Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đất nông nghiệp có xu hướng tăng nhẹ 1,50% trong giai đoạn 2005 – 2010, đến giai đoạn 2010 – 2016 thì diện tích đất nông nghiệp cũng có xu hướng tăng 84,71 ha (0,72%). Nguyên nhân là do việc chuyển mục đích sử dụng từ đất khác và đất mặt nước là chủ yếu.

Đất nông nghiệp có xu hướng tăng nhẹ 1,50% trong giai đoạn 2005 – 2010, đến giai đoạn 2010 – 2016 thì diện tích đất nông nghiệp cũng có xu hướng tăng 84,71 ha (0,72%). Nguyên nhân là do việc chuyển mục đích sử dụng từ đất khác và đất mặt nước là chủ yếu.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 4.31. Ma trận biến động diện tích các loại hình sử dụng đất giai đoạn

2005- 2016 sau hiệu chỉnh

(Đơn vị: ha)

Lớp

phủ

đất

khác



Lớp

phủ

mặt

nước



Lớp phủ

đất nông

nghiệp



Lớp phủ đất khác



628,40



515,28



394,37



957,74



2495,79



Lớp phủ mặt nước



30,78



223,56



1299,22



105,59



1659,15



Lớp phủ đất nơng nghiệp



0



400,42



9399,37



1777,81



11577,60



Lớp phủ nhân tạo



0



0



0



6048,99



6048,99



Diện tích năm 2010



659,11



1139,28



11772,96



8890,13



21781,53



Loại hình



Lớp phủ

Diện tích

nhân

năm 2005

tạo



(Nguồn: Phân tích và xử lí số liệu)

Bảng 4.32. Thống kê tổng diện tích các loại hình biến động hai năm 2005 và

2016 sau khi chồng lớp và hiệu chỉnh

(Đơn vị: ha)

Năm

2005



Năm

2016



Lớp phủ đất khác



2495,79



Lớp phủ mặt nước



Loại hình



Tăng (+)

Giảm (-)

Diện tích

(ha)



Tỷ lệ (%)



659,18



-1836,61



-73,58



1659,15



1139,28



-519,87



-31,30



Lớp phủ đất nơng nghiệp



11577,6



11772,96



195,36



1,70



Lớp phủ nhân tạo



6048,99



8890,13



2841,14



46,96



(Nguồn: Phân tích và xử lí số liệu)

Để thấy được sự biến động của các loại hình lớp phủ ta sử dụng ma trận

Markov nhằm thấy được xác suất biến động của các loại hình lớp phủ.



86



Để có được ma trận này ta lấy diện tích của loại hình sử dụng đất tại thời

điểm năm 2005 chuyển sang loại hình sử dụng đất tại thời điểm 2016 chia cho

tổng diện tích của loại hình sử dụng đất tại thời điểm năm 2005 đó.

Ví dụ: Xác suất sự thay đổi của lớp phủ nhân tạo chuyển sang lớp phủ nhân tạo

= Diện tích lớp phủ nhân tạo còn lại/ Tổng diện tích lớp phủ nhân tạo năm 2005.

Xác suất sự thay đổi của lớp phủ nhân tạo chuyển sang đất khác = Diện tích

lớp phủ nhân tạo chuyển sang đất khác /Tổng diện tích lớp phủ nhân tạo năm

2005. Tương tự, ta được kết quả như Bảng 4.30.

Bảng 4.33. Ma trận về xác suất của sự thay đổi xác định từ việc chồng ghép bản

đồ hiện sử dụng đất giai đoạn 2005-2016.

Lớp phủ Lớp phủ Lớp phủ Lớp phủ

Loại hình

đất khác

mặt

đất nơng nhân tạo

nước

nghiệp

Lớp phủ đất khác

0,25178 0,20646 0,158014 0,383742

4

Lớp phủ mặt nước

0,01855 0,13474 0,783064 0,063641

1

4

Lớp phủ đất nơng nghiệp 0

0,03458 0,811858 0,153556

6

Lớp phủ nhân tạo

0

0

0

1



87



(Nguồn: Phân tích và xử lí số liệu)

Dựa trên ma trận trên ta thấy rõ diện tích các loại hình sử dụng đất từ năm

2005 đến năm 2016 biến động không lớn lắm nhưng cũng có thay đổi cụ thể:

- Lớp phủ nhân tạo được giữ nguyên 100% tương ứng với 6048,99 ha.

- Đất khác giữ lại phần lớn 628,4 ha (25,17 %) và lần lượt chuyển sang tất

cả các loại hình khác cụ thể: lớp phủ nhân tạo 38,4% (957,74 ha), đất nông

nghiệp 15,80% (394,37 ha) và đất mặt nước 515,28 ha (20,60%).



Hình 4.23. Biến động đất khác chuyển sang đất nơng nghiệp



Hình 4.24. Biến động đất khác chuyển qua xây dựng khu cơng nghiệp Điện

Nam – Điện Ngọc



88



Hình 4.25. Biến động đất khác chuyển sang đất mặt nước

- Đất nông nghiệp chuyển sang lớp phủ nhân tạo 15,30% (1777,81 ha),

chuyển sang đất mặt nước 3,50% (400,42 ha) và giữ lại phần lớn 9399,37 ha

(81,20%).



