Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.4 Cơ cấu các khoản thu ngân sách xã hưởng 100% năm 2012-2014

Bảng 2.4 Cơ cấu các khoản thu ngân sách xã hưởng 100% năm 2012-2014

Tải bản đầy đủ - 0trang

26

Đây là khoản thu mang tính hồn trả trực tiếp. Khoản thu này bù đắp chi

phí cho hoạt động của xã khi xã thực hiện cung cấp các dịch vụ cho nhân dân.

Theo bảng 2.3, 2.4 và các báo cáo thực hiện các chỉ tiêu thu NSX chúng

ta nhận thấy, hiện nay khoản thu này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu

NSX hưởng 100%: năm 2012 tỷ lệ này là 1,16%; năm 2013 tỷ lệ này là

1,84%; năm 2014 tỷ lệ này là 2,02% tuy vậy nó vẫn giữ vai trò rất quan trọng

trong việc tăng nguồn thu NSX.

Thực tế kết quả thu phí, lệ phí 3 năm qua cho ta thấy số thu phí, lệ phí

tăng lên qua các năm. Cụ thể: năm 2012 thu 1,189 triệu đồng; năm 2013 thu

1,196 triệu đồng; năm 2014 thu 1,375 triệu đồng.

Bên cạnh các xã thực hiện tốt dự toán được giao như: Thị Trấn, Đơng

Long, Đơng Phong… có số thu phí, lệ phí đạt từ 110% dự tốn trở lên trong

cả 3 năm thì vẫn còn tồn tại khơng ít xã thực hiện chưa tốt cơng tác thu phí, lệ

phí khi mà mà số thu chưa đạt 50% dự toán giao như: Đơng Hồng, Nam Phú,

Tây An, Tây Tiến…

Một số khoản thu phí, lệ phí có số thu lớn tại các xã như là: phí chợ, lệ

phí cơng chứng… Các xa tiến hành bổ sung, bãi bỏ một số khoản phí,lệ phí

theo quy định năm 2012 bãi bỏ lệ phí đăng ký hộ tịch.

Hiện nay cơng tác thu phí, lệ phí vẫn còn tồn tại tình trạng: thu mà khơng

có chứng từ ghi thu, sổ sách theo đúng quy định; kế tốn chưa theo dõi

thường xun gây nên tình trạng thất thoát nguồn thu cần phải được khắc

phục kịp thời.

Thu từ quỹ đất cơng ích và hoa lợi cơng sản

Trên địa bàn huyện Tiền Hải đây là khoản thu từ đấu thầu, thu khốn

theo mùa vụ từ quỹ đất cơng ích và HLCS khác theo quy định của pháp luật

do xã quản lý là khoản thu chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong thu NSX hưởng

100%.



27

Từ bảng 2.3 và 2.4 cho chúng ta thấy số thu từ quỹ đất cơng ích và

HLCS trong 3 năm qua không biến động mạnh và có xu hướng giảm: năm

2012 thu 700 triệu đồng; năm 2013 thu 520 triệu đồng; đến năm 2014 thu 510

triệu đồng.

Tỷ trọng của khoản thu này còn thấp trong cơ cấu các khoản thu NSX

hưởng 100%: năm 2012 tỷ lệ này là 0,68%; năm 2013 tỷ lệ là 0,8%; năm

2014 tỷ lệ này là 0,75%.

Nguyên nhân của tình trạng giảm dần là do: từ năm 2011 thì khoản thu

từ đất cơng ích 5% được chuyển sang tính vào tiền th đất khiến cho khoản

này chỉ còn thu từ HLCS. Mặt khác những năm trở lại đây do sự phát triển về

các loại hình kinh tế khác như tiểu thủ cơng nghiệp, dịch vụ, làng nghề… thu

hút được nhiều lao động nông thôn và tạo ra mức thu nhập cao hơn so với làm

ruộng, chính vì vậy mà nơng dân khơng còn mặn mà với việc cấy lúa, trồng

màu như trước. Bên cạnh những xã tích cực năng động trong việc khai thác

tiềm năng này cũng còn khơng ít các xã chưa chú trọng đầu tư khai thác, còn

để lãng phí. Một số xã thực hiện khoán từng năm nên người nông dân không

dám bỏ vốn đầu tư. Một số xã khác do nhu cầu vốn đầu tư xây dựng các cơng

trình lớn nên đã khốn nhiều năm thu một lần gây khó khăn cho ngân sách

những năm sau. Ngồi ra, còn một nguyên nhân quan trọng khác là do đa

phần các xã lấy từ diện tích quỹ đất cơng ích để quy hoạch khu dân cư bán thu

tiền sử dụng đất, quy hoạch các cụm công nghiệp, thực hiện các dự án cơng

trình phúc lợi địa phương… đây là ngun nhân quan trọng làm tỷ lệ khoản

thu này thấp.

