Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lý luận cơ bản về hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại

Lý luận cơ bản về hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp

Hạng





GVHD: PGS – TS Đinh Xn



Hoạt động huy động vốn

Đây là nghiệp vụ cơ bản tạo vốn cho NH, giúp NH có khả năng hoạt động

và cạnh tranh trên thị trường. Các nghiệp vụ huy động vốn của NH bao gồm:

- Nghiệp vụ hoạt động tiền gửi: là nghiệp vụ quan trọng nhất, chiếm

phần lớn tỷ trọng trong nghiệp vụ huy động vốn của NH và cũng là đối tượng

chủ yếu trong hoạt động quản lý tài sản nợ của NH bao gồm tiền gửi của các

tổ chức cá nhân và tiền gửi dân cư.

- Nghiệp vụ huy động vốn dưới hình thức phát hành các phiếu vay nợ:

như việc phát hành trái phiếu, các chứng chỉ tiền gửi có thời hạn khác nhau

với mục đích đáp ứng nhu cầu vốn cấp thiết.

- Vay trên thị trường liên ngân hàng: đây là nhân tố quyết định việc tạo

lập mới vốn khả dụng cho NH, tạo điều kiện cho NH tăng khả năng sinh lời







Hoạt động sử dụng vốn

Huy động vốn được rồi, NHTM phải làm thể nào để hiệu quả hoá những

nguồn tài sản này. Hầu như tất cả các khoản mục bên tài sản nợ của NH đều là

vốn vay, nghĩa là NH phải trả lãi suất cho nó đến từng ngày. Do đó để khỏi bị

thiệt hại, NH luôn luôn phải cho vay hoặc đầu tư ngay số tài sản ấy vào những

dịch vụ sinh lãi. Từ lãi thu được, NH sẽ dùng nó để trả lãi suất cho vốn đã

vay, thanh toán các chi phí trong hoạt động, phần còn lại sẽ là lợi nhuận của

NH. Nói cách khác, nghiệp vụ có của NH là những nghiệp vụ thực hiện sử

dụng những khoản vốn đã huy động (tập trung ở nghiệp vụ nợ) nhằm mục

đích sinh lợi.







Những hoạt động khác:

Các hoạt động này khơng thể hiện trên bảng cân đối tài sản. Các hoạt

động này ít rủi ro hay khơng có rủi ro nhưng mang lại cho NH thu nhập cao

và tạo điều kiện cho hoạt động nhận tiền gửi và cho vay của NH.



SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



10



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng

1.1.2.

1.1.2.1.



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



Tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại

Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm

Khái niệm: là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết

kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi suất theo quy định của

tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định pháp luật về

bảo hiểm tiền gửi (bao gồm phần gốc là số tiền gửi ban đầu và khoản tiền lãi).







Bản chất của tiền gửi tiết kiệm là một khoản đầu tư hơm nay để có được một







khoản tiền lớn hơn trong tương lai

Hình thức cơ bản của tiền gửi là sổ tiết kiệm ( là loại tiết kiệm mà người gửi

tiền được NH cấp cho một sổ dùng để gửi tiền vào và rút tiền ra, đồng thời

cũng xác nhận số tiền đã gửi). Ngoài ra trên thị trường một số ngân hàng đã







áp dụng tiết kiệm điện tử vào hệ thống NH của mình để phục vụ KH.

NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền gửi, vốn hình thành từ tiền gửi luôn

chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu vốn kinh doanh của ngân hàng. Chính vì

vậy, huy động tiền gửi là nội dung quan trọng trong huy động nguồn vốn của







NHTM.

Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và là nguồn gốc sâu xa của lợi

nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Mục tiêu chính của huy động tiền gửi là

tìm được nguồn và đưa ra những cách để có thể huy động vốn với chi phí thấp

nhất và có được lượng tiền gửi đáp ứng được yêu cầu vay và các nhu cầu tín

dụng của nền kinh tế.

Các loại tiền gửi tiết kiệm



1.1.2.2.



Hiện nay, để nâng cao chất lượng dịch vụ và gia tăng lượng tiền gửi tiết

kiệm. Các NH đã đưa ra nhiều loại hình tiền gửi tiết kiệm khác nhau. Tùy

thuộc vào mục đích cũng như nhu cầu của từng đối tượng trong nền kinh tế,

tiền gửi tiết kiệm được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên,

việc phân loại theo thời hạn của khoản tiền gửi tiết kiệm vẫn là phổ biến nhất.

