Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c, Mô hình hợp tác ngân hàng - viễn thông (Partnership model)

c, Mô hình hợp tác ngân hàng - viễn thông (Partnership model)

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



1.3.2. Kinh nghiệm triển khai Mobile Banking của một số nước

Tiến hành nghiên cứu thị trường Mobile Banking của các nước trên thế

giới là một bước khởi đầu cho quyết định thực thi dịch vụ này của các ngân

hàng thương mại Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu chung nhất về Mobile

Banking trên thế giới, những kinh nghiệm hữu ích nhất sẽ thu được nếu đi

vào tìm hiểu và học hỏi từ những nước có chung điều kiện kinh tế xã hội với

nước ta và đã triển khai thành công. Việc thực hiện nghiên cứu khái quát

tình hình phát triển dịch vụ Mobile Banking tại hai quốc gia là Trung Quốc

và Philipin sẽ giúp cho các NHTM Việt Nam có cái nhìn tích cực về triển

vọng phát triển dịch vụ này.

a, Trung Quốc

Đây là quốc gia được coi là dẫn đầu trong việc sử dụng rộng rãi ngân

hàng di động. Áp dụng mơ hình hợp tác ngân hàng – viễn thông, hầu hết các

ngân hàng tại Trung Quốc đều triển khai cung ứng dịch vụ Mobile Banking

tới mọi đối tượng khách hàng. Theo một khảo sát mới đây của KPMG, 77%

người sở hữu điện thoại di động thực hiện các giao dịch tài chính trên điện

thoại trong đó 44% là cho các giao dịch bán lẻ, 43% cho các giao dịch tài

chính. Với sự sẵn có rộng rãi của điện thoại thơng minh và máy tính bảng,

nhiều ngân hàng đại lục đang gấp rút để cung cấp các dịch vụ ngân hàng

dành riêng nhằm thu hút được nhiều người sử dụng. Các ngân hàng như

Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc, Ngân hàng

Công thương Trung Quốc, Ngân hàng Truyền thông đều đã mở "ngân hàng

di động" nhằm mục tiêu dịch vụ điện thoại thông minh và người sử dụng

máy tính bảng. Tại Trung Quốc, người sử dụng dịch vụ có thể thơng qua tin

nhắn ngắn gửi đến số mã khác nhau hoặc truy cập Internet di động để thực

hiện các giao dịch về kiểm tra tài khoản, chuyển nhượng, chuyển, thanh toán

tiền, ...



27



Theo báo cáo của 3G.cn, một công ty về nền tảng dịch vụ ứng dụng

ĐTDĐ hàng đầu Trung Quốc, hơn 52% người dùng Internet di động đã sử

dụng các dịch vụ ngân hàng di động vào cuối tháng 2/2011, mức tăng đáng

kể so với tỷ lệ 37% vào tháng 7/2010. Điều này cho thấy khả năng tiếp cận

các thiết bị hiện đại của người Trung Quốc ngày càng tăng lên đáng kể, là

một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ Mobile Banking tại thị

trường này.

b, Philippines

Mobile Banking là một dịch vụ cũng phát triển mạnh mẽ ở

Philippines trong đó thanh tốn qua điện thoại di động đang là kênh thanh

toán bán lẻ được ưa chuộng. NHTW Philippine là cơ quan quản lý việc cung

cấp các dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động. Theo NHTW Philippines,

đây là lọai hình dịch vụ hỗ trợ đắc lực cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng,

giúp những người ở các khu vực vùng sâu, vùng xa tiếp cận được dịch vụ

ngân hàng. Điểm đặc biệt hơn là dịch vụ này góp phần thúc đẩy sự phát triển

của các khu vực còn nghèo trên đất nước và cung cấp một phương tiện

chuyển tiền nhanh, rẻ tiền, tiện lợi cho khu vực nông thôn. Triển khai dịch

vụ này từ năm 2004, NHTW Philippines đã vừa cho phép các ngân hàng

phối hợp với các công ty viễn thơng và các tổ chức liên quan triển khai thí

điểm dịch vụ, đồng thời từng bước nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện cơ

sở pháp lý cho dịch vụ này. Trong thời gian đầu khi xuất hiện dịch vụ,

NHTW Philippine cũng gặp một số khó khăn nhất định về hành lang pháp lý

cho hoạt động này như không biết nên quy định dịch vụ ví điện tử và chuyển

tiền trên điện thọai di động vào lọai hình gì và quản lý như thế nào vì dịch

vụ do một đơn vị viễn thông không phải là ngân hàng cung cấp, đồng thời

khi đó cũng chưa có nước nào trên thế giới triển khai dịch vụ này nên

Philippine cũng khơng có hình mẫu để tham khảo. Tuy nhiên, Philippine

cũng có thuận lợi là có 2 mạng điện thoại di động lớn với cơ sở hạ tầng tốt

và 60% dân số đều đã sử dụng điện thoại di động. Sau 5 năm triển khai đến



28



nay, tại Phillipine đã có trên 7 triệu người/ 90 triệu dân số sử dụng dịch vụ.