Thu đền bù

Từ bảng 2.3 và 2.4 chúng ta có thể nhận thấy khoản thu từ đền bù cơng

trình qua xã từ năm 2012 đến 2013 giảm mạnh nhưng đến năm 2014 có xu

hướng tăng và chiếm tỷ trọng khơng ổn định trong tổng số thu NSX hưởng



28

100% cụ thể là: năm 2012 chiếm 23%; năm 2013 chiếm 11,91%; năm 2014

chiếm 23,26%.

Thu đền bù chủ yếu là do đền bù cho UBND xã khi có cơng trình đi qua

địa phận của xã và thu đền bù để chi đền bù cho giải phóng mặt bằng để đấu

giá quyền sử dụng đất. Khoản thu từ đền bù năm 2012, 2014 tăng cao tuy

nhiên khoản thu này khơng có tính chất ổn định. Vì vậy việc khai thác nguồn

thu không nên phụ thuộc quá vào khoản thu này.

Thu nhân dân đóng góp

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát huy nội lực, động

viên nhân dân đóng góp sức người, sức của để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,

phát triển KT-XH theo cơ chế Nhà nước hỗ trợ, nhân dân đóng góp. Do yêu

cầu về vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH là rất lớn, NSNN thì có giới

hạn khơng thể đảm đương tồn bộ mà cần phải có sự đóng góp của nhân dân

để “cùng làm” với Nhà nước. Vì vậy, các xã muốn có vốn để đầu tư xây dựng

các cơng trình phải tăng cường vận động nhân dân đóng góp. Trong các khoản

thu mà NSX được hưởng 100% thì khoản thu đóng góp của nhân dân ln

vượt dự tốn được giao và có xu hướng tăng qua các năm. Khoản thu này đa

phần được các xã thực hiện một cách công khai dân chủ nên mọi người tin

tưởng, ủng hộ. Các xã thực hiện tốt công tác này như: Tây Sơn, Tây Ninh,

Đông Lâm, Đơng Cơ…, đã có hệ thống đường bê tơng liên thơn hồn chỉnh,

trường lớp cho học sinh được xây dựng khang tranh sạch đẹp, mỗi thơn đều

có nhà văn hóa riêng...

Bên cạnh đó vẫn còn có một số xã chưa thực hiện tốt được công tác thu

này, mặc dù cơ sở vật chất còn tồi tàn nhưng khi huy động đóng góp sức

người sức của từ nhân dân thì gặp rất nhiều khó khăn do những năm trước đây

chính quyền các xã này đã nói mà khơng làm được, thu đóng góp của nhân

dân nhưng đầu tư xây dựng chậm trễ, khơng hiệu quả, gây thất thốt, cơng



29

trình xây dựng được vài năm thì đã bị xuống cấp nghiêm trọng gây mất lòng

tin của nhân dân.

Thu kết dư ngân sách năm trước

Đây là khoản tiền chênh lệch giữa tổng thu và tổng chi NSX, khoản này

được chuyển toàn bộ vào thu NSX năm sau. Tuy nhiên, thu kết dư ngân sách

quá lớn đặc biệt là năm 2012 thu kết dư chiếm tới 39,93% trong tổng số thu

ngân sách xã được hưởng 100%. Cụ thể điều hành chi đầu tư xây dựng cơ bản

còn yếu, kết thúc năm còn để kết dư ngân sách nhiều làm lãng phí. Nguyên

nhân thứ nhất là do các xã chưa chủ động điều hành trong lĩnh vực xây dựng

cơ bản, triển khai cơng trình chậm, hồ sơ quyết tốn chưa hồn thiện theo quy

định dẫn đến khơng thanh tốn được. Tình trạng cơng nợ trong xây dựng cơ

bản còn nhiều nhất là các xã khơng có nguồn thu để đầu tư xây dựng. Nguyên

nhân thứ hai do các xã triển khai cơng trình khơng căn cứ vào nguồn thu của

xã. Tuy nhiên từ năm 2013 đến năm 2014 tình trạng này đã cải thiện, tỷ lệ thu

kết dư khơng còn q lớn nhưng vẫn đảm bảo số thu lớn hơn số chi.

Thu khác

Thu khác bao gồm: thu lễ hội di tích, thu nợ thường xuyên, thu từ cho

thuê cột phát sóng và một số khoản thu khác tại xã.

Nhìn vào bảng 2.3 chúng ta nhận thấy thu khác ngày càng giảm tử 2,882

triệu đồng xuống còn 2,077 triệu đồng từ năm 2012 đến 2014.

Thu chuyển nguồn

Khoản thu này phát sinh do kinh phí năm trước được chuyển sang năm

sau để tiếp tục các nhiệm vụ chi đã đặt ra ở năm trước mà chưa hoàn thành,

chuyển sang năm nay thực hiện tiếp. Khoản thu chuyển nguồn càng cao

chứng tỏ rằng nhiệm vụ chi của năm trước chưa được hoàn thành càng nhiều.

