Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Do sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa của tỉnh Quảng Nam nói chung và Điện Bàn nói riêng, trong giai đoạn 2005 – 2016, cơ cấu đất đai của Điện Bàn có nhiều thay đổi. Năm 2005, tỷ trọng diện tích nhóm đất nông nghiệp là 48,41%, nhóm đất phi nông

Do sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa của tỉnh Quảng Nam nói chung và Điện Bàn nói riêng, trong giai đoạn 2005 – 2016, cơ cấu đất đai của Điện Bàn có nhiều thay đổi. Năm 2005, tỷ trọng diện tích nhóm đất nông nghiệp là 48,41%, nhóm đất phi nông

Tải bản đầy đủ - 0trang

(Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Điện Bàn)



47



Theo xu hướng phát triển kinh tế xã hội, q trình đơ thị hóa ở Điện Bàn

trong những năm vừa qua diễn biến với tốc độ khá cao là 1,62% giai đoạn 2005

– 2016. Năm 2005, tồn thị xã chỉ có 1 thị trấn thì đến năm 2016 đã có thêm 6

phường bao gồm: Điện An, Điện Dương, Điện Nam Bắc, Điện Nam Đơng, Điện

Nam Trung, Điện Ngọc. Năm 2005, diện tích đất đơ thị là 31,72 ha tương ứng

với 1,08% thì đến năm 2016 là 1683,4 ha.

Số liệu ở Bảng 4.3 và Biểu đồ 4.3 cho thấy sự biến động đất đai ở Điện

Bàn trong những năm vừa qua là tương đối lớn và không đều.



Biểu đồ 4.4. Biến động diện tích đất đai tại thị xã Điện Bàn giai đoạn 20052016

4.3.2.1. Đất nông nghiệp



Biểu đồ 4.5. Sự biến động quỹ đất nông nghiệp tại thị xã Điện Bàn giai đoạn 2005 –

2016



48



Trong giai đoạn 2005 – 2016 đất nông nghiệp nhìn chung tăng 618,07 ha.

Trong đó có một số loại đất biến động mạnh về diện tích: đất sản xuất nông

nghiệp tăng 678,77 ha, đất nông nghiệp khác tăng 162,51 ha và ngoài ra đất lâm

nghiệp giảm 256,11 ha. Giai đoạn 2005 – 2013 có xu hướng giảm 328,08 ha cho

đến năm 2015 thì đất nơng nghiệp tăng mạnh với 1695,09 ha. Nhìn chung trong

giai đoạn 2005 – 2016 đất nơng nghiệp có xu hướng tăng với 618,12 ha. Mặc dù

đang thực hiện q trình đơ thị hóa nhưng diện tích đất nơng nghiệp vẫn có xu

hướng tăng nhằm đảm bảo an ninh lương thực của vùng.

4.3.2.2. Đất phi nông nghiệp:

Từ năm 2005 đến năm 2016, diện tích đất phi nơng nghiệp của thị xã tăng

thêm 1720,49 ha; bình qn mỗi năm tăng 2,15%; nguyên nhân chủ yếu là do

đất xây dựng, đất giao thông, đất ở tăng mạnh, chủ yếu các loại này do đất khác

và các nguồn đất canh tác khác chuyển sang.



Biểu đồ 4.6. Biến động quỹ đất phi nông nghiệp tại thị xã Điện Bàn

giai đoạn 2005 - 2016

Từ đó ta có nhận xét:

- Do nhu cầu về việc xây dựng nhà ở của các người dân của các thị xã

khác về đây làm việc tại các công ty của các khu công nghiệp trên địa bàn.

- Chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng được đảm bảo, đòi hỏi

các cơng trình phúc lợi dành cho họ phải được đảm bảo, tác động đến phi nông

nghiệp cụ thể là quỹ đất dành cho các công trình có mục đích cơng cộng.

- Trong giai đoạn này, Điện Bàn đang bước vào thời kì đơ thị hố mạnh

mẽ, bắt buộc phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các hoạt đông sản xuất,

dịch vụ công nghiệp, kéo theo đó làm biến động quỹ đất phi nơng nghiệp.