Hai sản phẩm điển hình tại Philippines hiện nay đó là G-Cash của Công ty

viễn thông Globe Telecom và Smart Money của Công ty viễn thông Smart

và Ngân hàng Banco de Oro. G-Cash và Smart Money đều là phương tiện

thanh toán qua di động sử dụng tin nhắn ngắn (SMS), cho phép khách hàng

thực hiện chuyển tiền qua điện thoại di động, thanh toán bán lẻ. Tỷ lệ sử

dụng điện thoại di động khoảng 60% dân số ở Philippines với 200 triệu tin

nhắn được gửi đi mỗi ngày chính là điều kiện cơ bản để có thể phát triển sâu

rộng hơn nữa phương tiện thanh tốn này trên tồn quốc.

1.3.3.Bài học rút ra

Tham khảo ba mơ hình thương mại di động trên thế giới, đồng thời

học hỏi kinh nghiệm của hai nước có chính sách phát triển và điều kiện

kinh tế xã hội tương đồng (Trung Quốc giống Việt Nam ở định hướng phát

triển nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa, còn Philippine lại

có hồn cảnh kinh tế xã hội, dân số tương tự), Việt Nam đã lựa chọn mơ

hình Ngân hàng hợp tác viễn thơng để phát triển hệ thống dịch vụ ngân

hàng qua điện thoại di động. Mở đầu cho triển khai dịch vụ này tại Việt

Nam, ngân hàng Á Châu đã tiên phong tiến hành năm 2003, trên cơ sở hợp

tác với Công ty Phần mềm & Truyền thông VASC và hai nhà cung cấp dịch

vụ điện thoại di động lớn là MobiFone và VinaPhone . Tới nay đã có hàng

loạt các ngân hàng tham gia vào thị trường này, phấn đấu đưa Mobile

Banking trở thành dịch vụ ngân hàng thân thiện nhất với mọi khách hàng.

Để đạt được sự thành công như các nước đi trước, Việt Nam cần phát

huy nhiều mặt như:

+ Xây dựng một hệ thống ngân hàng đủ mạnh về vốn, về cơng nghệ hạ

tầng kỹ thuật, về năng lực tài chính, năng lực quản lý,…để có thể tiếp cận

và ứng dụng tốt với các dịch vụ ngân hàng hiện đại.

+ Xây dựng hành lang pháp lý, quy định khung cho thị trường NH di

động, tạo cơ sở vững chắc cho các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này

cũng như có căn cứ để giải quyết tranh chấp, bảo về quyền lợi của các bên



29



tham gia. Tuy nhiên điều quan trọng là cần có sự quản lý, hỗ trợ của ngân

hàng trung ương về chính sách phát triển dịch vụ, những định hướng về

phát triển công nghệ làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng thực hiện thống

nhất.

+ Đầu tư nâng cấp hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin, cần tăng cường

hợp tác về lĩnh vực công nghệ với các hãng sản xuất cơng nghệ, các tổ

chức tài chính, ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Đồng thời tranh

thủ sự hỗ trợ nhiều mặt: tài chính, kỹ thuật, kinh nghiệm,…của các nước và

tổ chức quốc tế để từng bước đưa công nghệ và ứng dụng công nghệ thơng

tin vào ngân hàng Việt Nam đến trình độ cao.

+ Mở rộng, nâng cao cơ sở hạ tầng viễn thông di động, đưa cơng nghệ

di động phủ sóng tồn quốc với chất lượng cao; tăng cường mối quan hệ

phối hợp chặt chẽ giữa công ty di động, ngân hàng và đơn vị có liên quan

nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Mobile Banking.

+ “Ngân hàng hóa” nền kinh tế, nâng cao nhận thức của người dân, đặc

biệt là người dân ở khu vực nông thôn; tuyên truyền, quảng bá làm tăng số

lượng khách hàng và khối lượng giao dịch thực hiện.

