Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo Nguyễn Kim Lợi, nnk...,(2009), hệ thống thông tin địa lý được định nghĩa như là một hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu ra liên quan về mặt địa lý không gian, nhằm hỗ trợ việc thu nhận, lưu trữ,

Theo Nguyễn Kim Lợi, nnk...,(2009), hệ thống thông tin địa lý được định nghĩa như là một hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu ra liên quan về mặt địa lý không gian, nhằm hỗ trợ việc thu nhận, lưu trữ,

Tải bản đầy đủ - 0trang

dụng đất và các hoạt động kinh tế - xã hội xảy ra trên mặt đất, những hoạt động

này là sự tác động trực tiếp lên bề mặt đất, chính vì vậy mà một số loại hình sử

dụng đất cũng là đối tượng của lớp phủ mặt đất, ví dụ như đất đô thị và đất nông

nghiệp. Một số loại hình sử dụng đất khác như cơng viên theo góc độ lớp phủ

bao gồm thảm cỏ, rừng cây hay các cơng trình xây dựng nhưng trên thực tế

trong hệ phân loại lớp phủ mặt đất hiện hành đều phải xét đến khía cạnh sử dụng

đất và đưa vào loại hình lớp phủ nhân tạo có thực phủ.



Hình 2.1. Sơ đồ tổng quát về lớp phủ bề mặt

(Nguồn : Hệ phân loại lớp phủ CORINE)

Thông qua việc nghiên cứu, tham khảo các hệ phân loại “Lớp phủ bề

mặt”, đồng thời phân tích đặc điểm của các đối tượng trong vùng thử nghiệm kết

hợp với khả năng thông tin của các tư liệu sử dụng, đã xây dựng hệ phân loại

một số đối tượng lớp phủ mặt đất phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được

trình bày trong bảng dưới đây :



15



Bảng 2.1. Hệ phân loại lớp phủ mặt đất tại khu vực Thị xã Điện Bàn

Cấp 1

Lớp phủ mặt nước



Cấp 2

- Hồ ao, sông suối, kênh mương

- Vùng chuyên canh lúa, lúa màu



Lớp phủ đất nông nghiệp



- Vùng chuyên canh rau màu, cây ngắn ngày

khác

- Đất trồng cây lâu năm

- Khu dân cư đô thị



Lớp phủ nhân tạo



- Khu dân cư nông thôn

- Khu công nghiệp + đất xây dựng



- Đất chưa sử dụng: đất đồi núi chưa sử dụng,

Lớp phủ mặt đất khác đất cồn, cát ven biển, ven sông, đất bằng chưa sử

dụng,...

2.1.1.6. Biến động lớp phủ

Biến động lớp phủ (land cover change) chỉ sự thay đổi của lớp phủ bao

gồm hai loại chủ yếu: biến đổi về loại lớp phủ (land cover conversion) và biến

đổi bên trong bản thân một loại lớp phủ (land cover modification). Land cover

conversion là sự thay thế toàn bộ lớp phủ này bằng loại lớp phủ khác như nông

nghiệp chuyển thành đô thị, đất trống chuyển thành rừng. Đây là những biến đổi

lớn rất dễ dàng nhận biết. Ngược lại, Land cover modification là loại biến đổi

tinh tế, khó nhận biết hơn, chỉ làm thay đổi về tính chất mà khơng thay đổi về

loại lớp phủ, ví dụ như sự thay đổi về sinh khối, mật độ cây, tán rừng, sự phát

triển của cây lúa ở các thời kỳ khác nhau. Trong luận án này tác giả đề xuất sử

dụng thuận ngữ “biến động về loại lớp phủ” để chỉ “land cover conversion” và

“biến động về trạng thái lớp phủ” chỉ “land cover modification” [6].

2.1.2. Tổng quan về GIS

GIS có 4 chức năng cơ bản cụ thể như sau:

- Thu thập dữ liệu: dữ liệu sử dụng trong GIS đến từ nhiều nguồn khác

nhau và GIS cung cấp công cụ để tích hợp dữ liệu thành một định dạng chung để

so sánh và phân tích;

- Quản lý dữ liệu: sau khi dữ liêu được thu thập và tích hợp, GIS cung cấp

các chức năng lưu trữ và duy trì dữ liệu;

- Phân tích khơng gian: là chức năng quan trọng nhất của GIS nó cung cấp

các chức năng như nội suy không gian, tạo vùng đệm, chồng lớp;



16



- Hiển thị kết quả: GIS có nhiều cách hiển thị thơng tin khác nhau.

Phương pháp truyền thống bằng bảng biểu và đồ thị được bổ sung với bản đồ và

ảnh ba chiều. Hiển thị trực quan là một trong những khả năng đáng chú ý nhất

của GIS, cho phép người sử dụng tương tác hữu hiệu với dữ liệu. (Nguyễn Kim

Lợi, Lê Cảnh Định, Trần Thống Nhất, 2009).

2.1.3. Tổng quan về viễn thám

Trong viễn thám, nguyên tắc hoạt động của nó liên quan giữa sóng điện từ

từ nguồn phát và vật thể quan tâm.

