Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các bộ phận dự toán trong hệ thống dự toán

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các bộ phận dự toán trong hệ thống dự toán

Tải bản đầy đủ - 0trang

20



phí sản xuất chung để đảm bảo các yếu tố về nguyên vật liệu, nhân công, vốn… cho

sản xuất

Căn cứ vào dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất và dự tốn chi phí sản xuất lập

dự tốn chi phí quản lý doanh nghiệp để đảm bảo chi phí cho q trình quản lý

chung tồn doanh nghiệp.

Từ các dự tốn tiêu thụ, dự tốn chi phí bán hàng, dự tốn chi phí sản xuất,

dự tốn chi phí quản lý doanh nghiệp và tình hình tiền mặt tại cơng ty lên dự toán

thu chi tiền mặt để đảm bảo cân đối tình hình tiền mặt cho các hoạt động.

Từ dự tốn tiêu thụ, dự tốn chi phí sản xuất, dự tốn chi phí bán hàng, dự

tốn chi phí quản lý doanh nghiệp lên dự toán kết quả kinh doanh.

Tổng hợp từ các dự toán lên dự toán bảng tổng kết tài sản thể hiện tài sản,

nguồn vốn đảm bảo cân đối cho hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ.

b. Các dự toán ngân sách hoạt động cơ bản hằng năm của một doanh nghiệp.

Dự toán tiêu thụ.

Dự toán tiêu thụ là khởi đầu và là cơ sở cho tất cả các dự toán. Do vậy dự toán

tiêu thụ phải được lập một cách chính xác, tiên tiến và phù hợp với khả năng và

điều kiện của doanh nghiệp. Dự toán tiêu thụ có ý nghĩa rất lớn đến việc định hướng

các hoạt động, chỉ đạo điều hành quá trình sản xuất kinh doanh, tiết kiệm chi phí và

nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để lập dự toán tiêu thụ cần phải dựa trên

những yếu tố sau:

-



Tình hình tiêu thụ các kỳ kế toán trước.



-



Chu kỳ sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm.



-



Chính sách giá cả, sản phẩm, khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ.



-



Chính sách quảng cáo, khuyến mãi.



-



Xu hướng phát triển kinh tế của ngành, lĩnh vực đơn vị hoạt động.



-



Thu nhập của người tiêu dùng.



-



Các chính sách, chế độ, thể lệ của nhà nước.



-



Dự kiến những biến động kinh tế xã hội trong và ngoài nước.



21



Dự toán tiêu thụ là nền tảng của dự toán tổng thể doanh nghiệp, vì dự tốn

này sẽ xác lập mục tiêu của doanh nghiệp so với thị trường. Tiêu thụ được đánh giá

là khâu thể hiện chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Hơn nữa, về mặt lý thuyết

tất cả các dự toán khác của doanh nghiệp suy cho cùng đều dựa vào dự toán tiêu

thụ. Dự toán tiêu thụ chi phối đến các dự toán khác, nếu xây dựng khơng chính xác

sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của dự toán tổng thể doanh nghiệp. Dự toán tiêu thụ

bao gồm những thông tin về chủng loại, số lượng hàng bán, giá bán và cơ cấu sản

phẩm tiêu thụ.

Ngoài ra, dự tốn tiêu thụ còn dự báo cả mức bán hàng thu tiền và bán hàng

tín dụng, cũng như các phương thức tiêu thụ. Khi lập dự toán tiêu thụ nhà quản lý

cần xem xét ảnh hưởng chi phí marketing đến hoạt động tiêu thụ tại doanh nghiệp.

Trong doanh nghiệp, bộ phận kinh doanh hoặc marketing có trách nhiệm trực tiếp

cho việc lập dự toán tiêu thụ.