Theo đó, tiền gửi tiết kiệm được chia thành:





Tiền gửi tiết kiệm khơng kỳ hạn.



SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



11



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng

-



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



Khái niệm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi

tiền có thể rút tiền theo u cầu mà khơng cần báo trước vào bất kỳ ngày làm



+



việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.

Đặc điểm:

Ngân hàng phải chi trả ngay lập tức vào bất kỳ thời điểm nào theo lệnh của

chủ tài khoản. Vì vậy, đây là loại tiền gửi biến động nhiều nhất, thời gian duy

trì ở NH là ngắn nhất, NH rất khó có thể dự đốn được cũng như bị động



+





trong việc cân đối giữa huy động vốn và cho vay.

Đây là loại tiền gửi đưa lại nguồn vốn cho NH với chi phí thấp, ít nhạy cảm

với biến động của lãi suất.

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

- Khái niệm: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi tiết kiệm mà

người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một ký hạn gửi tiền nhất định theo thỏa



+



thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm

- Đặc điểm:

Là một khoản tiền gửi có tính ổn định cao. Do tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

được phân chia rõ ràng theo kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn. Chính vì thế, NH

dễ dàng trong vấn đề kiểm sốt cũng như ln chủ động về vốn để tiến hành



+





những dự định cũng như mục tiêu đã đề ra.

Chi phí để huy động loại tiền gửi này cao hơn so với loại tiền gửi tiết kiệm

không kỳ hạn. Do lãi suất NH chi trả cho chủ tài khoản là cao hơn

Tiền gửi tiết kiệm đặc biệt

Để đa dạng hóa và tạo thêm tính tiện ích của sản phẩm tiết kiệm, nhằm

thu hút khách hàng, giúp ngân hàng tăng thị phần huy động. Ngân hàng còn



+

+



đưa ra một số loại hình tiết kiệm mới như sau:

Tiền gửi tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang theo số dư

Tiền gửi tiết kiệm tự động: Số tiền khách hàng yêu cầu được chuyển tự động

từ các tài khoản không kỳ hạn (tài khoản nguồn) vào tài khoản có kỳ hạn (tài



+



khoản tiết kiệm tự động) với chu kỳ xác định.

Tiền gửi tiết kiệm chọn kỳ lĩnh lãi: khách hàng chọn gửi sản phẩm này được

hưởng lãi suất cao hơn tiết kiệm thường, được rút vốn, lãi và điều chỉnh lãi

suất định kỳ do khách hàng lựa chọn.

SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



12



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng

+



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



Tiền gửi tiết kiệm gởi góp: là loại tiết kiệm có kỳ hạn mà khách hàng có thể

gởi theo hình thức thỏa thuận nhiều lần vào một sổ tiết kiệm theo thời hạn

nhất định đã đăng ký với ngân hàng. Hình thức này phù hợp với những khách



+

1.1.2.3.



hàng có thu nhập ổn định, và muốn tích lũy lâu dài cho tương lai.

Tiền gửi tiết kiệm gửi một lần rút nhiều lần.

Vai trò của tiền gửi tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

thương mại

Để tồn tại và phát triển cũng giống như những tổ chức khác, NH cũng

cần có nguồn vốn để tiến hành các hoạt đồng. Trên thực tế, nguồn vốn huy

động được của NH thì TGTK chiếm số lượng lớn. Về cơ bản TGTK là cơ sở

chính cho các khoản cho vay theo đúng tiêu chí của NH là “đi vay để cho

vay”, là nguồn gốc xâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của NH. Đồng thời,

tiền gửi tiết kiệm cũng là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của NH,

là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt NH với các

tổ chức khác. Chính vì thế, hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm nói riêng và

huy động vốn nói chung ln có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động







của NHTM. Nó được biểu hiện như sau:

Thứ nhất: Huy động vốn, đặc biệt là huy động TGTK là hoạt động cơ

sở để Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn huy động là

nguồn vốn đầu vào khởi đầu cho một chu trình tiền tạo ra tiền. Từ nguồn khởi

đầu này mà các ngân hàng mới có khả năng thực hiện được các nghiệp vụ cho

vay hoặc đầu tư của mình nên cơng tác huy động vốn ln được chú trọng đầu







tư trong mọi thời điểm.

