Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
h. Tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn

h. Tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn

Tải bản đầy đủ - 0trang

81



+Sửa đổi quy định về tín dụng ưu đãi đầu tư của Nhà nước để KTTN

mà chủ yếu là DNNVV dễ tiếp cận.

- Mở rộng và phát triển các quỹ tín dụng nhân dân ở các huyện.

Các quỹ tín dụng nhân dân ở Kon Tum có vai trò quan trọng đối với sự

hình thành và phát triển các cơ sở sản xuất nhỏ của địa phương. Đây là cơ sở

cho việc hình thành các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp qui mô nhỏ ở nông

thôn, là tiền đề cho các doanh nghiệp KTTN phát triển. Hằng năm, cần tiến

hành tổng kết và đánh giá hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân trên địa

bàn tỉnh để từ đó nhân rộng mơ hình hoạt động có hiệu quả, và có chính sách

hỗ trợ kịp thời cho các quỹ triển khai các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ

và siêu nhỏ ở các huyện, thành phố trong việc vay vốn kinh doanh.

3.2.2. Tăng cường các nguồn lực trong từng doanh nghiệp tư nhân

Tăng cường nguồn lực tài chính

Bất kỳ một DN nào cũng phải có một chiến lược tài chính rõ ràng cho

hoạt động của mình. DN phải quan tâm điều chỉnh như các tín dụng, ưu đãi

thuế... Một chiến lược tài chính có độ chính xác cao sẽ giúp DN chủ động

trong việc huy động vốn kinh doanh, đặc biệt là vốn lưu động. Khả năng

thanh toán kịp thời các chi phí phản ánh sự lành mạnh về tài chính của doanh

nghiệp. Kế hoạch thu chi đầy đủ, đúng quy định là một phần quan trọng

không thể thiếu trong chiến lược tài chính. Cần phải có một chiến lược tài

chính lâu dài, có độ chính xác cao, điều này sẽ làm cho doanh nghiệp chủ

động trong việc huy động vốn.

Nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy

Cơ cấu tổ chức sẽ xác định hệ thống và mối quan hệ giữa các cương vi

nhằm giúp cho doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển sản

xuất kinh doanh. Công tác nhân sự bao gồm phát triển nguồn lực, đào tạo,

đánh giá lực chọn, thuê mướn lao động, quan hệ với các hiệp hội chuyên



82



ngành...Công tác nhân sự lấy các chiến lược khác làm căn cứ đặc biệt là

hoạch định tổ chức.

Cần xây dựng chức năng, nhiệm vụ cho từng cương vị, từ đó đặt ra u

cầu về trình độ đào tạo, kinh nghiệm, giới tính, độ tuổi... Việc đào tạo lại, bổ

sung nghiệp vụ để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp

cần được thực hiện. Doanh nghiệp nên đề ra chiến lược thu hút lao động đặc

biệt là lao động có trình độ và tay nghề cao thơng qua các chính sách đãi ngộ,

mơi trường làm việc và cơ hội thăng tiến...

Xây dựng đạo đức kinh doanh cho doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường, các DN chỉ có thể tồn tại và phát triển bền

vững nếu nó xây dựng được cho mình một triết lý kinh doanh hợp lý. Các

doanh nghiệp phải hướng tới mục tiêu tối đa lợi nhuận nhưng không phải

bằng mọi cách, khơng thể bỏ qua hay vi phạm lợi ích của người tiêu dùng

cũng như lợi ích của cộng đồng xã hội... để đạt được lợi ích riêng của doanh

nghiệp mình.

Khi tối đa hố lợi nhuận được thực hiện song hành với tối đa hoá thoả

dụng của người tiêu dùng và tối ưu hoá phúc lợi xã hội, doanh nghiệp đã xây

dựng cho mình nền móng vững chắc để trường tồn trong môi trường cạnh

tranh khốc liệt của kinh tế thị trường.

Nâng cao trình độ cho đội ngũ quản lý doanh nghiệp

Hiện nay, mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng nếu so với trình độ

cả nước thì trình độ học vấn của người dân ở Tây nguyên còn thấp. Hầu hết

trình độ của đội ngũ quản lý trong doanh nghiệp KTTN còn hạn chế một

khoảng cách đáng kể so với các DN thuộc thành phần kinh tế khác trong tỉnh

cũng như cả nước.