Sau khi lập mục tiêu chung của dự toán tiêu thụ , dự toán còn có trách nhiệm

chi tiết hóa nhiệm vụ cho từng thời kỳ, từng bộ phận. Việc xem xét khối lượng tiêu

thụ theo thời kỳ còn dựa vào chu kỳ sống của sản phẩm. Nếu sản phẩm của doanh

nghiệp bị ảnh hưởng bởi tính thời vụ thì khi xây dựng dự tốn phải tính đầy đủ mức

ảnh hưởng này, và có phương pháp tính đến tính thời vụ trong các phương pháp dự

báo. Một trong những phương tiện giúp đỡ các dự báo này là việc phân tích dữ liệu

quá khứ theo luồng được thành lập dựa trên nhiều thời kỳ khác nhau.

Trên cơ sở mục tiêu theo từng thời kỳ của doanh nghiệp, dự toán tiêu thụ

phải được lập cụ thể theo từng vùng, theo từng bộ phận, từng sản phẩm. Như vậy,

nó khơng những giúp đỡ nhà quản trị trong việc tổ chức thực hiện mà còn cho phép

đánh giá kết quả và thành tích của các vùng khi so sánh kết quả thực hiện và mục

tiêu đạt được.

Khi lập dự toán tiêu thụ cũng cần quan tâm đến chính sách bán hàng của

doanh nghiệp để ước tính các dòng tiền thu vào liên quan đến bán hàng trong các

thời kỳ khác nhau.



22



Dự toán sản xuất

Sản xuất phải đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ, đồng thời phải đảm bảo mức tồn

kho sản phẩm tối thiểu cần thiết đảm bảo cho quá trình tiêu thụ liên tục. Mức tồn

kho sản phẩm cuối kỳ tùy thuộc chủ yếu vào chu kỳ sản xuất sản phẩm. Chu kỳ sản

xuất sản phẩm càng dài thì mức tồn kho sản phẩm càng lớn và ngược lại. Nhu cầu

sản phẩm tồn kho cuối kỳ thường được xác định bằng tỷ lệ phần trăm (%) nhu cầu

tiêu thụ của kỳ kế toán sau.

Việc xây dựng dự toán sản xuất nhằm xác định số lượng, chủng loại sản phẩm

sản xuất trong kỳ. Để xây dựng dự toán sản xuất cần dựa vào:

-



Sản lượng sản phẩm tồn kho đầu kỳ được ước tính theo thực tế của kỳ trước.



-



Số lượng sản phẩm tiêu thụ dự toán được xác định theo dự toán tiêu thụ.



-



Nhu cầu sản phẩm tồn kho cuối kỳ theo mong muốn của nhà quản trị. Đây

chính là mức dự trữ tối thiểu cần thiết để phục vụ tiêu thụ cho thời kỳ sau

thời kỳ dự tốn. Mức tồn kho cuối kỳ dự tính nhiều hay ít thường phụ thuộc

vào độ dài của chu kỳ sản xuất. Nhu cầu này có thể xác định theo một tỷ lệ

phần trăm nhu cầu tiêu thụ của kỳ sau.

Tuy nhiên, khơng phải doanh nghiệp nào cũng có thể đảm nhận tất cả các



nhu cầu, điều đó còn tùy thuộc vào khả năng sản xuất trên cơ sở năng lực hiện tại

của chúng.

Khi lập dự toán sản xuất cần chú ý đến việc phân chia công việc cho các đơn

vị cũng như theo thời gian thực hiện từng công đoạn. Việc phân bổ cụ thể công việc

cho phép doanh nghiệp tổ chức thực hiện công việc tốt hơn, đồng thời kiểm tra

kiếm sốt được cơng việc một cách dễ dàng.

Phân bổ công việc theo thời gian thường là hằng tháng, cho phép chọn lựa

các cách thức điều chỉnh tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp và

tính chất, nội dung của sản phẩm.

Phân bổ công việc theo bộ phận nhằm lập dự tốn nội bộ là cơng việc rất

quan trọng vì nó là cơ sở để lập dự tốn chi phí sản xuất theo bộ phận cũng như

theo thời gian. Thường công việc này khá đơn giản đối với các doanh nghiệp chỉ



23



sản xuất một loại sản phẩm, nhưng khá phức tạp đối với doanh nghiệp có nhiều đơn

vị, nhiều loại sản phẩm.