Thứ hai: Khả năng huy động TGTK quyết định quy mơ tín dụng và các

hoạt động khác. Ngân hàng có nguồn TGTK dồi dào sẽ đáp ứng được nhu cầu

cho vay, dễ dàng mở rộng thị trường tín dụng, tăng khả năng thanh tốn và







các dịch vụ khác của Ngân hàng.

Thứ ba: Khả năng huy động TGTK góp phần quyết định đến nguồn vốn của

ngân hàng, quyết định đến năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của Ngân

hàng trên thị trường tài chính.

SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



13



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



Thứ tư: Huy động TGTK tốt quyết định đến năng lực cạnh tranh của NH.

Nguồn TGTK lớn là điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng quan hệ







tín dụng với các thành phần kinh tế. Nguồn TGTK càng dồi dào thì NHTM sẽ

dễ dàng tiếp cận đến những dự án đầu tư có quy mơ lớn, như vậy sẽ tiếp cận

với nhiều tầng lớn trong xã hội giúp mở rộng thị phần khách hàng cũng nhưng

quảng bá được thương hiệu .

Chiếm tỷ trọng lớn và có tính ổn định, thời gian dài trong nguồn vốn của

NH chính là TGTK. Do đó việc huy động TGTK rất quan trọng nó quyết định

lớn đến nguồn vốn của NH, quyết định đến tính thanh khoản, khả năng cạnh

tranh của NH Chính vì lý do đó, các NHTM ln tìm cách tăng cường huy

động nguồn TGTK. Trên thị trường hiện nay, các NH để cạnh tranh đang đưa

ra mức lãi suất cạnh tranh, luôn nghiên cứu thị trường cũng như tìm hiểu nhu

cầu của các chủ thể trong xã hội để đưa ra nhiều hình thức huy động mới và

hấp dẫn hơn.

1.2.

1.2.1.



Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại

Khái niệm về huy động tiền gửi tiết kiệm

Huy động tiền gửi tiết kiệm là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời

nhàn rỗi từ các tổ chức hoặc cá nhân để từ đó hình thành nên nguồn vốn cho

Ngân Hàng.



1.2.2.



Các hình thức huy động tiền gửi

Hiên nay, do nhu cầu và mục đích khác nhau của khách hàng. Các cá

nhân và các tổ chức hiện đang có nhưng khoản tiền nhàn rỗi hay nói cách

khác là chưa có những dự định sử dùng khoản tiền đó trong tương lại, thì

phương thức gửi tiền tiết kiệm tại NH vẫn là lựa chọn đầu tiên của họ. Chính

vì thế, NH vẫn đang khơng ngừng đẩy mạnh phương thức này để nâng cao

nguồn vốn cho mình.







Huy động tiền gửi tiết kiệm thông qua những khoản tiền gửi của dân cư



SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



14



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



 Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng. ở các



nước công nghiệp phát triển, trong số các loại tiền gửi vào ngân hàng thì tiền

gửi tiết kiệm đứng vị thứ hai cả về mặt số lượng và tầm quan trọng.

 Hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ( trong đó có Việt Nam) người ta

cho rằng vận động nhân dân gửi tiền tiết kiệm là một trong các nghiệp vụ quan

trọng của NHTM. Bởi lẽ nếu huy động được nguồn vốn nhàn rỗi tiềm tàng trong

các tầng lớp dân cư sẽ có tiền cấp phát cho phát triển cơng nghiệp, nơng nghiệp

góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.

 Các tầng lớp dân cư gửi tiền tiết kiệm vào NHTM với mục đích chủ yếu là tiết

kiệm và sinh lời. Do đó, nguồn vốn này có tính ổn định khá cao.

 Để tạo thuận lợi cho khách hàng cũng như ngân hàng, thủ tục gửi tiền cũng

rất đơn giản: Khi khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng sẽ được nhận một quyển

sổ tiết kiệm. Sổ này được coi là giấy chứng nhận số tiền, thời hạn, lãi suất của

khoản tiền đó trong quỹ tiết kiệm. Thơng thường lãi suất của tài khoản tiết

kiệm cao hơn lãi suất của tài khoản gửi thanh tốn và người chủ tài khoản

khơng được hưởng dịch vụ thanh toán quan ngân hàng như tài khoản tiền gửi

thanh toán.

 Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng trong việc gửi tiết kiệm, các NHTM đã

và đang áp dụng nhiều hình thức huy động phong phú như: Tiết kiệm nhà ở,

tiết kiệm đảm bảo giá trị theo vàng, tiết kiệm có thưởng,... với nhiều kỳ hạn

đa dạng và đảm bảo nguyên tắc: Kỳ hạn càng dài thì lãi suất càn cao. Bên

cạnh đó, NHTM cũng từng bước nâng cao các tiện ích cho người gửi tiết kiệm

như: Coi sổ tiết kiệm như là một chứng từ đảm bảo tiền gửi, người có sổ có

thể mang sổ tiết kiệm đến ngân hàng để cầm cố hoặc xin chiết khấu để vay

vốn khi cần thiết.

• Huy động tiền gửi tiết kiệm thông qua tiền gửi của các doanh nghiệp

 Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh

doanh, quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội

và được các đơn vị này gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời. Khoản



SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



15



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



vốn này tạm thời được giải phóng ra khỏi quá trình ln chuyển vốn nhưng

chưa có nhu cầu sử dụng trong ngắn hạn.

 Đây là nguồn chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nguồn vốn cũng như là

trong cơ cấu vốn nói chung của NHTM. Bởi lẽ trong quá trình sản xuất kinh

doanh của mình, các doanh nghiệp ít khi có một lượng vốn nhàn rỗi trong một

thời gian dài và nếu có chỉ là một lượng nhỏ mà thơi. Các tổ chức kinh tế- xã

hội có vử khả quan hơn về mặt kỳ hạn nhưng lượng vốn họ có lại khơng đủ

lớn. Tuy vậy nguồn vốn này vẫn không thể thiếu trong cơ cấu tạo nên nguồn

vốn của một ngân hàng. Cũng như tiền gửi có kỳ hạn nói chung, các doanh

nghiệp và các tổ chức kinh tế- xã hội khi gửi tiền vào ngân hàng cũng phải có

sự thoả thuận về kỳ hạn của khoản tiền đó.

 Như vậy về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã

thoả thuận. Tuy nhiên trên thực tế do quá trình cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt

động ngân hàng ngày càng gay gắt và để thu hút nguồn này một cách tốt nhất,

các NHTM thường cho phép khách hàng được rút tiền ra trước hạn nhưng

không được hưởng lãi hoặc hưởng lãi ở mức thấp hơn. Hầu hết các NHTM ở

Việt Nam, nếu khách hàng rút tiền trước thời hạn đã thoả thuận thì chỉ được

hưởng theo lãi suất loại tiền gửi không kỳ hạn.

 NHTM có thể sử dụng nguồn này một cách chủ động hơn trong hoạt động

kinh doanh, góp phần đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.

1.3.

1.3.1.



Hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại

Khái niệm về hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm

Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Khi so

sánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số, hoặc

kết quả / chi phí hoặc chi phí/ kết quả. Mỗi cách so sánh đều cũng cấp các

thơng tin có ý nghĩa khác nhau.

Khái niệm hiệu quả trên cho thấy rằng chỉ khi đạt được kết quả cao nhất

trong điều kiện chi phí thấp nhất mới được coi là có hiệu quả. Tuy nhiên, trên

thực tế việc xác định kết quả nào là cao nhất với chi phí thấp nhất là rất khó.

SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



16



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



Như vậy: hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm được thể hiện ở khả năng

đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của NH. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời,

1.3.2.





đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý.

Tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm

Tiên gửi tiết kiệm tăng trưởng ổn định về số lượng và thời gian.

TGTK phải có sự tăng trưởng về số lượng để có thể thõa mãn các nhu

cầu về vốn cho những hoạt động kinh doanh ngày càng gia tăng của ngân

hàng. Đồng thời, TGTK cũng phải có sự ổn định về mặt thời gian, vì nếu ngân

hàng huy động được một khối lượng TGTK lớn nhưng không phù hợp, ngân

hàng sẽ luôn phải đối mặt với tình trạng mất khả năng thanh tốn nếu cho vay

và đầu tư quá nhiều. Như vậy hiệu quả huy động TGTK sẽ không cao. Ngược

lại, nếu TGTK huy động được là hợp lý, ngân hàng sẽ yên tâm sử dụng phần

lớn số vốn đó vào hoạt động kinh doanh mang lại thu nhập cao. Chính vì thế

dựa vào những mục đích ở hiện tại cũng như tương lai mà NH chọn lựa các

loại TGTK khác nhau một cách hợp lý nhất. Khi đó, hiệu quả hoạt động huy





+



động TGTK là rất cao.

