Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Đánh giá thực trạng triển khai và triển vọng về dịch vụ Mobile Banking tại NHNo Tam Trinh

3 Đánh giá thực trạng triển khai và triển vọng về dịch vụ Mobile Banking tại NHNo Tam Trinh

Tải bản đầy đủ - 0trang

59



Sáu là, với việc triển khai thêm dịch vụ Mobile Banking ngân hàng đã

làm đa dạng hóa thêm danh mục sản phẩm dịch vụ của mình giúp phân tán

rủi ro, phục vụ khách hàng tốt hơn, tạo cho ngân hàng một diện mạo mớimột ngân hàng hiện đại. Do đó cái nhìn của khách hàng cũng như của các

ngân hàng bạn đối với ngân hàng tích cực hơn…

2.3.2 Những mặt hạn chế, tồn tại

Tuy có những kết quả tích cực song việc triển khai dịch vụ Mobile

Banking tại chi nhánh vẫn chưa đạt được hiệu quả cao phải kể đến như:

-



Chùm Mobile Banking của NHNo & PTNT bao gồm nhiều sản



phẩm tiện ích nhưng khách hàng mới chỉ sử dụng một số sản phẩm, dịch vụ

thông dụng như dịch vụ SMS, VnTopUp, ATransfer còn dịch vụ khác như

APayBill, ví điện tử thì số lượng người đăng kí sử dụng rất ít, và gần như

không sử dụng.

Số lượng khách hàng của chi nhánh đăng kí sử dụng dịch vụ

nhiều nhưng số lượng giao dịch thực tế lại khơng nhiều, có những khách

hàng cũng đăng ký nhưng không sử dụng dịch vụ hay sử dụng rất ít và

khơng thường xun.

Doanh thu từ dịch vụ Mobile Banking trong tổng thu còn rất thấp,

chưa tương xứng với tiềm năng công nghệ thông tin của ngân hàng.

Ngân hàng chưa có sự hướng dẫn chi tiết với việc sử dụng phần

mềm cài đặt trên điện thoại cho khách hàng mà chỉ tập trung vào phương

pháp nhắn tin.

Sự phối kết hợp để triển khai dịch vụ giữa các phòng nghiệp vụ

chưa đồng bộ,các phòng chưa có đề xuất cũng như những giải pháp để phát

triển dịch vụ,…

2.3.3 Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại

* Nguyên nhân chủ quan

- Về hình thức và chất lượng dịch vụ



60



+ Dịch vụ sử dụng nhắn tin theo cú pháp tuy không quá phức tạp nhưng

cũng không thực sự dễ nhớ đối với mọi khách hàng, có nhiều dịch vụ trong

chùm Mobile Banking nên phát sinh nhiều cú pháp tin nhắn dễ gây nhầm

lẫn cho khách hàng làm hạn chế sự thích thú khi sử dụng dịch vụ.

+ Với tiện ích của phần mềm có thể cài đặt trên điện thoại, khách hàng

khơng phải nhớ cú pháp nhắn tin thì bắt buộc khách hàng cần có hỗ trợ

GPRS trên điện thoại do đó một số khách hàng ngại cài đặt ứng dụng, hay

có khi máy điện thoại khơng có chức năng cài đặt thì càng làm cho việc sử

dụng dịch vụ trở lên khó khăn.

+ Ngân hàng rất chú trọng việc hướng dẫn nhắn tin tới tổng đài để sử

dụng dịch vụ trong khi hình thức sử dụng phần mềm cài đặt lại khơng có

hướng dẫn chi tiết mà chỉ có thông tin soạn tin nhắn để tải về điện thoại di

động, khách hàng phải nhớ cú pháp tin nhắn này mà không thể tải trực tiếp

từ trang web của ngân hàng Nơng nghiệp. Vì vậy, điều này làm cho nhiều

khách hàng không biết đến phần mềm này, cũng như không thuận lợi trong

việc tiếp cận để sử dụng.

- Về trình độ, năng lực cán bộ, công nhân viên:

Do phần lớn cán bộ công nhân viên trong chi nhánh đều là cán bộ trẻ

nên còn thiếu kinh nghiệm trong những nghiệp vụ ngân hàng mới mẻ như

Mobile Banking.



61



- Về công tác quảng bá tuyên truyền

Chưa làm cho khách hàng biết tới sản phẩm dịch vụ này của chi

nhánh, việc quảng bá dịch vụ Mobile Banking mới chỉ dừng lại ở dạng tờ

rơi ở quầy giao dịch, chưa có những phương tiện quảng cáo mới mẻ làm

cho những khách hàng quan tâm và sử dụng dịch vụ.

* Nguyên nhân khách quan

+ Yếu tố pháp luật: thị trường Mobile Banking là thị trường tương đối mới

mẻ ở Việt Nam nên các điều kiện pháp lý cho dịch vụ chưa đầy đủ trong

khi thị trường này là một thị trường tiềm năng cho sự thành công trong

kinh doanh trong tương lai của các NH. Hiện nay chưa có một văn bản

pháp quy cụ thể cho dịch vụ Mobile Banking nhằm quy định quyền và

nghĩa vụ của các bên tham gia. Mặt khác, cũng chưa có chính sách quy

định nào về việc bảo vệ an toàn cho người sử dụng, những ràng buộc của

các bên liên quan đến những sai sót, vi phạm vơ tình hay cố ý gây nên rủi

ro cho bản thân người sử dụng và chủ thể khác.