Muốn nâng cao năng lực cạnh trạnh của các doanh nghiệp trên thương

trường quốc tế thì chính bản thân các giám đốc và cán bộ quản lý doanh



83



nghiệp trước hết cần tăng cường khả năng đó. Tuy nhiên, con số này còn q

ít và phát triển còn mang tính tự phát.

Trong giai đoạn hội nhập WTO hiện nay, các giám đốc và nhà quản lý

doanh nghiệp cần thiết phải nâng cao kỹ năng chuyên môn và giao dịch quốc

tế, tiếp cận các tiêu chuẩn, các thông lệ của thế giới thì mới đủ trình độ cũng

như bản lĩnh để lãnh đạo doanh nghiệp ngày một phát triển trong môi trường

cạnh tranh khốc liết không chỉ ở trong nước mà còn ở quốc tế. Muốn vậy, các

nhà doanh nghiệp cần chú trọng phát triển những kiến thức, kỹ năng chủ yếu

như sau:

- Năng lực về ngoại ngữ

Mặc dù có thể sử dụng người phiên dịch nhưng cần có ngoại ngữ tối

thiểu và nên hạn chế sự phụ thuộc hồn tồn vào phiên dịch. Đây có lẽ là một

trong những điểm đáng chú ý nhất đối với các doanh nghiệp khơng riêng ở

tỉnh mà còn ở cả nước, đặc biệt là các DN của KTTN.

- Kiến thức cơ bản về phong tục, tập quán, pháp luật, văn hoá, xã hội,

lịch sử... của nước mình và đối tác trong hoạt động kinh doanh quốc tế.

- Giao tiếp quốc tế và xử lý sự khác biệt về văn hoá trong kinh doanh.

- Thông lệ quốc tế trong lĩnh vực/ngành kinh doanh.

Từ yếu kém về trình độ học vấn đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là sự

yếu kém về tầm nhìn chiến lược trong phát triển kinh doanh của KTTN và đó

chính là một trong những ngun nhân của sự thất bại trong phát triển dài

hạn. Có doanh nghiệp hoạt động mở rộng quy mô. Các doanh nghiệp đều phải

xây dựng khả năng phát triển một cách bền vừng, nếu khơng sẽ khó trụ vững

trong cuộc cạnh tranh.

Để bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý chiến lược và tư duy chiến

lược cho đội ngũ giám đốc và cán bộ kinh doanh trong các doanh nghiệp

KTTN, cần chú trọng đặc biệt những kỹ năng: Phân tích kinh doanh, dự đoán



84



và định hướng chiến lược, lý thuyết và quản trị chiến lược, quản trị rủi ro và

tính nhạy cảm trong quản lý...

Về mặt chiến lược cạnh tranh, các doanh nghiệp ở địa phương còn rất

yếu về liên kết nhóm. Vừa cạnh tranh vừa hợp tác, hợp tác để tăng cường khả

năng cạnh tranh; nếu các doanh nghiệp chỉ thuần tuý chú ý đến mặt cạnh

tranh mà bỏ qua mặt hợp tác thì rất sai lầm. Phải biết hợp tác đi đôi với cạnh

tranh để giảm bớt căng thẳng và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp.

Tóm lại, hai yếu tố thiết yếu hình thành năng lực tổng hợp của một

doanh nhân là tố chất nghiệp chủ và năng lực quản lý nhưng trong nhiều

trường hợp, một doanh nhân có được yếu tố thứ nhất lại thiếu yếu tố thứ hai;

hoặc phát triển các yếu tố đó khơng hài hồ, khơng theo kịp sự phát triển

nhanh chóng và sự đòi hỏi khắc nghiệt của hoạt động kinh doanh với mức độ

cạnh tranh quốc tế hoá ngày càng cao.

