đơn hàng và bộ phận sản xuất. Tuy nhiên

theo từng quy mô của từng công ty mà bộ phận quản lý đơn hàng có

thể tách riêng với bộ phận kinh doanh hay kiêm luôn chức năng của

bộ phận này để triển khai thực hiện toàn bộ đơn hàng một cách hoàn

chỉnh. Họ cũng chịu trách nhiệm chính về doanh thu và sự tộn tại

của công ty.

1.1.4.2 Quản lý đơn hàng ngành may

Đơn hàng ngành may là những hợp đồng sản xuất sản phẩm

may cụ thể: suit, áo khoác, quần, váy, trang phục thể thao, trang

phục lót…

Quản lý đơn hàng ngành may là chuỗi cơng tác thực hiện thơng

qua q trình làm việc với khách hàng bắt đầu từ giai đoạn thương

mại, phát triển mẫu sản phẩm, tìm kiếm nguỗn cung cấp nguyên

phụ liệu, triển khai và kiểm sốt tồn bộ đơn hàng cho đến khi hoàn

thành sản phẩm theo đúng yêu cầu về chất lượng, số lượng và đúng

thời gian giao hàng đã kí trên hợp đồng.

1.1.5 Chức năng và nhiệm vụ của bộ phận quản lý đơn hàng

1.1.5.1 Chức năng của bộ phận quản lý đơn hàng

- Là những người chịu trách nhiệm chính, là cầu nối giữa khách

hàng - cơng ty, bộ phận - bộ phận để có thể tiếp nhận, xử lý, chuyển

giao và truyền đạt thông tin từ phía khách hàng, nhà cung cấp và

các bộ phận có liên quan một cách nhanh chóng, chính xác, đảm bảo

sản xuất luôn được tiến hành một cách liên tục, tránh sự trì hỗn.

- Duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và tối ưu hóa lợi nhuận

thu được.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



12



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hoàn



- Tạo thuận lợi cho các bộ phận khác sắp xếp, bố trí cơng việc,

triển khai và hồn thành đơn hàng ở mức độ tốt nhất

- Tạo dựng mối quan hệ và làm hài lòng các yêu cầu của khách

hàng

- Xây dựng hình ảnh, uy tín cho cơng ty.

1.1.5.2 Nhiệm vụ của bộ phận quản lý đơn hàng

- Làm hài lòng mọi tiêu chí đánh giá nhà



máy từ phía khách



hàng

- Thực hiện phát triển sản phẩm và chào giá

- Liên lạc chặt chẽ với khách hàng để đáp ứng mọi yêu cầu và

đạt được thỏa thuận cho mọi vấn đề

- Thực hiện ký kết hợp đồng kinh doanh

- Tính tốn và lập các báo cáo về chi phí, doanh thu, bồi thường

sai phạm về chất lượng và thông tin đầy đủ với bộ phận tài chính

- Liên tục cập nhật mọi thông tin về đơn hàng cho các bộ phận

có liên quan

- Đảm bảo nguồn đơn hàng, nguồn cung cấp nguyên phụ liệu đầy

đủ cho quá trình sản xuất được liên tục

- Lập kế hoạch cho việc triển khai thực hiện đơn hàng đúng với

tiêu chuẩn chất lượng và tiêu chí đã cam kết

- Giám sát, giải quyết, báo cáo mọi vấn đề liên quan đến quá trình

thực hiện đơn hàng

- Kiểm soát tiến độ sản xuất, dự phòng các giải pháp cần thiết

- Triển khai kế hoạch giao hàng đúng hạn

- Giải quyết các khiếu nại nếu có sau khi giao hàng

SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



13



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hồn



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



14



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hồn



1.1.6 Các hình thức quản lý đơn hàng

1.1.6.1 Hình thức quản lý trực tuyến

Là hình thức quản lý chia theo từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm sẽ chịu

trách nhiệm quản lý một số đơn hàng của những khách hàng nhất

định. Đứng đầu nhóm là nhóm trưởng sẽ thực hiện theo dõi, giám sát

công tác quản lý đơn hàng của các thành viên trong nhóm, giải

quyết các vấn đề phát sinh xảy ra trong quá trình sản xuất mà các

thành viên trong nhóm khơng thể tự giải quyết được.

1.1.6.2 Hình thức quản lý theo chức năng

Là hình thức phân chia nhân sự theo từng nhóm cơng tác chun

mơn khác nhau. Các bộ phận chức năng được phân chia theo tính chất

của tổ chức. Các nhân viên được phân chia nhiệm vụ trong các bộ phận

chức năng theo lĩnh vực chuyên sâu mà họ am hiểu.