Tiền gửi tiết kiệm có khả năng đáp ứng được các nhu cầu kinh doanh.

TGTK chiếm phần lớn trong tổng thể số vốn huy đơng của NH. Chính vì thế

sư biến đổi về cơ cấu TGTK sẽ ảnh hưởng lớn đến nguồn vốn của NH, đây

chính là nguyên nhân kéo theo hoạt động cho vay cũng như các hoạt động

kinh doanh khác của NH bị biến động. Từ đó, sẽ tác động đến lợi nhuận và

đem lại nhiều rủi ro cho NH. Vì vậy, để hoạt động tồn diện và bền vững, NH

cần phải có nguồn lực tài chính đảm bảo, để đáp ứng kịp thời các nhu cầu cho

hoạt động kinh doanh của mình. Hay nói cách khác, đó chính là sự cân đối







giữa việc huy động vốn thông qua kênh TGTK và việc sử dụng vốn.

Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm

Tỷ trọng từng loại TGTK = x 100%

Ý nghĩa: Cơ cấu TGTK là tỷ trọng mỗi loại tiền gửi tiết kiệm trên tổng số

TGTK. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ giữa các loại TGTK trong tổng số TGTK.

Từ đó, thấy được sự phù hợp cân đối giữa các loại TGTK đồng thời dựa trên

những định hướng đầu tư hoặc cho vay của NH vào lĩnh vực nào, với quy mô

SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



17



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



tương ứng bao nhiêu để dựa trên đó sẽ có kế hoạch xây dựng cơ cấu TGTK

cho phù hợp. Tuy nhiên, cơ cấu này còn phụ thuộc vào nhu cầu của KH cũng

như những điều kiện của thị trường. Bên cạnh đó, cơ cấu TGTK cần đảm bảo

một tỷ lệ hợp lý giữa vốn tiền gửi ngắn hạn so với trung và dài hạn. Với ý

nghĩa này, cơ cấu TGTK sẽ giúp NH tránh được những rủi ro tiềm ẩn trong





q trình hoạt động của mình.

Chi phí huy động TGTK

Chi phí huy động TGTK là những khoản chi phí ngân hàng phải bỏ ra để

thực hiện việc huy động TGTK của ngân hàng. Quản lý chi phí huy động

TGTK là hoạt động thường xuyên và quan trọng của mỗi ngân hàng, vì mỗi

sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn hay lãi suất đều có thể làm thay đổi chi phí

trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập ròng của ngân hàng. Vì vậy, một NH

huy động TGTK hiệu quả khi học kiểm sốt được chi phí, hay nói cách khác

NH sử dụng nguồn vốn huy động từ TGTK đúng và hợp lý.

Tỷ suất chi phí huy động TGTK = x 100%

bình qn

Ý nghĩa: Chi phí trả lãi TGTK bình qn phản ánh số tiền mà ngân hàng

phải bỏ ra cho một đồng vốn TGTK huy động được. Nếu chi phí trả lãi bình

quân giảm theo từng năm, kèm theo sự tăng trưởng về quy mô vốn TGTK

chứng tỏ công tác huy động TGTK của ngân hàng đạt được những hiệu quả







+

+

+

+

+

1.3.3.



nhất định.

Các chỉ tiêu khác

Bên cạnh những chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả huy động vốn trên, hiện

nay có nhiều chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả huy động TGTK như sau:

Khả năng điều hành lãi suất và tiết kiệm những chi phí liên quan

Sự đa dạng hóa các hình thức huy động TGTK

Sự đa dạng về thời hạn và loại hình tiền tệ

Mức độ thuận tiện cho KH

Kiểm soát thời gian huy động được một số TGTK nhất định

Sự cần thiết nâng cao hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm

Chức năng huy động vốn chủ yếu là VTG của ngân hàng có vai trò quan

trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để

đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mơ

SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



18



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



sản xuất. Nhờ đó, ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động, kích

thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế.

TGTK chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nguồn vốn mà NH huy động

được. Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả huy động TGTK là đặc biệt cần

thiết do TGTK có các vai trò đặc biệt sau: Là một bộ phận hình thành nên

nguồn vốn, mặt khác vốn là cơ sở để NH tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.

Từ đó quyết định quy mơ hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của NH.