Hình 4.26. Biến động đất nơng nghiệp chuyển sang lớp phủ nhân tạo



Hình 4.27. Biến động đất nơng nghiệp chuyển sang đất mặt nước

- Đất mặt nước giữ lại 13,47% (khoảng 223,56 ha), còn lại 86,53% chuyển

sang các loại hình khác cụ thể: 30,78 ha (1,80%) sang đất khác; 78,30% (khoảng

1299,22 ha) sang đất nông nghiệp và nhiều nhất là 105,59 ha (6,30%) sang lớp

phủ nhân tạo.



89



Hình 4.28. Biến động đất mặt nước chuyển sang lớp phủ nhân tạo



Hình 4.29. Biến động đất mặt nước chuyển sang đất nơng nghiệp



Hình 4.30. Biến động đất mặt nước chuyển sang đất khác

Kết quả của sự biến động về diện tích của các loại hình sử dụng đất giai

đoạn 2005-2016 cho thấy diện tích lớp phủ nhân tạo tăng mạnh khoảng 46,96%

(2841,14 ha). Nguyên nhân tăng chủ yếu gồm:

- Do các địa phương đã đẩy mạnh việc giao đất để xây dựng nhà ở, xây

dựng cơ sở sản xuất kinh doanh hay phát triển cụm công nghiệp, khu công



90



nghiệp,... hay công tác quy hoạch, mở rộng, nâng cấp hệ thống đường giao

thơng do hệ thống hạ tầng đơ thị còn q mỏng.

- Hơn nữa đây là giai đoạn thị xã Điện Bàn tập trung thực hiện quá trình

cải cách kinh tế - xã hội giai đoạn 2005-2010 và chuẩn bị trở thành thị xã vào

năm 2015, nên đã triển khai và phát triển thành cơng loại hình kinh tế cơng

nghiệp mũi nhọn.

Sự biến động này do ảnh hưởng quá trình gia tăng nhu cầu đất ở do biến

động dân số của khu vực, năm 2005 tổng số dân trung bình của Điện Bàn là

189.795 người trong khi đó năm 2016 dân số khu vực này đạt 207.563 người,

tăng 17.768 người [2].

- Cho đến năm 2016 với lí do hiệu quả kinh tế thu được từ việc sản xuất

kinh doanh lớn gấp nhiều lần so với các loại hình kinh tế khác trên cùng một

diện tích đất có điều kiện để phát triển lớp phủ nhân tạo hơn.

(Đơn vị: ha)



Biểu đồ 4.8. Biểu đồ thống kê tổng diện tích các loại hình biến động

giai đoạn 2005-2016 sau khi chồng lớp và hiệu chỉnh

Điều này phản ánh định hướng phát triển kinh tế của vùng: Ưu tiên nông

nghiệp, phi nông nghiệp đi đôi với việc quan tâm đến đời sống người dân. Để

đạt được mục tiêu trên, diện tích đất khác đã thu hẹp đáng kể, giảm đến 73,58%

(1836,61 ha) đất khác hiện có năm 2005, đất khác năm 2016 chỉ còn lại 659,18

ha, loại hình này đã được quy hoạch, bố trí lại theo hướng sử dụng hợp lý, hiệu

quả và tiết kiệm nguồn tài nguyên đất đai hơn. Bên cạnh đó, việc di canh di cư

đến nhiều nơi cũng là một trong những nguyên nhân làm thu hẹp diện tích các

loại hình. Đất nơng nghiệp có xu hướng tăng nhẹ với 11772,96 ha vào năm

2016. Đất mặt nước giảm mạnh 31,30% chỉ còn 519,87 ha vào năm 2016 chủ



91



yếu chuyển sang lớp phủ nhân tạo và đất nơng nghiệp, ngồi ra còn do tác động

của tự nhiên trong thời gian dài thì đất mặt nước đã chuyển thành đất khác.

4.5.4. Khai thác và sử dụng

- Dữ liệu viễn thám với đặc điểm đa thời gian, xử lí ngắn và phủ trùm khu

vực là một công cụ hữu hiệu cho việc theo dõi biến động hiện trạng lớp phủ bề

mặt.

- Các ảnh vệ tinh Landsat TM5 và Landsat 8 OLI có độ phân giải trung

bình 30m × 30m đã được sử dụng trong chương trình điều tra đánh giá theo dõi

diễn biến động lớp phủ bề mặt trong giai đoạn 1989 – 2010. Những năm trở về

sau nguồn ảnh sử dụng là các ảnh SPOT có độ phân giải cao. Điều này chứng

minh công nghệ viễn thám ngày càng được sử dụng nhiều và tỏ ra hiệu quả

trong đánh giá biến động đất nông nghiệp.

- Theo dõi sự biến động lớp phủ bề mặt thị xã Điện Bàn bằng công nghệ

viễn thám đã chỉ ra được biến động rất rõ ràng theo thời gian. Sau khi phân loại

xong ảnh vệ tinh gồm 4 lớp đối tượng gồm đất khác, đất nông nghiệp, lớp phủ

nhân tạo và đất mặt nước với độ chính xác tương đối thì ta tiến hành đánh giá

biến động từng đối tượng.