Phân bổ công việc vừa theo thời gian vừa theo bộ phận trước hết phải quan

tâm đến cấu trúc của doanh nghiệp để qua đó xem xét tiềm năng của từng bộ phận.

Các nhân tố quan trọng cần xem xét khi thực hiện công việc này là khả năng dự trữ

tồn kho, lực lượng lao động chủ yếu của doanh nghiệp, sự phù hợp giữa mức trang

bị tài sản cố định.

Dự tốn chi phí ngun vật liệu trực tiếp

Dự tốn chi phí ngun vật liệu trực tiếp phản ánh tất cả chi phí nguyên vật

liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán

khối lượng sản phẩm sản xuất. Để lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần xác

định:

-



Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sẩn phẩm.



-



Đơn giá xuất nguyên vật liệu. Thơng thường đơn giá xuất ít thay đổi. Tuy

nhiên để có thể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm soát

khi dự toán đơn giá này cần phải biết doanh nghiệp sử dụng phương pháp

tính giá hàng tồn kho nào: phương pháp LIFO, FIFO, giá đích danh hay đơn

giá bình qn



-



Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự tốn được tính tốn

trê cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho.



Như vậy:

Dự toán

NVL sử



định mức

=



tiêu hao



dụng



số lượng sản phẩm

x



NVL



sản xuất

theo dự tốn



Và dự tốn chi phí ngun vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất sẽ là:

Dự toán chi

phí NVL

trực tiếp



dự tốn lượng

=



NVL

sử dụng



đơn giá

x



xuất

NVL



24



Dự tốn chi phí nhân cơng trực tiếp

Dự tốn chi phí nhân cơng trực tiếp được xây dựng từ dự toán sản xuất. Dự

toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực lượng

lao động cần thiết cho kỳ dự toán. Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực

lượng lao động vừa đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí hoặc

bị động trong sử dụng lao động. Dự tốn lao động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập

dự tốn về đào tạo, tuyển dụng trong q trình hoạt động sản xuất.

Chi phí nhân cơng trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với khối

lượng sản phẩm sản xuất. Trong một số ít các trường hợp chi phí nhân cơng trực

tiếp khơng thay đổi theo mức độ hoạt động, đó là trường hợp các doanh nghiệp sử

dụng cơng nhân có trình độ tay nghề cao, khơng thể trả cơng theo sản phẩm. Để lập

dự tốn chi phí này, doanh nghiệp phải tính tốn dựa vào số lượng nhân công, quỹ

lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp.

Đối với biến phí nhân cơng trực tiếp, để lập dự toán doanh nghiệp cần xây

dựng:

-



Định mức lao động để sản xuất sản phẩm.



-



Tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm nếu doanh nghiệp

trả lương theo sản phẩm.



Dự tốn chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt

động sản xuất, phát sinh trong phân xưởng. Chi phí sản xuất chung bao gồm cả yếu

tố chi phí biến đổi và chi phí cố định, nên dự tốn chi phí sản xuất chung phải tính

đến cách ứng xử của chi phí để xây dựng mức phí dự tốn hợp lý trong kỳ. Cũng có

thể dự tốn chi phí sản xuất chung theo từng nội dung kinh tế cụ thể của chi phí.

Tuy nhiên, theo cách làm này khá phức tạp, mất nhiều thời gian không phù hợp với

các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy, ở đây ta chỉ quan tâm đến việc phân biệt biến

phí và định phí sản xuất chung trong việc lập dự toán.

Dự toán này ở các doanh nghiệp thường được xem là một nơi chủ yếu nhằm

giảm thấp chi phí và giá thành sản phẩm. Tuy nhiên với xu hướng giá thành ngày



25



càng giảm, việc đấu tranh chống tăng chi phí là nhiệm vụ khá quan trọng. Các chi

phí này thường không liên quan trực tiếp đến sản phẩm cụ thể. Nếu sử dụng cách

tính tốn giá thành tồn bộ, việc tăng giảm của các chi phí thuộc về trách nhiệm của

nhà quản trị từng khu vực, từng trung tâm. Các chi phí này thường độc lập tương

đối với mức độ hoạt động, nó liên quan chủ yếu với cấu trúc của phân xưởng, phải

sử dụng các kỹ thuật tách biệt phần biến phí và định phí đối với chi phí hỗn hợp.