Để phát triển các năng lực nói trên, cần có sự nổ lực của bản thân

doanh nghiệp và sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức hữu quan; nhưng sự chủ

động, tích cực phấn đấu của bản thân cần được chú trọng nâng cao những kỹ

năng cần thiết và cập nhật những kiến thức hiện đại để đủ sức bước vào nền

kinh tế tri thức. Một số kiến thức và kỹ năng có thể đã có nhưng cần được hệ

thống hố và cập nhật, trong đó, cần đặc biệt chú ý những kỹ năng hữu ích

như: Kỹ năng quản trị hiệu quả trong môi trường cạnh tranh; kỹ năng lãnh

đạo của nghiệp chủ và giám đốc DN; kỹ năng quản lý sự thay đổi; kỹ năng

thuyết trình, đàm phán, giao tiếp và quan hệ công chúng; kỹ năng quản lý thời

gian. Những kỹ năng này kết hợp với các kiến thức quản trị có hiệu quả sẽ có

tác động đối với các doanh nhân, các nghiệp chủ và các nhà quản lý DN trong

đó có doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, qua đó làm tăng khả năng

cạnh tranh của các DN.



85



Nâng cao trình độ nhân viên trong doanh nghiệp

Hầu hết các do doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân hoạt động

thiếu bài bản, chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc theo phong trào, đăng

ký kinh doanh nhiều ngành nghề không thuộc lĩnh vực hiểu biết của mình và

khơng dựa trên cơ sở khoa học nào cả... nên khơng ít doanh nghiệp bị thất bại.

Vì vậy việc nâng cao trình độ các nhà quản lý phải được đưa vào kế hoạch và

tiến hành ngay. Đầu tiên là về quản trị kinh doanh. Tuỳ theo yêu cầu của mỗi

ngành nghề mà bỗi dưỡng những năng lực khác nhau.

Đầu tư cho con người là đầu tư cho tương lai. Thật vậy, khi DN đã vượt

qua khó khăn ban đầu, doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn do chính sự tăng

trưởng quá nhanh của DN mình. Tăng trưởng quá nhanh nhưng các nguồn lực

mà quan trọng nhất là nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp nên phải đối đầu với

bài toán bất cập về quản lý con người. Do vậy phải đặt con người làm mục

tiêu hàng đầu và thành cơng của DN cũng chính là thành cơng của mỗi người

nhân viên. Tạo điều kiện cho họ phấn đấu, hoàn thiện, phát triển bản thân.

Chủ doanh nghiệp phải coi việc học tập nâng cao trình độ của nhân

viên là cơng việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình. Việc

hỗ trợ đúng người, đúng việc sẽ khuyến khích nhân viên tích cực học tập và

tạo ra sự gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Bên cạnh việc gửi đi học, doanh

nghiệp cần phải thường xuyên bổ túc nghiệp vụ tại chỗ. Nó giúp cho người

lao động nắm bắt và áp dụng ngay kiến thức nghiệp vụ vào công việc hàng

ngày. Tuỳ theo mức độ đào tạo mà doanh nghiệp đề ra yêu cầu đối với người

đạo tạo, đặc biệt là thời gian tối thiểu làm việc cho doanh nghiệp.

Với một chiến lược kinh doanh đúng, doanh nghiệp cần có bộ máy tổ

chức quản lý khoa học để thực hiện hiệu quả nhất chiến lược đề ra. Việc hoàn

thiện bộ máy quản lý nhằm tạo ra một tổ chức năng động, hiệu quả, thích nghi

với mơi trường kinh doanh, tạo ra cơ chế nhẹ nhàng, đồng bộ trong hoạt động,



86



phát huy cao nhất tính chủ động, sáng tạo của cá nhân. Do vậy, trong mỗi thời

kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần phải điều chỉnh cơ cấu tổ chức sao cho phù

hợp.

Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và công nghệ thông tin

Đồng thời với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các

cơ quan nhà nước mà tỉnh đang thực hiện, cần có chính sách hỗ trợ và khuyến

khích các doanh nghiệp ứng dụng cơng nghệ thơng tin. Có như vậy mới giúp

các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các tiến bộ khoa học – công nghệ, nâng

cao hiệu quả các chính sách của chính quyền đối với doanh nghiệp.

Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT có các nội dung cơ

bản: Hỗ trợ tập huấn nâng cao nhận thức về ứng dụng CNTT trong quản lý

doanh nghiệp; đào tạo kỹ năng ứng dụng CNTT trong quản lý doanh nghiệp

và thương mại điện tử ( kỹ năng khai thác và sử dụng thông tin); hỗ trợ doanh

nghiệp xây dựng website quảng bá sản phẩm và thực hiện thương mại điện tử;

xây dựng mơ hình và giải pháp ứng dụng CNTT trong việc quản lý doanh

nghiệp.