+ Bản thân người sử dụng: Phần lớn người dân có nhu cầu, nhưng lại chưa

có thói quen, còn bỡ ngỡ với các dịch vụ mới; tâm lý e dè, ngại tìm hiểu, sợ

rủi ro đã ngăn cản việc tiếp cận của người tiêu dùng với các hình thức

thanh tốn mới. Bởi vậy cơng tác tiếp thị khách hàng cần được quan tâm

đặt lên hàng đầu.

+ Tình hình thanh tốn khơng dùng tiền mặt ở Việt Nam còn thấp, tỷ trọng

sử dụng tiền mặt trong lưu thơng ngồi hệ thống ngân hàng/ tổng phương

tiện thanh tốn còn tương đối cao, chính tâm lý dùng tiền mặt và sự hiểu

biết về dv NH của đa số người dân Việt Nam còn thấp cũng là một nguyên

nhân để cho việc mở rộng dịch vụ Mobile Banking còn gặp nhiều khó

khăn.



62



2.3.4. Triển vọng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử và Mobile

Banking tại chi nhánh Tam Trinh

Cho đến nay hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước phát

triển mãnh mẽ, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng trong

và ngoài nước là động lực to lớn thúc đẩy mỗi ngân hàng phải tự hồn

thiện và nâng cao chính mình để lơi kéo khách hàng với chất lượng cung

ứng dịch vụ là tốt nhất. Việt Nam với dân số hơn 86 triệu người là một thị

trường rộng lớn và đầy tiềm năng. Xuất phát điểm là một quốc gia đang

phát triển, cả xã hội không ngừng học hỏi, nâng cao kiến thức, hiện đại hóa

hơn trong tiến trình hội nhập quốc tế. Bởi vậy, người dân Việt Nam ngày

càng quan tâm tới những cơng nghệ hiện đại, những dịch vụ hiện đại trong

đó dịch vụ ngân hàng điện tử luôn dành được sự quan tâm cao nhất của

khách hàng.

Theo kết quả khảo sát cuối năm 2010 của nguồn tình báo tồn cầu

comScore cho thấy số người sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến ở Việt

Nam đã tăng 35% từ 701.000 lên 949.000 trong năm 2010 và Việt Nam là

một trong những nước có tỷ lệ tăng hàng năm cao nhất khi các ngân hàng

ngày nay cung cấp tốt hơn những dịch vụ trực tuyến này. Bởi vậy dịch vụ

Mobile Banking cũng có những triển vọng phát triển to lớn, cụ thể như:

+ Về tỷ lệ người sử dụng điện thoại di động: Theo khảo sát của Công ty

nghiên cứu thị trường Nielsen về tỷ lệ người Việt Nam sử dụng điện thoại di

động (ĐTDĐ) thì cuối năm 2010 trong 5.000 người tại các thành phố và

ngoại thành của Việt Nam có 58% dân thành thị và 37% dân khu vực ngoại

thành có điện thoại di động riêng. Tại TP.HCM và Hà Nội, tỷ lệ này lên đến

74%. Những con số này còn cao hơn Trung Quốc và Ấn Độ với tỷ lệ dân số

sở hữu ĐTDĐ lần lượt là 46% và 30%. Đa số người Việt Nam trong độ tuổi

từ thanh thiếu niên đến 60 tuổi đều có một thậm chí hai chiếc ĐTDĐ.

+ Về tỷ lệ người có tài khoản ngân hàng: Với dân số hơn 86 triệu người

trong khi chỉ có khoảng 12 triệu người có tài khoản ngân hàng (tương đương



63



với 14% dân số) chứng tỏ độ bao phủ dịch vụ ngân hàng cá nhân là thấp.

Hiện cả nước có khoảng 17 triệu chủ thẻ kể cả quốc tế và nội địa. Qua đó

việc nâng cao tỷ lệ người mở tài khoản tại ngân hàng là mục tiêu lớn đối với

ngân hàng trước khi cung ứng các dịch vụ ngân hàng.

+ Về dịch vụ viễn thông di động: Tại Việt Nam có 7 nhà cung cấp dịch vụ

viễn thơng di động đang hoạt động, phủ sóng rộng khắp mọi miền đất

nước. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, số lượng thuê bao

di động của Việt Nam tính đến tháng 11/2010 đạt 80 triệu th bao, bình

qn một người dân sở hữu một thuê bao điện thoại di động. Việc sử dụng

điện thoại di động không chỉ phổ biến trong lớp trẻ hay ở thành thị mà đã

phổ biến với mọi đối tượng. Có thể nói Việt Nam là thị trường có tiềm

năng rất lớn để khai thác các dịch vụ thanh toán di động.