Như vậy, chi phí sản xuất chung hồn tồn có thể kiểm tra được.

Dự tốn



dự tốn định



Chi phí



=



Sản xuất chung



dự tốn biến



phí



+



sản xuất chung



phí

sản xuất chung



Biến phí sản xuất chung có thể được xây dựng theo từng yếu tố chi phí cho

một đơn vị hoạt động (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân cơng gián tiếp,…).

Tuy nhiên thường cách làm này khá phức tạp, tốn kém nhiều thời gian. Do vậy, khi

dự tốn chi phí này, người ta thường xác lập biến phí sản xuất chung cho từng đơn

vị hoạt động.

Dự tốn



dự tốn biến phí



biến phí



=



đơn vị



sản xuất chung



sản lượng sản

x



sản xuất chung



xuất theo

dự tốn



Dự tốn biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp, khi

đó biến phí sản xuất chung dự tốn sẽ xác định:

Dự tốn

biến phí

sản xuất chung



dự tốn

=



biến phí

trực tiếp



tỷ lệ

x



biến phí

theo dự kiến



Dự tốn giá vốn hàng bán

Giá vốn hàng bán thực chất là tổng giá thành của khối lượng sản phẩm tiêu

thụ trong kỳ tính theo phương pháp giá tồn bộ. Như vậy trên cơ sở số lượng sản

phẩm sản xuất theo dự toán, giá thành dự toán để sản xuất sản phẩm, số lượng sản

phẩm dự trữ dự toán vào cuối kỳ, dự toán giá vốn hàng xuất bán được xây dựng như

sau:



26



Dự toán

Giá vốn



giá thành

=



sản phẩm sản



giá thành

+



sản phẩm



Hàng



xuất trong kỳ



tồn cuối



Xuất bán



theo dự toán



kỳ dự toán



giá thành

-



sản phẩm

tồn đầu kỳ

thực tế



Dự tốn chi phí bán hàng

Các loại chi phí này được lập tương tự như chi phí sản xuất chung. Tuy

nhiên, chi phí bán hàng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động tiêu thụ của doanh

nghiệp và ngược lại nên khi lập dự tốn chi phí bán hàng phải tính đến mối liên hệ

với dự toán tiêu thụ của doanh nghiệp.

Dự tốn chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản

phẩm dự tính cho kỳ sau. Dự tốn này nhằm mục đích tính trước và tập hợp các

phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng. Khi xây dựng dự tốn cho các chi

phí này cần tính đến nội dung kinh tế của chi phí cũng như yếu tố biến đổi và yếu tố

cố định trong thành phần chi phí.

Dự tốn

chi phí

bán hàng



dự tốn

=



định phí

bán hàng



dự tốn

+



biến phí

bán hàng



- Dự tốn định phí bán hàng

Yếu tố định phí thường ít biến đổi trong một phạm vi phù hợp gắn với các

quyết định dài hạn, và có thể dự báo một cách dễ dàng dựa vào chức năng kinh

doanh của doanh nghiệp. Các chi phí này cũng có thể thay đổi trong trường phát

triển thêm mạng phân phối mới, thêm các dịch vụ mới sau bán hàng, dịch vụ nghiên

cứu phát triển thị trường…

Khi dự báo các yếu tố này cần phân tích đầy đủ các dữ liệu quá khứ của

doanh nghiệp. Thông thường các mơ hình hồi quy cho phép ta tách biệt các thành

phần định phí và biến phí bán hàng của doanh nghiệp, đồng thời làm cơ sở tính tốn

tỷ lệ thay đổi dự kiến



27



Dự tốn



định phí bán



Định phí



=



tỷ lệ % tăng



hàng thực tế



Bán hàng



x



(giảm) theo



kỳ trước



dự kiến



- Dự toán biến phí bán hàng

Các biến phí bán hàng của doanh nghiệp có thể là biến phí trực tiếp như hoa

hồng, lương nhân viên bán hàng… Biến phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến

từng bộ phận bán hàng như chi phí bảo trì, xăng dầu, hỗ trợ bán hàng… và thường

được dự toán trên cơ sở số lượng bán hàng dự toán hoặc xác định một tỷ lệ biến phí

bán hàng theo thống kê kinh nghiệm nhiều kỳ.

