Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

18

Với chiều dài 23 km bờ biển, Tiền Hải là địa phương có thế mạnh về

phát triển ni trồng thủy, hải sản. Huyện có tổng diện tích ni trồng là

4.073 ha. Với diện tích 1.380 ha, ngao là vật ni đạt sản lượng cao, với

32.000 tấn và có giá trị kinh tế cao. Ngao của Tiền Hải đã xuất khẩu sang các

thị trường trên thế giới.

Ngồi ra Tiền Hải còn có khu bảo tồn thiên nhiên thuộc khu vực dự trữ

sinh quyển sông Hồng (được UNESCO công nhận vào tháng 12 năm 2004).

Đây là địa điểm có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái với các khu

Cồn Vành, Cồn Thủ. Như vậy với vị trí địa lý cùng với những tiềm năng sẵn

có được thiên nhiên ưu ái thì Tiền Hải có nhiều điều kiện phát triển KT-XH,

tăng nguồn thu.

2.1.2 Bộ máy quản lý thu ngân sách huyện Tiền Hải

Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện trực thuộc UBND huyện và chịu sự

chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tài chính Thái Bình. Trong phòng

có một Trưởng phòng, hai Phó Trưởng phòng và 10 cán bộ thuộc các bộ phận:

Bộ phận kế hoạch đầu tư, cấp giấy phép kinh doanh; Bộ phận quản lý ngân

sách huyện; Bộ phận Ngân sách xã; Bộ phận theo dõi giá công sản.

Quản lý NSX thuộc bộ phận Ngân sách xã với nhiệm vụ hướng dẫn

nghiệp vụ cho kế toán xã, giúp lãnh đạo trong việc quản lý, hướng dẫn, kiểm

tra tình hình thực hiện quản lý NSX.

Với vị trí, vai trò quan trọng của cơng việc quản lý NSX mà Phòng Tài

chính – Kế hoạch huyện cũng như UBND huyện Tiền Hải xác định đây là một

trong những nhiệm vụ chiến lược lâu dài nhằm phát triển KT-XH trên địa bàn

huyện trong thời gian gần đây. Vì vậy Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện đã

bố trí 3 cán bộ làm cơng tác quản lý NSX. Trong đó quản lý thu NSX được bố

trí 1 cán bộ đảm nhận trách nhiệm về quản lý thu NSNN đối với các xã trên

địa bàn huyện Tiền Hải.



19

2.2 Thực trạng thu và quản lý thu ngân sách xã trên địa

bàn huyện Tiền Hải

2.2.1 Thực trạng phân cấp nguồn thu

Phân cấp nguồn thu trên địa bàn xã được thực hiện theo quyết định số

1605/QĐ – UBND ngày 24/08/2010 của UBND tỉnh Thái Bình quy định về

phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi; tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu

giữa các cấp ngân sách ở địa phương từ năm 2011-2015.

Về phân cấp nguồn thu, NSX được hưởng các khoản thu:

Thứ nhất, với khoản thu NSX hưởng một trăm phần trăm (100%):

Thu HLCS và thu từ quỹ đất 5% cơng ích; tiền đền bù thiệt hại đất nộp

cho ngân sách cấp xã; các khoản phí, lệ phí và thu từ hoạt động sự nghiệp của

các đơn vị cấp xã nộp vào ngân sách cấp xã theo quy định; viện trợ khơng

hồn lại của các tổ chức cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho ngân sách cấp xã;

huy động đóng góp của cá tổ chức cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách

cấp xã; các khoản huy động của các tổ chức cá nhân để đầu tư xây dựng cơng

trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ cho NSX, thị trấn; thu kết

dư ngân sách cấp xã; thu bổ sung từ ngân sách cấp trên; thu chuyển nguồn từ

năm trước sang năm sau; thu phạt xử lý vi phạm hành chính, phạt tịch thu của

cấp xã trong các lĩnh vực theo quy định của pháp luật; các khoản thu khác nộp

vào ngân sách cấp xã (do cấp xã thu) theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, với khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%):

Thuế GTGT và thuế TNDN: Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh

nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, hợp tác xã và các tổ chức kinh tế tập thể thì

NSX hưởng 20%, riêng đối với công ty cổ phần trên địa bàn huyện Tiền Hải

thì được hưởng 90%. Đối với hộ kinh doanh tư nhân, NSX hưởng 100%.

Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản, NSX hưởng

50%. Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân,

NSX hưởng 100%.



20

Thuế mơn bài ngồi quốc doanh thu từ cá nhân hộ kinh doanh, thuế nhà

đất, thuế tài nguyên, lệ phí trước bạ nhà đất, NSX hưởng 100%. Thu tiền sử

dụng đất, UBND tỉnh sẽ trình HĐND tỉnh quyết định cụ thể tỷ lệ phần trăm

(%) phân chia giữa các cấp.

Tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với cá nhân, hộ gia đình thuê đất thì

NSX hưởng 70%. Tiền th đất cơng ích của xã, thị trấn thì NSX hưởng

100%.

Thứ ba, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên bao gồm bổ sung cân đối

ngân sách và bổ sung theo mục tiêu.

Như vậy nguồn thu và nhiệm vụ thu của NSX đã được phân cấp một

cách rõ ràng. Nhưng do đặc điểm một số nguồn thu phân chia theo tỷ lệ phần

trăm (%) của ngân sách mang tính thời vụ, nên tỷ lệ phân chia cho xã chỉ

dừng ở mức 20% đối với thuế GTGT, thuế TNDN của công ty trách nhiệm

hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã; 50% đối với thuế thu nhập cá

nhân từ chuyển nhượng bất động sản. Nhiệm vụ chi đầu tư phát triển, duy tu,

bảo trì các cơng trình kết cấu hạ tầng phụ thuộc vào sự huy động đóng góp tự

nguyện của nhân dân và sự hỗ trợ của ngân sách cấp trên. Đây là vấn đề đặt ra

đối với công tác quản lý NSX, trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa khả năng

kinh tế với yêu cầu ngân sách phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương, giữa

tính chủ động ổn định vững chắc với khắc phục tính thời vụ của các nguồn

thu trong cân đối ngân sách.

2.2.2 Thực trạng lập dự toán thu ngân sách xã

Trong quy trình quản lý NSX thì khâu lập dự tốn NSX là khâu đầu tiên

có ý nghĩa quyết định đến cả chu trình ngân sách. Vì lý do đó mà những năm

qua cơng tác lập dự tốn NSX trên địa bàn huyện Tiền Hải đã được Phòng Tài

chính – Kế hoạch quan tâm chỉ đạo hưỡng dẫn các xã, thị trấn lập dự toán thu

theo quy định.

Dự toán thu NSX được xây dựng trên cơ sở chấp hành Luật NSNN và



21

thực hiện theo Thông tư 60/2003/TT – BTC ban hành ngày 23/6/2003 quy

định về quản lý NSX và các hoạt động tài chính khác ở xã, phường, thị trấn;

được sự hướng dẫn của Sở Tài chính Thái Bình, sự chỉ đạo của UBND huyện

Tiền Hải, căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ và kế hoạch phát triển KT-XH của

huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện đã tổ chức triển khai cơng tác xây

dựng dự tốn thu NSX hàng năm theo đúng quy định như sau:

Tổ chức họp với chủ tài khoản, kế toán xã để hướng dẫn các bước lập dự

tốn thu NSX và các căn cứ tính tốn; gửi các biểu mẫu quy định đến từng xã.

Các xã sau khi được hướng dẫn, tính tốn cân đối lập dự tốn thu NSX năm

sau trình HĐND xã xem xét, đồng thời gửi Phòng Tài chính – Kế hoạch

huyện. Phòng Tài chính phối hợp cùng cơ quan thuế và các ngành chức năng

có liên quan trực tiếp thảo luận dự tốn thu với từng xã. Từ kết quả thảo luận,

Phòng Tài chính lập kế hoạch bổ sung cho từng xã báo cáo UBND huyện. Sau

khi được HĐND huyện quyết định, UBND huyện ra quyết định giao dự toán

thu NSX cho từng xã. Khi nhận được quyết định giao dự toán, các xã lập dự

tốn chính thức, gửi Phòng Tài chính và KBNN huyện đồng thời làm thủ tục

công khai dự toán ngân sách năm theo đúng quy định.