Qua bảng 2.3 và 2.4 chúng ta nhận thấy: năm 2012 số thu này là 14,164

triệu đồng chiếm 13,83% tổng thu NSX hưởng 100%, tới năm 2013 số thu

này là 18,000 triệu đồng chiếm 27,74% tổng thu NSX hưởng 100%, năm



30

2014 thu chuyển nguồn tiếp tăng tới mức 19,530 triệu đồng chiếm 28,75%

tổng thu NSX hưởng 100%.

Đây là khoản thu chiếm tỷ lệ không nhỏ trong thu NSX hưởng 100%, số

thu chuyển nguồn trong 3 năm qua càng tăng, những con số này thể hiện rằng

nhiệm vụ chi của năm chưa hoàn thành mà cụ thể ở đây là chi cho đầu tư xây

dựng cơ bản khơng hết do cơng trình thi cơng khơng kịp tiến độ nên không

chi hết được số giao dự tốn đầu năm vì vậy được chuyển nguồn sang ngân

sách năm sau.

2.2.3.2 Các khoản thu phân theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách xã với

ngân sách cấp trên

Một nguồn thu NSX khác đó chính là nguồn thu ngân sách xã phân chia

theo tỷ lệ phần trăm giữa NSX với ngân sách cấp trên. Đây là khoản thu phân

phối cho xã nhằm mục đích tăng nguồn thu cho NSX, đồng thời đảm bảo nhu

cầu chi thường xuyên cho xã.

Thực hiện thông tư 60/2003/TT-BTC, các xã thị trấn trên địa bàn huyện

đã tiến hành thu và quản lý các khoản thu phân chia một cách tích cực. Nhờ

vậy số thu ln vượt dự tốn được giao song chưa ổn định. Nhìn bảng 2.2 ta

thấy năm 2012 thu 76,831 triệu đồng chiếm 23,83% tổng thu NSX; năm 2013

thu 61,760 triệu đồng chiếm 18,68% tổng thu NSX; năm 2014 thu 66,793

triệu đồng chiếm 19,04% tổng thu NSX.



31

Bảng 2.5 Các khoản thu ngân sách xã hưởng theo tỷ lệ % năm 2012-2014



Đvt: triệu đồng

Năm

Nội dung

Tổng

GTGT + TNDN

Thuế mơn bài

Thuế tài ngun

Lệ phí trước bạ

Thuế sử dụng đất phi

nông nghiệp

Tiền sử dụng đất

Tiền thuê đất

Thuế TNCN



Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

DT

TH

DT

TH

DT

TH

68,065 76,831 56,427 61,760 51,437 66,793

11,050 9,731 8,726 8,650 6,972 6,991

725

630

652

630

630

600

100

24

100

177

814

850

963

900

910

805

1,108

850



853



749



882



680



1,044



50,000 58,486 39,300 43,568 39,000 48,994

2,350 5,059 5,300 5,500 2,350 5,947

630

1,049

700

1,432 1,000 1,295



Nguồn: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tiền Hải



32

Bảng 2.6 Cơ cấu các khoản thu ngân sách xã hưởng theo tỷ lệ

% năm 2012-2014



Đvt: triệu đồng

Năm



Năm 2012



Tổng



76,831



GTGT + TNDN



9,731



100%



Năm 2013



Năm 2014



61,760



100%



66,793



8,650



14%



6,991



12,67

%



100%

10,46

%



Thuế môn bài



630



0.82%



630



1,02%



600



0,9%



Thuế tài ngun



24



0,03%



177



0,29%



814



1,22%



Lệ phí trước bạ



963



1,25%



910



1,47%



1,108



1,66%



853



1,11%



882



1,43%



1,044



1,56%



Thuế sử dụng đất phi

nơng nghiệp



76,12



Tiền thuê đất



5,059



6,63%



5,500



8,9%



5,947



8,9%



Thuế thu nhập cá nhân



1,049



1,37%



1,432



2,35%



1,259



1,95%



%



48,994



73,35



58,486



%



43,568



70,54



Tiền sử dụng đất



%



Nguồn: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tiền Hải

Thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Từ bảng 2.5, 2.6 chúng ta nhận thấy khoản thu này qua 3 năm đang tăng

lên. Cụ thể là: năm 2012 thu 853 triệu đồng chiếm 1,11%, năm 2013 thu 882

triệu đồng chiếm 1,43%, năm 2014 thu 1,044 triệu đồng chiếm 1,56% trong

tổng nguồn thu NSX hưởng theo tỷ lệ.

Tình trạng khoản thu trên tăng là do huyện đã áp dụng tương đối tốt Luật

thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thay thuế Pháp lệnh thuế nhà đất năm 1992

từ đầu năm 2012, và giá đất đang dần ổn định sau khi đóng băng từ năm 2012

trở về trước.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.4 Cơ cấu các khoản thu ngân sách xã hưởng 100% năm 2012-2014

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×