- Bộ phận phát triển mẫu: Phát triển các loại sản phẩm may cho

đến khi được khách hàng chấp nhận

- Bộ phận thu mua: Tìm kiếm nhà cung cấp nguyên phụ liệu, đặt

mua nguyên phụ liệu cho đơn hàng, theo dõi tiến độ giao hàng, đảm

bảo kế hoạch vào chuyền cho nhà máy.

- Bộ phận kế hoạch: Lập kế hoạch sản xuất cho các đơn hàng,

cập nhật báo cáo năng suất, báo cáo tiến độ. Theo dõi định mức tiêu

hao nguyên phụ liệu, cân đối nguyên phụ liệu, chuẩn bị bảng màu,

tài liệu kĩ thuật cho sản xuất.

1.1.6.3 Hình thức quản lý theo sản phẩm

Là hình thức tổ chức theo nhóm chun trách từ khâu phát triển,

thu mua, kế hoạch sản xuất của một vài chủng loại sản phẩm có

kiểu dáng, kết cấu, quy trình cơng nghệ gần giống nhau. Theo hình



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



15



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hoàn



thức này, bộ phận quản lý đơn hàng sẽ chia theo nhóm sản phẩm,

mỗi nhóm sẽ quản lý theo các nhóm sản phẩm khác nhau.

1.1.6.4 Hình thức quản lý theo địa lý

Là hình thức quản lý đơn hàng mà bộ phận phụ trách sản phẩm

có trách nhiệm hoạt động trên nhiều thị trường khác nhau về sản

phẩm đó. Bộ phận quản lý đơn hàng sẽ phân chia khách hàng theo

từng khu vực địa lý để quản lý. Mỗi khách hàng ở các khu vực địa lý

khác nhau sẽ có những u cầu về sản phẩm khác nhau. Vì vậy,

quản lý đơn hàng theo khu vực sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt

những nhu cầu về khách hàng về sản phẩm cần sản xuất.

1.1.7 Đặc điểm quản lý đơn hàng ngành may

- Tính thích nghi và thay đổi: chịu ảnh hưởng trực tiếp từ xu

hướng thời trang của từng mùa, từng đối tượng khách hàng, đối

tượng người tiêu dùng, từng khu vực địa lý mà tính chất đơn hàng sẽ

liên tục thay đổi về thành phần vải, màu sắc, kiểu dáng, phụ liệu

trang trí theo kèm, quy cách may, quy cách đóng gói v.v. Cho nên đòi

hỏi người nhân viên quản lý đơn hàng phải có khả năng nắm bắt,

thích nghi và thay đổi liên tục để đáp ứng u cầu cơng việc.

- Tính vận động cao: khác với đặc trưng của nhân viên văn phòng

nói chung, người nhân viên quản lý đơn hàng cần thường xuyên di

chuyển để có sự tiếp cận, giám sát thực tiễn nhằm nắm bắt tình

hình, hiểu rõ nguyên nhân của mọi phát sinh liên quan đến nguyên

phụ liệu và sản xuất để có hướng giải quyết kịp thời. Với những sự cố

ngoài tầm kiểm sốt và khơng thể giải quyết nội bộ thì bắt buộc phải

báo cáo lại với khách hàng để được sự đồng ý chính thức, khơng gây

ảnh hưởng đến việc xuất hàng về sau.

- Tính phụ thuộc: đăc thù của ngành dệt may nước ta là hoạt

động theo hình thức gia cơng cho khách hàng nước ngồi, lệ thuộc

SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



16



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Phan Thanh Hoàn



vào nguồn cung cấp nguyên phụ liệu, vào sự chỉ định của khách

hàng. Do đó, trong quá trình thực hiện đơn hàng, đặc biệt là những

khách hàng khó tính, đòi hỏi phải tn thủ tuyệt đối mọi yêu cầu của

khách hàng về chủng loại, chất liệu, nguyên liệu sử dụng, nguồn

cung cấp, tiêu chuẩn kỹ thuật, phương thức giao hàng v.v.

1.1.8 Quy trình thực hiện đơn hàng ngành may

Quá trình quản lý đơn hàng bao gồm rất nhiều cơng việc khác

nhau. Mỗi doanh nghiệp lại có một quy trình phù hợp với thực tế

riêng. Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, các doanh nghiệp cũng có

chung quy trình sau:



SVTH: Nguyễn Thị Thu Thảo – K46A Thương Mại



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×