Như vậy, với tốc độ phát triển “chóng mặt” của thị trường điện thoại di

động và những ứng dụng ngày càng phong phú cho thiết bị này, Mobile

banking - thanh toán qua điện thoại di động đang là một lĩnh vực đầy tiềm

năng cho các ngân hàng và doanh nghiệp Việt Nam. Thử làm một ước tính

nhỏ, với hơn 80 triệu thuê bao vào năm 2010 và với hàng trăm loại dịch vụ

có nhu cầu thanh tốn như: cước viễn thơng, điện, nước, truyền hình cáp,

internet, chuyển tiền, mua hàng….thì số lượng khách hàng của Mobile

banking sẽ là một con số khổng lồ.

Ngân hàng NHNo & PTNT Việt Nam nói chung và chi nhánh Tam

Trinh nói riêng cũng đang nhận thấy những tiềm năng to lớn trên thị

trường Việt Nam, cũng với những nỗ lực triển khai dịch vụ ngân hàng điện

tử và Mobile Banking trong ba năm qua, ngân hàng vẫn đang tiếp tục tận

dụng những lợi thế sẵn có cùng với những điều kiện khách quan thuận lợi

hướng tới xây dựng một hệ thống dịch vụ ngân hàng hiện đại nhất.



64



Chương 3

CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN

DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ VÀ MOBILE BANKING

TẠI CHI NHÁNH NHNo & PTNT TAM TRINH

3.1 Định hướng phát triển sản phẩm dịch vụ của NHNo & PTNT Việt

Nam

3.1.1. Định hướng chung trong hoạt động kinh doanh

Với phương châm vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững của khách

hàng và ngân hàng, mục tiêu của AGRIBANK là tiếp tục giữ vững vị trí

ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam tiên tiến trong khu vực và có uy

tín cao trên trường quốc tế.AGRIBANK kiên trì với định hướng chiến lược

phát triển là:

-



Đảm bảo đẩy nhanh tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, tăng



cường hợp tác, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, cơng nghệ

tiên tiến của các nước, các tổ chức tài chính-ngân hàng quốc tế đảm bảo hoạt

động đạt hiệu quả cao, ổn định và phát triển bền vững.

-



Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức hợp lý, đảm bảo cân



đối, an toàn và khả năng sinh lời

-



Đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp,



nông thôn, mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng đủ năng lực

cạnh tranh

-



Tập trung đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ ngân



hàng theo hướng hiện đại hoá, đủ năng lực cạnh tranh và hội nhập.

-



Nâng cao năng lực tài chính và phát triển giá trị thương hiệu trên



cơ sở đẩy mạnh và kết hợp với văn hoá doanh nghiệp.

-



Tập trung đầu tư cho hệ thống tin học trên cơ sở đẩy nhanh tốc độ



thực hiện tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng điều hành và phục vụ



65



-



Triển khai các biện pháp phòng ngừa rủi ro nhằm đảm bảo cho



hoạt động ngân hàng được an toàn, hiệu quả, bền vững.

3.1.2. Định hướng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử và Mobile

Banking

Do tính tất yếu về phát triển ngân hàng, dịch vụ ngân hàng hiện đại

đang là vấn đề quan tâm lớn đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam.

NHNo & PTNT Việt Nam cũng khơng nằm ngồi xu thế đó. Một mặt tích

cực nâng cao hiệu quả của các dịch vụ ngân hàng truyền thống, đảm bảo tốc

độ tăng trưởng vững chắc và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu. Mặt

khác, Agribank cũng đưa ra những định hướng chiến lược trong phát triển

dịch vụ ngân hàng điện tử với mục tiêu làm tăng nguồn thu từ các dịch vụ

này, năm sau cao hơn năm trước, mức tăng bền vững và ổn định, tốc độ tăng

cao hơn tốc độ tăng của các sản phẩm dịch vụ truyền thống để nguồn thu từ

dịch vụ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của ngân hàng. Thực

hiện đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ hiện đại đồng thời đảm bảo chất

lượng dịch vụ tốt nhất làm cho tất cả các sản phẩm, dịch vụ đều được khách

hàng ưa dùng, tạo nguồn thu lớn về dịch vụ. Trong đó, phấn đấu tăng thu từ

dịch vụ Mobile Banking để đạt được tỷ trong tương đối lớn trong tổng thu

về dịch vụ, thu hút số lượng khách hàng tham gia chiếm tỷ trọng lớn trong

tổng số khách hàng có tài khoản tại ngân hàng, tích cực nâng cao vai trò và

đảm bảo chất lượng cơng tác tiếp thị, marketing nhằm tăng số lượng giao

dịch và tần suất giao dịch trong tất cả các sản phẩm, dịch vụ Mobile

Banking.

3.2. Các giải pháp giải quyết các vấn đề tồn tại thuộc chủ quan của chi

nhánh Tam Trinh

Hướng tới mục đích phát triển hơn nữa, đưa dịch vụ ngân hàng điện tử

và Mobile Banking tiến sâu hơn nữa vào đời sống sinh hoạt cũng như kinh

doanh của các cá nhân và doanh nghiệp, biến Mobile Banking trở thành



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Đánh giá thực trạng triển khai và triển vọng về dịch vụ Mobile Banking tại NHNo Tam Trinh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x