- Có thể khẳng định việc sử dụng ảnh vệ tinh tích hợp GIS để thành lập

bản đồ biến động đất nông nghiệp là rất cần thiết, nhằm theo dõi sự biến động

của lớp phủ hay các loại đất trên địa bàn thị xã Điện Bàn và đáp ứng dược yêu

cầu ngày càng cao của công tác quản lí đất đai hiện nay.

PHẦN 5.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Qua quá trình nghiên cứu nhận thấy rằng:

- Hiện nay có khá nhiều phương pháp thành lập bản đồ hiện trạng lớp phủ

mặt đất nhưng việc ứng dụng công nghệ viễn thám trong nghiên cứu biến động

lớp phủ mặt đất là phương pháp đem lại hiệu quả cao, rút ngắn thời gian, tiết

kiệm công sức, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay.

- Độ chính xác của việc theo dõi biến động lớp phủ mặt đất ở thị xã Điện

Bàn phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp phân loại trên ảnh vệ tinh.

+ Phương pháp phân loại là cơ sở quan trọng quyết định độ chính xác của

các kết quả phân tích biến động lớp phủ mặt đất. Phương pháp phân loại thống

kê theo thuật toán Maximum Likelihood thường dẫn đến sự lẫn phổ, mất thông

tin và các loại hình sử dụng đất bị phân chia manh mún nên khó khăn cho việc



92



theo dõi và quản lý. Nhược điểm rất lớn trong phương pháp phân loại thống kê

đó là sự phân loại lẫn các đối tượng như: lớp phủ nhân tạo và đất khác, đất nông

nghiệp (vườn tạp) với lớp phủ nhân tạo. Do bản chất bức xạ của các pixel đất

khác và các pixel chứa các đối tượng nhà cửa rất giống nhau nên việc tách rời

chúng trên dữ liệu viễn thám rất khó khăn.

+ Phương pháp phân loại định hướng đối tượng với sự hỗ trợ của phần

mềm eCognition Developer có thể khắc phục được những khó khăn của phương

pháp phân loại thống kê. Kết quả phân loại phù hợp với quan sát bằng mắt

thường. Sau khi thực hiện segment với khoảng cách scale parameter là 5 đối với

ảnh Landsat 8 OLI, scale parameter đối với ảnh Landsat TM5 là 5 và tiến hành

phân loại thì diện tích các loại hình sử dụng đất được phân loại theo phương

pháp định hướng đối tượng so với số liệu thống kê thu được có sự hợp lý hơn so

với phương pháp phân loại thống kê và giúp nâng cao độ chính xác của kết quả

nghiên cứu.

Như vậy có thể khẳng định rằng phương pháp phân loại định hướng đối

tượng cho hiệu quả hơn phương pháp phân loại thống kê.

- Cơng nghệ GIS đóng vai trò quan trọng trong việc tích hợp thơng tin và

tính tốn biến động cho việc theo dõi biến động lớp phủ mặt đất.

- Kết quả phân loại cho thấy, thị xã Điện Bàn là nơi có sự biến động diện

tích các loại hình lớp phủ tương đối mạnh. Phần lớn diện tích đất khác (gần

73%) bị chuyển đổi thành các loại hình khác trong tổng số diện tích của các loại

hình sử dụng đất bị chuyển đối và chiếm khoảng 28% diện tích đất tự nhiên của

toàn huyện. Đây thể hiện việc phân bổ sử dụng đất một cách hợp lý, đáp ứng

nhu cầu về mọi mặt của q trình đơ thị hóa.

- Đưa ra được bản đồ biến động và bảng ma trận biến động các loại hình

lớp phủ bề mặt các giai đoạn 2005 – 2010; 2010 – 2016; 2005 – 2016 với tỷ lệ

1:25.000 đồng thời thống kê được diện tích biến động.

- Kết quả nghiên cứu không chỉ cho thấy sự thay đổi về diện tích của các

loại hình lớp phủ mà còn cho ta thấy được cái nhìn tổng quan sự thay đổi về mặt

không gian địa lý của các đối tượng trên địa bàn nghiên cứu.

5.2. Kiến nghị

- Trong quá trình xây dựng các loại bản đồ, đặc biệt là bản đồ hiện trạng

lớp phủ và bản đồ biến động lớp phủ cần phối hợp nhiều phương pháp với nhau

để đảm bao độ chính xác và tính khách quan. Kết quả giải đoán ảnh viễn thám là

một phương pháp có thể kiểm tra mục đích sử dụng đất mà có thể khơng cần

trực tiếp đến hiện trường.



93



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đất nông nghiệp có xu hướng tăng nhẹ 1,50% trong giai đoạn 2005 – 2010, đến giai đoạn 2010 – 2016 thì diện tích đất nông nghiệp cũng có xu hướng tăng 84,71 ha (0,72%). Nguyên nhân là do việc chuyển mục đích sử dụng từ đất khác và đất mặt nước là chủ yếu.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×