Cũng theo quy định thì hết q 2 của năm trước, Phòng Tài chính - Kế

hoạch u cầu các xã lập dự tốn gửi về Phòng sau đó tổng hợp dự tốn NSX

trên địa bàn huyện rồi gửi cho Sở Tài chính. Căn cứ vào dự toán các huyện

lập gửi về, Sở tài chính tiến hành thảo luận ngân sách với các huyện (năm đầu

thời kỳ ổn định ngân sách) sau đó tỉnh có quyết định giao dự tốn cho các

huyện. Căn cứ vào số tỉnh giao, Phòng Tài chính chủ trì thảo luận với các xã,

sau đó UBND huyện ra quyết định giao dự toán cho các xã. Căn cứ vào dự

toán huyện giao các xã lập gửi Phòng Tài chính, KBNN nơi giao dịch để làm

căn cứ thanh toán.



22

2.2.3 Thực trạng chấp hành dự toán thu ngân sách xã

Những năm vừa qua công tác quản lý NSX huyện Tiền Hải được hồn

thiện dần, cụ thể cơng tác chấp hành dự tốn thu NSX trên địa bàn huyện

được thể hiện như sau:

Bảng 2.1 Tình hình thu ngân sách xã năm 2012-2014



Đvt: triệu đồng

Năm



Năm 2012



Năm 2013



Năm 2014



Dự tốn



266,521



181,336



260,400



Quyết tốn



322,396



330,598



350,844



QT/DT



121%



182%



135%



Nguồn: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tiền Hải

Nhìn chung cơng tác chấp hành quản lý thu NSX đã được thực hiện khá

tốt, ngày càng được cải thiện. Qua đó cũng thấy được hướng đi đúng đắn của

các cán bộ quản lý thu của huyện. Tuy nhiên, các chỉ số về thu NSX ở Bảng

2.1 chỉ phản ánh tình hình chung, chưa phản ánh hết tình hình cụ thể về thu

NSX trên địa bàn huyện Tiền Hải. Để trả lời cho các câu hỏi “Cơ cấu các

khoản thu như thế nào, đã đúng với chính sách chế độ chưa? Các khoản thu

đã khai thác tiềm năng của các xã chưa?...”. Tôi xin phép đi sâu vào nghiên

cứu từng nguồn thu và yếu tố tổ chức khoản thu.

Theo phân cấp ngân sách hiện nay thì nguồn thu của NSX bao gồm ba

nguồn thu chính đó là: các khoản thu xã được hưởng một trăm phần trăm

(100%); các khoản thu xã hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa các

cấp ngân sách; và thu bổ sung từ ngân sách cấp trên.



23

Bảng 2.2 Cơ cấu các khoản thu ngân sách xã năm 2012-2014



Đvt: triệu đồng

Năm

Nội dung

Tổng thu

Các khoản thu NSX

hưởng 100%

Tỷ lệ %

Các khoản thu NSX

hưởng theo tỷ lệ %



Năm 2012



Năm 2013



Năm 2014



DT



TH



DT



TH



DT



TH



266,52



322,39



181,33



330,59



260,40



350,84



1



6



6



8



0



4



31,940



64,894



38,526



67,932



25,31% 31,76%



17,6%



19,63%



14,8%



19,36%



68,065



56,427



61,760



51,437



66,793



67,464



102,40

9



76,831



Tỷ lệ %



25,54% 23,83% 31,12% 18,68% 19,75% 19,04%



Thu bổ sung từ ngân



130,99



143,15



2



6



sách cấp trên

Tỷ lệ



92,969



203,94



170,43



4



7



49,15% 44,41% 51,28% 61,69% 65,45%



216,119

61,6%



Nguồn: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tiền Hải

Từ bảng 2.2, có thế thấy khái quát tình hình thực hiện thu NSX trên địa

bàn huyện trong thời gian 3 năm gần đây như sau:

Quy mô thu NSX qua các năm không biến động nhiều thì cơ cấu nguồn

thu lại có sự biến động. Cơ cấu của khoản thu xã được hưởng 100% có xu

hướng giảm qua các năm. Nhưng nhìn chung các khoản thu hưởng 100% vẫn

chiếm tỷ lệ khá cao qua các năm do Tiền Hải là đất thuần nơng. Còn đối với

các khoản thu hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) cũng biến động nhẹ qua các

năm. Nguồn thu bổ sung từ ngân sách cấp trên vẫn cao là do nhu cầu chi ngân

sách của các xã tăng. Sự biến động cơ cấu các khoản thu trong tổng thu NSX



24

trên địa bàn huyện Tiền Hải đã phản ánh khái quát thực trạng thu NSX ở

huyện Tiền Hải không những mất cân đối mà còn đang gặp phải rất nhiều khó

khăn, vướng mắc cần được giải quyết.