49



4.3.2.3. Đất chưa sử dụng

Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2016 diện tích đất chưa sử dụng

trên địa bàn giảm từ 3051,83 ha xuống còn 785,25 ha. Nguyên nhân chủ yếu ở

đây là do chuyển đổi từ đất chưa sử dụng sang đất nông nghiệp và cả đất phi

nông nghiệp, phục vụ cho nhiều hoạt động và nhiều lĩnh vực khác nhau được thể

hiện cụ thể qua Bảng 4.3 và Biểu đồ 4.7 sau.



Biểu đồ 4.7. Biến động quỹ đất chưa sử dụng tại thị xã Điện Bàn giai đoạn 2005 –

2016

Qua phân tích biến động về quỹ đất của thị xã cho thấy cơ cấu đất đai của

thị xã có sự thay đổi đáng kể trong giai đoạn 2005 – 2016. Nhóm đất nơng

nghiệp và đất phi nơng nghiệp có xu hướng tăng lên còn nhóm đất chưa sử dụng

thì giảm mạnh. Đặc biệt là nhóm đất giao thông, đất xây dựng tăng mạnh hơn

cả. Việc phát triển các khu công nghiệp tập trung là nguyên nhân cơ bản dẫn đến

hiện tượng này. Sự hình thành của các khu công nghiệp tập trung là nhân tố quan

trọng làm hạt nhân kích thích q trình đơ thị hóa. Do đó việc phân bổ đất chưa

sử dụng và đất nông nghiệp đáng kể để xây dựng khu công nghiệp tập trung là

điều cần thiết và có thể thực hiện được.

4.3.3. Biến động dân số ở thị xã Điện Bàn

Dân số thị xã Điện Bàn hiện nay là 208.440 người, trong đó dân số đơ thị

là 81.882 người, chiếm 39,28% tổng số dân (Biểu đồ 4.1).



50



Lao động có thay đổi đáng kể. Năm 2005, tổng số lao động là 106.683

người, trong đó lao động nơng nghiệp là 67.524 người, chiếm 63,29% tổng số

lao động, lao động công nghiệp là 23.698 người, chiếm 22,21% tổng số lao

động, lao động dịch vụ là 15.461 người, chiếm 14,5% tổng số lao động. Đến

năm 2016, lao động nông nghiệp giảm xuống 41.598 người, chỉ chiếm 20,5%

tổng số lao động, lao động công nghiệp, dịch vụ tăng lên lần lượt là 27.572

người và 33.668 người, chiếm tương ứng 40,6% và 38,9% tổng số lao động [2].

Nguyên nhân của sự thay đổi lớn trên là vì trong những năm gần đây có một bộ

phận lao động nông nghiệp đã chuyển sang làm công nhân trong khu công

nghiệp, làm ngành nghề, dịch vụ hoặc các hoạt động khác khiến cho tỉ trọng lao

động nhóm này tăng nhanh. Đây là một xu hướng chuyển biến tốt đối đặc biệt

trong thời buổi cơ giới hóa nơng nghiệp như hiện nay.

4.3.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tại thị xã Điện Bàn

Cơ cấu kinh tế của thị xã Điện Bàn chiu tác động của nhiều yếu tố, đặc

biệt là q trình đơ thị hóa. Có thể nói, cơ cấu kinh tế của Điện Bàn vừa là

nguyên nhân, vừa là kết quả của q trình đơ thị hóa. Vì vậy phân tích cơ cấu

kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể thấy rõ ảnh hưởng của đơ thị hóa

trên nhiều mặt.

Từ năm 2005, thị xã Điện Bàn đã đặt trọng tâm phát triển kinh tế vào khu

vực Công nghiệp – Xây dựng với chủ lực là Khu công nghiệp Điện Nam – Điện

Ngọc, các sản phẩm chính là nhóm ngành cơng nghiệp chế biến, may mặc, da

giày…. Khu vực dịch vụ (chủ yếu là các ngành dịch vụ ăn uống giải khát, du

lịch,...) của thị xã chỉ phát triển ở trung tâm phường Vĩnh Điện và một ít trung

tâm xã lớn. Trong những năm 2005 – 2016, cơ cấu ngành kinh tế ở Điện Bàn

chuyên dịch theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa: từ cơ cấu nông nghiệp:

17,2%; công nghiệp – xây dựng: 61,5% và dịch vụ: 21,3% vào năm 2005 đã

dịch chuyển mạnh sang cơ cấu công nghiệp – xây dựng, nông nghiệp, dịch vụ

tương ứng là 79,77% (+ 18,27%) ; 13,68% (- 3,52%) và 6,55% (- 14,75%) năm

2016 [2,19]. Điều này cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện

theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng của ngành CN-TTCN và giảm dần tỷ

trọng giá trị ngành nông nghiệp. Về thực chất, sự biến đổi về tỷ trọng các ngành

là do sự tác động trực tiếp của q trình đơ thị hóa. Chính q trình đơ thị hóa đã

làm cho tốc độ phát triển của các nhàng công nghiệp tăng nhanh chóng. Và như

vậy có thể nói q trình đơ thị hóa ở Điện Bàn cũng diễn ra với tốc độ khá.



51



Xu hướng chuyển dịch theo hướng công nghiệp - xây dựng, nơng nghiệp,

dịch vụ là dấu hiệu điển hình của nền kinh tế trong thời kì cơng nghiệp hóa. Quá

trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong 11 năm vừa qua có sự chuyển biến tích

cực, song nhìn chung, vẫn còn nặng về nơng nghiệp biểu hiện chưa xứng với va

trò của một địa bàn trọng điểm số 1 của tỉnh Quảng Nam.

Nhịp độ tăng trưởng trong giai đoạn 2005 – 2016 với tốc độ khá khoảng

19,2%, mức thu nhập bình quân đầu người của thị xã khoảng 38,9 triệu

đồng/năm, cao hơn so với toàn tỉnh là 24,8 triệu đồng/năm [2,19].

4.3.5. Đánh giá chung

Trong những năm 2005 – 2016, tốc độ đơ thị hóa ở Điện Bàn ngày càng

cao kéo theo sự biến động về nhiều yếu tố như đất đai, dân số, cơ cấu kinh tế và

chất lượng cuộc sống.

Về đất đai: mở rộng đô thị là yếu tố cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát

triển kinh tế xã hội. Việc mở rộng này đã kéo theo sự biến động rất nhiều về các

loại đất như đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng trong địa

bàn thị xã Điện Bàn.

Về dân số: việc phát triển các khu công nghiệp, khu phố mới, các ngành

dịch vụ,... trong q trình đơ thị hóa đã kéo theo sự biến động lớn về dân số.

Dân số đô thị có tốc độ tăng cao hơn so với nơng thôn.

Về cơ cấu ngành kinh tế: trong những năm gần đây, tốc độ đơ thị hóa của

Điện Bàn đã có tác động tích cực đến giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất

làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp – nông nghiệp –

dịch vụ.

Về văn hóa – xã hội: trong những năm gần đây đời sống của nhân dân thị

xã Điện Bàn đã có những bước tiến rõ rệt. Giá trị sản xuất bình quân đầu người

của thị xã là 38,9 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo từ 17,16% năm 2005,

giảm còn 3,46% vào cuối năm 2016. Nhà ở dân cư nhìn chung cũng được nâng

cấp, kiến trúc tốt, đảm bảo an tồn. Hiện nay, thị xã Điện Bàn đã có tất cả các

cấp phổ cập, cơ sở vật chất của trường được nâng cấp, số trường học có học sinh

phải học ca ba khơng còn. 100% số xã có trạm y tế. Các cơ sở y tế cũng được

nâng cấp, cải tạo và tăng cường trang thiết bị, đáp ứng được nhu cầu khám chữa

bệnh cho nhân dân [2,19].



52



4.4. Đánh giá biến động lớp phủ bề mặt tại Thị xã Điện bàn, tỉnh Quảng

Nam

4.4.1. Quy trình xây dựng bản đồ biến động lớp phủ bề mặt tại Thị xã Điện

Bàn, tỉnh Quảng Nam



Hình 4.2. Quy trình thành lập bản đồ biến động bằng viễn thám



53



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Do sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa của tỉnh Quảng Nam nói chung và Điện Bàn nói riêng, trong giai đoạn 2005 – 2016, cơ cấu đất đai của Điện Bàn có nhiều thay đổi. Năm 2005, tỷ trọng diện tích nhóm đất nông nghiệp là 48,41%, nhóm đất phi nông

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×