Bên cạnh đó, nó còn quyết định đến thương hiệu, uy tín và năng lực cạnh

tranh của NH với các NH khác

Để thực hiện tốt với phương châm “ đi vay để cho vay” thì TGTK là

kênh huy động vốn nên việc nâng cao hiệu quả huy động TGTK là hồn tồn

1.3.4.

1.3.4.1.





cần thiết

Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm

Nhân tố chủ quan

Lãi suất

Lãi suất được coi là giá cả của các sản phẩm dịch vụ tài chính. Ngân

hàng sử dụng hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc

huy động tiền gửi và thay đổi quy mô nguồn vốn. Để duy trì và thu hút thêm

nguồn vốn, NH cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi

về giá cho những khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên. Hơn nữa hệ thống

lãi suất cần linh hoạt, phù hợp với quy mô và cơ cấu nguồn vốn. Đối với

những khách hàng gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi thì lãi suất ln là mối

quan tâm hàng đầu của họ. Nếu khách hàng cảm thấy hài lòng với mức lãi

suất NH công bố, họ sẽ lựa chọn việc gửi tiền vào ngân hàng như một kênh

đầu tư hợp lý. Ngược lại, nếu lãi suất thấp, họ sẽ dùng khoản tiền đó vào mục

đích khác hay gửi tiền vào ngân hàng khác hoặc đầu tư vào lĩnh vực khác có

lời hơn. Tuy nhiên, NH cũng cần phải chú ý rất nhiều đến lãi suất tiền vay để

có thể có các hoạt động kinh doanh hợp lý, đem lại các khoản thu nhập cao

nhất cho NH để bù đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra và vẫn mang lại lợi

SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



19



Mã SV: 1154011350



Khóa luận tốt nghiệp

Hạng



GVHD: PGS – TS Đinh Xuân



nhuận cho ngân hàng. Do đó, NH phải xây dựng chính sách lãi suất hợp lý

mang tính cạnh tranh, vừa đảm bảo huy động được nguồn vốn cần thiết, vừa





đảm bảo kinh doanh có lời.

Chất lượng, tiện ích và mức độ đa dạng của sản phẩm dịch vụ.

Chất lượng sản phẩm mang tính chất vơ hình, được đánh giá thơng qua

rất nhiều tiêu chí như: tính hợp lý, hiệu quả, và mức độ đáp ứng nhu cầu

khách hàng cùng với những lợi ích về phía ngân hàng. Tiện ích là những lợi

ích và sự thuận tiện khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Chất lượng

sản phẩm dịch vụ càng cao, càng gia tăng mức độ hài lòng của khách hàng.

Từ đó, ngân hàng sẽ thu hút được ngày càng nhiều nguồn vốn tiền gửi cũng

như thu được nhiều lợi nhuận từ các sản phẩm dịch vụ khác. Bên cạnh đó, các

tiện ích đi kèm cũng góp phần làm tăng tính hấp dẫn của sản phẩm dịch vụ

đối với khách hàng, nâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng so với các ngân

hàng bạn. Sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ thể hiện thông qua sự đa dạng về

kỳ hạn, về loại hình sản phẩm dịch vụ, về đối tượng gửi tiền. Danh mục sản

phẩm dịch vụ càng đa dạng và phong phú, khách hàng càng có nhiều sự lựa







chọn nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của mình.

Thời gian giao dịch và chính sách khách hàng

Thời gian giao dịch của ngân hàng càng nhiều, số lượng khách hàng đến

giao dịch càng đơng và nhờ đó khối lượng nguồn TGTK ngân hàng huy động

được càng lớn. Hiện nay, phần lớn các NH vẫn giao dịch chủ yếu trong giờ

hành chính, điều này đã gây bất tiện đối với các đối tượng khách hàng vốn là

người lao động, cán bộ công nhân viên ở các cơ quan, đoàn thể và doanh

nghiệp khác. Một số ngân hàng khác đã tăng thời gian giao dịch bằng cách

phân công nhân viên làm việc theo ca và làm việc ngồi giờ hành chính, tạo

điều kiện cho các khách hàng đến NH giao dịch mà vẫn không ảnh hưởng đến

cơng việc của họ.

Chính sách khách hàng bao gồm các chương trình và giải pháp được ngân

hàng xây dựng và áp dụng nhằm khuyến khích, thu hút khách hàng sử dụng các

sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Các chương trình này có thể là những chương

SV: Nguyễn Thị Thu Hương

.



20



Mã SV: 1154011350



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lý luận cơ bản về hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×