Xây dựng các hình thức hỗ trợ về khoa học – cơng nghệ thích hợp đối

với các doanh nghiệp KTTN nhỏ và siêu nhỏ trên địa bàn tỉnh, đây là những

đối tượng ít nhận được các hỗ trợ về khoa học và công nghệ của tỉnh so với

các doanh nghiệp KTTN lớn, với các hoạt động như: Tổ chức các hoạt động

toạ đàm về các kỷ năng quản lý, tổ chức cho các hoạt động thành công của

các doanh nghiệp nhỏ ở các tỉnh bạn.

3.2.3. Phát triển thị trường

Tiếp tục chuyển mạnh sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, đẩy

nhanh phát triển đồng bộ các loại thị trường.

Trong khi một số thị trường thông thường tại Kon Tum như thị trường

tiêu dùng, dịch vụ viễn thông, dịch vụ ăn uống, khách sạn hoạt động tương



87



đối hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh, thì nhiều thị trường khác hợp thành

nền kinh tế thị trường chưa được hình thành như từng bước hình thành thị

trường chứng khốn, thị trường khoa học cơng nghệ, hay hình thành một cách

khơng đầy đủ như thị trường bất động sản, thị trường lao động… Trong thời

gian đến việc xây dựng đồng bộ các thị trường bộ phận ở Kon Tum, như:

+ Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng ở thành phố

Hồ Chí Minh và Hà Nội ở các thành phố lớn khác đến đặt chi nhánh tại Kon

Tum

+ Xây dựng và hoàn chỉnh thị trường đất đai, kể cả trong khu công

nghiệp, ban hành các quy định hiện hành về đất đai cần phải đổi mới để theo

kịp yêu cầu thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.

+ Nâng cao năng lực tiếp cận thị trường tiêu thụ bằng việc tổ chức các

hoạt động xúc tiến thương mại thích hợp cho các doanh nghiệp. Nhất là các

doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông – lâm - thuỷ sản, những năng

lực của các doanh nghiệp trong lình vực mà tỉnh Kon Tum có lợi thế để phát

triển doanh nghiệp KTTN, nhưng năng lực của các doanh nghiệp trong lĩnh

vực này còn rất hạn chế về khả năng tìm kiếm thị trường.

+ Xây dựng kế hoạch hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng và phát triển

thương hiệu, nhằm tạo uy tín về chất lượng sản phẩm và dịch vụ.

+ Hỗ trợ đào tạo năng lực về quản trị kinh doanh cho các chủ doanh

nghiệp, bằng các đợt tập huấn ngắn hạn về ký năng thực hành về quản trị kinh

doanh, kỷ năng về kế tốn tài chính (sử dụng phần mềm kế tốn doanh

nghiệp), kỷ năng khai thác thông tin qua internet.

Nâng cao nhận thức về phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh

doanh cho cán bộ lãnh đạo chính quyền các cấp. Đây là biện pháp hàng đầu

nhằm phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh, từ đó nâng cao khả

năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc



88



tế. Dịch vụ phát triển kinh doanh là một phần của quá trình sản xuất và nó

phải được xem là một yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp, đặc biệt các

doanh nghiệp KTTN. Nhận thức này phải được quán triệt một cách đầy đủ đối

với các cấp lãnh đạo chính quyền, các cơ quan quản lý nước, có như vậy mới

có được những chính sách hợp lý để hỗ trợ sự phát triển các dịch vụ phát triển

kinh doanh cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp KTTN nói riêng.

Giải pháp cơ bản nâng cao nhận thức về dịch vụ phát triển kinh doanh là tổ

chức các cuộc hội thảo mang tính liên ngành về các dịch vụ phát triển kinh

doanh, nhằm đánh giá thực trạng và phương hướng phát triển các dịch vụ này

trên bàn tỉnh, vừa giúp các cấp lành đạo chính quyền nâng cao nhận thức, vừa

là cơ sở để đề ra các chính sách khuyến khích sự phát triển các dịch vụ phát

triển kinh doanh.