Nguồn phát năng lượng (A) - yêu cầu đầu tiên cho viễn thám là có nguồn

năng lượng phát xạ để cung cấp năng lượng điện từ tới đối tượng quan tâm.

Sóng điện từ và khí quyển (B) - khi năng lượng truyền từ nguồn phát đến

đối tượng, nó sẽ đi vào và tương tác với khí quyển mà nó đi qua. Sự tương tác

này có thể xảy ra lần thứ 2 khi năng lượng truyền từ đối tượng tới bộ cảm biến.

Sự tương tác với đối tượng (C) - một khi năng lượng gặp đối tượng sau

khi xuyên qua khí quyển, nó tương tác với đối tượng. Phụ thuộc vào đặc tính của

đối tượng và sóng điện từ mà năng lượng phản xạ hay bức xạ của đối tượng có

sự khác nhau.



Hình 2.2. Nguyên lý hoạt động của viễn thám

Việc ghi năng lượng của bộ cảm biến (D) - sau khi năng lượng bị tán xạ

hoặc phát xạ từ đối tượng, một bộ cảm biến để thu nhận và ghi lại sóng điện từ.

Sự truyền tải, nhận và xử lý (E) - năng lượng được ghi nhận bởi bộ cảm

biến phải được truyền tải đến một trạm thu nhận và xử lý. Năng lượng được

truyền đi thường ở dạng điện. Trạm thu nhận sẽ xử lý năng lượng này để tạo ra

ảnh dưới dạng hardcopy hoặc là số.



17



Sự giải đoán và phân tích (F) - ảnh được xử lý ở trạm thu nhận sẽ được

giải đoán trực quan hoặc được phân loại bằng máy để tách thông tin về đối

tượng.

Ứng dụng (G) - đây là thành phần cuối cùng trong qui trình xử lý của

cơng nghệ viễn thám. Thơng tin sau khi được tách ra từ ảnh có thể được ứng

dụng để hiểu tốt hơn về đối tượng, khám phá một vài thông tin mới hoặc hỗ trợ

cho việc giải quyết một vấn đề cụ thể. (Trần Thống Nhất, Nguyễn Kim Lợi,

2009).

2.1.4. Tổng quan về đơ thị hóa

2.1.4.1. Vai trò của đơ thị hố

- Đơ thị hóa làm thay đổi cơ cấu lao động trong các khu vực kinh tế. Cơ

cấu lao động trong xã hội thường được phân theo 3 khu vực: i, Khu vực I, khu

vực kinh tế nông, lâm, thủy sản thuộc địa bàn nông thôn. Trong q trình đơ thị

hóa khu vực này giảm dần; ii, Khu vực II, khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ

cơng nghiệp. Trong q trình đơ thị hóa, khu vực này phát triển không ngừng về

số lượng và chất lượng. Sự phát triển của nó mang tính quyết định trong q

trình đơ thị hóa; iii, Khu vực III, khu vực dịch vụ, quản lý và nghiên cứu khoa

học. Khu vực này phát triển cùng với sự phát triển của đô thị, nó góp phần nâng

cao chất lượng trình độ đơ thị hóa.

Tóm lại, ba khu vực lao động trên biến đổi theo hướng giảm khu vực I,

phát triển số lượng và chất lượng ở khu vực II, III nhằm thỏa mãn nhu cầu sản

xuất ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng cao của cuộc sống.

- Đô thị hóa làm số dân sống trong đơ thị ngày càng tăng. Đây là yếu tố

đặc trưng nhất của quá trình đơ thị hóa. Dân cư sống trong khu vực nơng thôn sẽ

chuyển thành dân cư sống trong đô thị, lao động chuyển từ hình thức lao động

khu vực I sang khu vực II, III, cơ cấu lao động chuyển từ lao động nông nghiệp

sang lao động công nghiệp, dịch vụ.

- Đơ thị hóa gắn liền với việc hình thành và phát triển các khu công

nghiệp, làm thay đổi cục diện sản xuất, phương thức sản xuất.

- Đơ thị hóa tạo ra hệ thống không gian đô thị. Cùng với sự phát triển các

trung tâm đô thị, các khu dân cư với nhiều loại quy mô đã tạo thành các vành đai

đô thị, các chùm đô thị và các vành đai, các chùm đô thị này đều phát triển.

- Đô thị hóa góp phần phát triển trình độ văn minh của quốc gia nói chung

và văn minh đơ thị nói riêng. Đơ thị hóa phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các

cơ sở văn hóa, giáo dục, phát triển sự giao lưu trong nước và nước ngồi. Đơ thị

là điều kiện để tiếp nhận nền văn minh thì từ bên ngoài và phát triển nền văn

minh trong nước [21].



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo Nguyễn Kim Lợi, nnk...,(2009), hệ thống thông tin địa lý được định nghĩa như là một hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu ra liên quan về mặt địa lý không gian, nhằm hỗ trợ việc thu nhận, lưu trữ,

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×