Dự tốn



dự tốn biến



biến phí



=



sản lượng



phí đơn vị



bán hàng



bán hàng



Dự tốn



dự tốn



x



tiêu thụ

theo dự tốn



Hoặc

biến phí



=



bán hàng



tỷ lệ



biến phí



x



trực tiếp



biến phí

trực tiếp



Dự tốn chi phí quản lý doanh nghiệp

Dự tốn chi phí quản lý doanh nghiệp thường phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức

của doanh nghiệp. Chi phí này liên quan đến tồn bộ doanh nghiệp, chứ khơng liên

quan đến từng bộ phận, đơn vị hoạt động nào. Tương tự như dự tốn bán hàng, việc

lập dự tốn biến phí quản lý doanh nghiệp thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị

nhân với sản lượng tiêu thụ dự kiến.

Dự tốn

Biến phí

QLDN



dự tốn biến

=



phí đơn vị

QLDN



sản lượng

x



tiêu thụ

theo dự tốn



Dự tốn biến phí quản lý doanh nghiệp cũng có thể sử dụng phương pháp

thống kê kinh nghiệm, trên cơ sở tỷ lệ biến phí quản lý doanh nghiệp trên biến phí

trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất ở các kỳ kế tốn trước để xác định tỷ lệ biến

phí bình qn giữa các kỳ. Cơng thức để xác định biến phí này như sau:



28



Dự tốn

Biến phí



dự tốn

=



QLDN



tỷ lệ



biến phí x



biến phí



trực tiếp



QLDN



Số liệu từ dự tốn này còn là cơ sở để lập dự toán tiền mặt và báo cáo kết quả

kinh doanh dự tốn của doanh nghiệp.

Còn định phí quản lý doanh nghiệp thường không thay đổi theo mức độ hoạt

động. Các thay đổi của loại chi phí này chủ yếu do việc trang bị đầu tư thêm cho bộ

phận quản lý của doanh nghiệp. Lập dự toán bộ phận này cần căn cứ vào dự báo các

dự báo các nội dung cụ thể của từng yếu tố chi phí để xác định chính xác định phí

theo dự tốn.

Dự tốn chi phí tài chính

Thu nhập và chi phí tài chính liên quan đến kết quả kinh doanh của doanh

nghiệp. Thu nhập và chi phí tài chính bao gồm rất nhiều nội dung. Theo chế độ chế

tốn hiện nay, chi phí và thu nhập tài chính phải được tính tốn đầy đủ trong kết quả

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Để dự tốn chi phí tài chính ta cần quan tâm đến chi phí lãi vay – bộ phận lớn nhất

trong chi phí tài chính mà doanh nghiệp phải trả. Cơ sở để lập tốn chi phí lãi vay là

số tiền cần vay dài hạn và ngắn hạn trong mỗi kỳ lập dự toán cũng như lãi xuất vay

phải trả cho từng khoản vay.

Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh

Trên cơ sở các dự toán bộ phận đã lập, bộ phận kế toán quản trị lập các báo

cáo kết quả kinh doanh dự toán. Số liệu dự toán trên các báo cáo tài chính này thể

hiện kỳ vọng của nhà quản lý của doanh ghiệp cho phép ra các quyết định về quản

trị, nó cũng là cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện dự tốn đề ra.

Dự tốn báo cáo kết quả kinh doanh được lập căn cứ vào các dự toán doanh

thu, dự toán giá vốn và các dự tốn chi phí ngồi sản xuất đã được lập. Dự tốn này

có thể được lập theo phương pháp tính giá tồn bộ hoặc theo phương pháp tính giá

trực tiếp.