+ Tích cực đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hiện có, đồng thời tuyển

dụng mới cả về số lượng lẫn chất lượng đủ khả năng đón nhận chuyển giao

các công nghệ mới, thường xuyên phổ cập kiến thức nghiệp vụ cũng như

công nghệ thông tin cần ứng dụng cho đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ

nghiệp vụ ngân hàng để từng bước chuẩn hóa trình độ năng lực cũng như

kỹ năng phục vụ khách hàng những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử

và Mobile Banking.



30



Chương 2

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ

MOBILE BANKING TẠI NHNo & PTNT TAM TRINH

2.1. Khái quát về môi trường kinh tế xã hội và quá trình hình thành,

phát triển của NHNo Tam Trình

2.1.1. Khái qt về mơi trường kinh tế, xã hội trên địa bàn

a, Khái quát chung



Địa bàn quận Hoàng Mai được coi là một trong những quận có

tiềm năng tăng trưởng và phát triển kinh tế mạnh mẽ của thủ đơ Hà Nội.

Quận Hồng Mai nằm ở phía Đơng Nam thành phố Hà Nội, phía Bắc giáp

quận Hai Bà Trưng; phía Đơng giáp Sơng Hồng nhìn sang huyện Gia Lâm;

phía Tây giáp huyện Thanh Trì và quận Thanh Xn; phía Nam giáp huyện

Thanh Trì nổi tiếng với nhiều làng nghề ẩm thực như bánh cuốn Thanh Trì,

bún ốc Pháp Vân, đậu phụ Mơ. Trong những năm qua, quận Hoàng Mai đã

vươn lên, phát triển khá toàn diện về nhiều mặt, trong đó kinh tế ln tăng

trưởng cao, tỷ lệ tăng trưởng bình quân 17,47%/năm. Hiện nay, trên địa

bàn quận có hơn 4.562 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh,

trong đó có 31 doanh nghiệp nhà nước; 4.151 doanh nghiệp ngồi nhà

nước, 16 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi và một số loại hình doanh

nghiệp khác.

Quận Hồng Mai là một đầu mối giao thơng quan trọng của cả thành

phố khi nơi đây có hai bến xe lớn: ga đường sắt Giáp Bát và bến xe ơ tơ

phía Nam. Ngồi ra, trên địa bàn quận có đường giao thơng đường thuỷ

Sơng Hồng nối mạch giao thơng giữa quận Hồng Mai với các tỉnh phía

Bắc, phía Tây và phía Nam; có các đường giao thơng quan trọng đi qua

quốc lộ 1A, 1B, đường vành đai 3, cầu Thanh Trì...



31



b, Những thuận lợi cho phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng

- Quận Hồng Mai có vị trí địa lý chiến lược, là một trong những đầu mối

giao thông quan trọng của thành phố bởi vậy luôn có một lượng lớn người

qua lại trên địa bàn góp phần thu hút thêm một lượng khách hàng cho các

doanh nghiệp và ngân hàng trong quận.

- Dân số của quận tương đối đông là một lượng khách hàng lớn, trong đó

đối tượng dân số trẻ như sinh viên, viên chức tương đối lớn là khách hàng

mục tiêu của ngân hàng khi cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện

đại.

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm qua của quận luôn khá cao,

thu nhập người dân ngày càng tăng góp phần thúc đẩy nhu cầu sử dụng các

dịch vụ ngân hàng tăng cao, tạo điều kiện tăng khả năng cung ứng của các

ngân hàng trên địa bàn quận.

- Tiềm năng phát triển kinh tế của quận là rất lớn, đặc biệt tại khu đô thị

mới Đền Lừ. Đó là điều kiện khách quan quan trọng tạo triển vọng phát

triển các sản phẩm dịch vụ đặc biệt là dịch vụ ngân hàng hiện đại .

- Số lượng chi nhánh ngân hàng tại đây chưa nhiều, thị trường còn tương

đối rộng rãi cho các chi nhánh đã thành lập trên địa bàn, có nhiều lợi thế để

tăng quy mơ khách hàng.



c, Những khó khăn cho phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng

-Tuy có sự tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng nhìn chung vẫn còn là thấp

so với nhiều quận khác trong thành phố, tình hình giao dịch thương mại

chưa thật sôi động.

- Dân cư khu vực này ít hơn so với khu vực trung tâm thành phố. Mức

sống của người dân vẫn chưa thực sự cao nên chưa để ý và sử dụng nhiều

dịch vụ ngân hàng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c, Mô hình hợp tác ngân hàng - viễn thông (Partnership model)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x