Tỉnh cần đa dạng hoá các thành phần kinh tế tham gia cung ứng dịch vụ

phát triển kinh doanh. Cùng với việc khuyến khích thành phần kinh tế tư nhân

phát triển trên thị trường này, cần củng cố các doanh nghiệp Nhà nước cung

cấp các dịch vụ phát triển kinh doanh. Cần xây dựng một hệ thống các chính

sách khuyến khích, hỗ trợ đủ manh để khuyến khích các thành phần kinh tế

tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ phát triển kinh doanh. Cải thiện môi

trường pháp lý, xây dựng cơ sở đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các thành

phần kinh tế tham gia hoạt động.

Phát triển dịch vụ tư vấn thuế để hỗ trợ cho doanh nghiệp. Các dịch vụ

tư vấn thuế bao gồm kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế là những dịch vụ

quan trọng hàng đầu trong các loại hình dịch vụ phát triển kinh doanh hỗ trợ

sự phát triển của doanh nghiệp. Theo Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành

ngày 01/7/2007, yêu cầu doanh nghiệp phải chủ động trong tất cả các khâu kê

khai, tính thuế, nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cơ quan thuế

quản lý theo từng chức năng ở từng khâu, không theo dõi đối tượng và chỉ



89



kiểm tra theo đánh giá rủi ro, theo những tiêu thức phân tích từ cơ sở dữ liệu

của doanh nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu tự kê khai, tính thuế, nộp thuế giảm

thiểu rủi ro do bị xử lý vi phạm, đồng thời trong xu thế chun mơn hố để hạ

thấp chi phí thì các doanh nghiệp cần phải tìm đến dịch vụ tư vấn thuế để giải

quyết những yêu cầu của doanh nghiệp.

Cần phát triển đa dạng hố các loại hình đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn

thuế trên đại bàn tỉnh Kon Tum. Nhà cung cấp dịch vụ tư vấn thuế là chủ thể

quan trọng nhất trong thị trường tư vấn thuế, họ vừa trực tiếp đề ra và thực

hiện cung ứng các nội dung doanh nghiệp, vừa phát triển nhu cầu. Để phát

triển đa dạng các loại hình cung cấp dịch vụ tư vấn thuế trên địa bàn tỉnh,

ngoài các giải pháp chung mang tính vĩ mơ, còn phải có định hướng và chính

sách khuyến khích hình thành các mơ hình hoạt động và cần những giải pháp

riêng cho từng loại hình nhà cung cấp dịch vụ, như:

+ Mơ hình tổ chức chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn thuế: Đây là một tổ

chức được quyền đăng ký kinh doanh theo các loại hình như DNTN, cơng ty

TNHH, cơng ty cổ phần, công tư hợp danh, hợp tác xã… chuyên kinh doanh

dịch vụ tư vấn thuế. Điều kiện thành lập phải phù hợp với từng loại hình

doanh nghiệp.

+ Mơ hình các loại hình doanh nghiệp cung cấp đa dịch vụ trong đó có

dịch vụ tư vấn thuế. Những dịch vụ cùng kinh doanh với dịch vụ tư vấn thuế

có thể bao gồm: dịch vụ kế tốn, tư vấn tài chính, tư vấn nguồn nhân lực, tư

vấn đầu tư. Trong đó, mơ hình dịch vụ tư vấn thuế gắn với dịch vụ kế tốn sẽ

là hiệu quả nhất, vì vướng mắc về kế toán, chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng

nhu cầu cần được đáp ứng và luôn gắn với các thủ tục về thuế.

+ Mơ hình cá nhân làm dịch vụ tư vấn thuế độc lập theo mơ hình hộ cá

thể thao Luật Doanh nghiệp. Theo mơ hình này, cá nhân đăng ký kinh doanh

phải có chứng chỉ hành nghề dịch vụ tư vấn thuế, có thể kinh doanh cả 3 nội



90



dung dịch vụ tư vấn thuế, tuy nhiên khách hàng của những cá nhân này chỉ

giới hạn là hộ và cá nhân nộp thuế. Đối với cá nhân tham gia hợp đồng làm

việc trong các doanh nghiệp tư vấn là những chuyên gia tư vấn ở từng lĩnh

vực chuyên sau, khách hàng là những doanh nghiệp lớn.