29



Dự toán vốn bằng tiền

Dự toán vốn bằng tiền được tính bao gồm việc tính tốn các luồng tiền mặt

và tiền gửi ngân hàng thu vào và chi ra liên quan đến các mặt hoạt động của doanh

nghiệp trong các thời kỳ. Dự tốn này có thể được lập hằng năm, hằng quý và nhiều

khi cần thiết phải lập hằng tháng, tuần, quý.

Dự toán vốn bằng tiền là một trong những dự tốn quan trọng của doanh

nghiệp. Vì qua đó thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng tiền cho

người lao động, các nhà cung cấp, các nhà cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu

khác. Dự toán vốn bằng tiền là cơ sở để doanh nghiệp có dự tốn vay mượn, phát

hành trái phiếu, cổ phiếu…kịp thời khi lượng tiền mặt thiếu hoặc có kế hoạch đầu

tư sinh lợi khi lượng tiền tồn quỹ thừa.

Khi lập dự toán vốn bằng tiền doanh nghiệp cần chú ý các điểm sau:

-



Dự toán vốn bằng tiền được lập từ các khoản thu nhập và chi phí của dự

toán hoạt động, dự toán vốn và dự toán chi phí tài chính.



-



Phải dự tốn khoảng thời gian giữa doanh thu được ghi nhận và thời điểm

thu tiền bán hàng thực tế.



-



Phải dự đốn khoảng thời gian giữa chi phí đã ghi nhận và thời điểm thực

tế trả tiền cho các khoản chi phí.



-



Phải loại trừ các khoản chi khơng tiền mặt. Ví dụ: chi phí khấu hao tài

sản cố định hoặc chi phí dự phòng nợ khó đòi phải loại bỏ khi lập dự toán

vốn bằng tiền.



-



Phải xây dựng số dư tồn quỹ tối thiểu tại đơn vị. Tồn quỹ tiền tối thiểu và

các kết quả dự báo về luồng tiền thu chi là cơ sở để doanh nghiệp sử dụng

hợp lý tiền của mình.



Cơng tác lập tốn vốn bằng tiền giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của

doanh nghiệp. Dự tốn vốn bằng tiền giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của

doanh nghiệp. Dự toán vốn bằng tiền là cơ sở để các nhà quản lý có dự tốn vay nợ

thích hợp, kịp thời, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh. Dự toán vốn bằng tiền

cũng là cơ sở để doanh nghiệp sử dụng tài nguyên của mình hiệu quả nhất. Trong



30



điều kiện tin học hóa hiện nay trong kế tốn, dự tốn vốn bằng tiền có thể lập cho

từng ngày, tuần, tháng, nhờ vậy công tác quản lý tiền tại đơn vị được chặt chẽ hơn.

1.3.2 Kế tốn chi phí.

1.3.2.1 Khái niệm.

Chi phí được định nghĩa là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm

tạo ra các loại tài sản hàng hóa hoặc dịch vụ.

Nội dung của chi phí rất đa dạng. trong kế tốn quản trị, chi phí được phân

loại và sử dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm cung cấp những thông tin phù

hợp với nhu cầu đa dạng trong các thời điểm khác nhau của quản lý nội bộ doanh

nghiệp. Thêm vào đó, chi phí phát sinh trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau

(sản xuất, thương mại, dịch vụ) cũng có nội dung và đặc điểm khác nhau, trong đó

nội dung chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thể hiện tính đa dạng và bao quát

nhất.

1.3.2.2 Phân loại chi phí.

a. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động.

Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo công dụng

của chúng, hay nói một cách khác, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau

trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại lớn:

chi phí sản xuất và chi phí ngồi sản xuất.

Chi phí sản xuất: bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,

chi phí nhân cơng trực tiếp, chi phí sản xuất chung.

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm các loại nguyên liệu và vật

liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. trong đó nguyên vật liệu chính

dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ khác có

tác dụng kết hợp với ngun vật liệu chính để hồn chỉnh sản phẩm về mặt chất

lượng và hình dáng.

Chi phí nhân cơng trực tiếp: bao gồm tiền lương và những khoản trích

theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các bộ phận dự toán trong hệ thống dự toán

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x