3.2.4. Tăng cường liên kết doanh nghiệp

Về phía Nhà nước tăng cường vai trò của các tổ chức hiệp hội doanh

nghiệp

Theo phiếu khảo sát các doanh nghiệp tham gia hiệp hội rất ít do đó các

hiệp hội tăng cường kết nạp, mặt khác có hình thức sinh hoạt phù hợp để lơi

kéo các doanh nghiệp tư nhân tham gia nhằm một mặt giúp đỡ các doanh

nghiệp, mặt khác nắm được thông tin kịp thời hướng dẫn sản xuất.

Về phía doanh nghiệp

Chủ động nhận thức việc liên kết tăng cường sức cạnh tranh trong môi

trường hội nhập kinh tế thế giới. doanh nghiệp cần liên kết để khai thác hết

thế mạnh của mình, đồng thời tránh cạnh tranh không lành mạnh thua trên sân

nhà.

Để thực hiện tốt việc liên kết, tỉnh cần quan tâm chỉ đạo:

- Tăng cường giúp đỡ các Hội doanh nghiệp trẻ, Hội doanh nghiệp vừa

và nhỏ của tỉnh trong việc cung cấp các thơng tin cho doanh nghiệp và làm

vai trò cầu nối giữa chính quyền và doanh nghiệp. Khuyến khích các Hội

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ động tổng hợp các ý kiến đóng góp xây

dựng chính sách của các doanh nghiệp, xem đây là một kênh thông tin quan

trọng trong việc cung cấp thơng tin về chính sách của chính quyền tỉnh cho

doanh nghiệp KTTN, đồng thời các hội thay mặt doanh nghiệp tham gia cùng

chính quyền trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội

của tỉnh, cũng như các chính sách phát triển kinh tế tư nhân.



91



Cần nhấn mạnh vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

với vai trò là đơn vị làm cầu nối cho sự tương tác và trao đổi thơng tin giữa

chính quyền tỉnh và cộng đồng doanh nghiệp.

- Tăng cường vai trò của các hội doanh nghiệp trên địa bàn đối với sự

hình thành và phát triển của doanh nghiệp KTTN.

Tăng cường vai trò của hiệp hội về cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp

lý, thông tin về công nghệ và thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp

cận vốn vay. Ngoài các hiệp hội doanh nghiệp đã có, cần khuyến khích thành

lập các hội ngành nghề thuộc các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,

thương mại, nông - lâm - thuỷ sản… để từ đó có sự hỗ trợ tốt hơn cho các

doanh nghiệp trong từng lĩnh vực ngành nghề, nhất là các ngành nghề mà tỉnh

có nhiều lợi thế để phát triển các doanh nghiệp KTTN.

Tổ chức lãnh đạo các hội doanh nghiệp phải là người chuyên trách,

không nên là lãnh đạo của UBND tỉnh kiêm nhiệm như hiện nay nhằm tăng

cường hiệu quả hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp. Ngoài ra, tỉnh cần xúc

tiến hành thành lập phòng quản lý các hiệp hội nhằm giúp lãnh đạo của tỉnh

nắm bắt kịp thời các thông tin qua lại giữa doanh nghiệp và chính quyền.

3.2.5. Tăng kết quả, hiệu quả kinh doanh

Để thực hiện mục tiêu phát triển doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư

nhân thì khơng chỉ có những nổ lực của Nhà nước của Chính quyền các cấp

mà còn sự nổ lực và chủ động của bản thân các doanh nghiệp cũng phải tự nỗ

lực đổi mới và hồn thiện mình cho phù hợp với sự phát triển.

a. Xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh

Hiện tại, đa số các doanh nghiệp KTTN ở địa phương chưa xây dựng

chiến lược kinh doanh dài hạn, thậm chí có những DN chưa có mục tiêu rõ

ràng, hiện tượng “ăn xổi, ở thì” trong các DN còn phổ biến. Do đó cần xác

định mục tiêu của doanh nghiệp: Mục tiến chiến lĩnh thị trường, mục tiêu cải



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

h. Tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×