2.2.3.1 Các khoản thu ngân sách xã hưởng 100%

Từ bảng 2.2 ta thấy các khoản thu NSX hưởng 100% được thực hiện khá

tốt, luôn vượt mức dự tốn huyện giao. Nhưng các khoản thu này có xu

hướng giảm qua các năm. Nguyên nhân là do các xã chưa khai thác được hết

tiền năng vốn có. Như giới thiệu ở Chương 1, Tiền Hải có lợi thế khơng nhỏ

về nơng nghiệp nói cách khác đây là huyện thuần nông. Tuy nhiên một số xã

lại không tận dụng được lợi thế của đó để đem lại nguồn thu.



25

Bảng 2.3 Các khoản thu ngân sách xã hưởng 100% năm 2012-2014



Đvt: triệu đồng

Năm

Nội dung

Tổng

Phí, lệ phí

HLCS

Thu đền bù



Năm 2012

DT

TH

67,46 102,40

4

9

550

1,189

700

500



Thu khác

Thu chuyển nguồn

Thu kết dư

Thu nhân dân đóng góp



10,16

4

40,90

0

15,35

0



Năm 2013

DT

TH

31,94 64,89

0

4

540

1,196

520



22,520



7,732



2,882



2,442

18,00

0

12,78

1

22,22

3



14,164



16,00

0



40,900



700



20,054



14,70

0



Năm 2014

DT

TH

38,52 67,93

6

2

740

1,375

510

10,30 15,80

0

0

2,077

15,78 19,53

6

0

6,000



6,000



5,700



22,64

0



Nguồn: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tiền Hải

Bảng 2.4 Cơ cấu các khoản thu ngân sách xã hưởng 100% năm 2012-2014



Đvt: triệu đồng

Năm



Phí, lệ phí

HLCS



Năm 2012

102,40

100%

9

1,189

1,16%

700

0,68%



Thu đền bù



22,520



23%



7,732



11,91% 15,800



Thu khác



2,882



2,442



Thu chuyển nguồn



14,164



3,76%

27,74

%



Thu kết dư



40,900



Thu nhân dân đóng góp



20,054



2,81%

13,83

%

39,93

%

18,59

%



Tổng



Năm 2013



Năm 2014



64,894



100%



67,932



100%



1,196

520



1,84%

0,8%



1,375

510



2,02%

0,75%

23,26

%

3,06%

28,75

%



18,000



2,077

19,530



12,781



19,7%



6,000



8,83%



22,223



34,25

%



22,640



33,33

%



Nguồn: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tiền Hải

Thu phí, lệ phí



26

Đây là khoản thu mang tính hồn trả trực tiếp. Khoản thu này bù đắp chi

phí cho hoạt động của xã khi xã thực hiện cung cấp các dịch vụ cho nhân dân.

Theo bảng 2.3, 2.4 và các báo cáo thực hiện các chỉ tiêu thu NSX chúng

ta nhận thấy, hiện nay khoản thu này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu

NSX hưởng 100%: năm 2012 tỷ lệ này là 1,16%; năm 2013 tỷ lệ này là

1,84%; năm 2014 tỷ lệ này là 2,02% tuy vậy nó vẫn giữ vai trò rất quan trọng

trong việc tăng nguồn thu NSX.

Thực tế kết quả thu phí, lệ phí 3 năm qua cho ta thấy số thu phí, lệ phí

tăng lên qua các năm. Cụ thể: năm 2012 thu 1,189 triệu đồng; năm 2013 thu

1,196 triệu đồng; năm 2014 thu 1,375 triệu đồng.

Bên cạnh các xã thực hiện tốt dự toán được giao như: Thị Trấn, Đơng

Long, Đơng Phong… có số thu phí, lệ phí đạt từ 110% dự toán trở lên trong

cả 3 năm thì vẫn còn tồn tại khơng ít xã thực hiện chưa tốt cơng tác thu phí, lệ

phí khi mà mà số thu chưa đạt 50% dự tốn giao như: Đơng Hồng, Nam Phú,

Tây An, Tây Tiến…

Một số khoản thu phí, lệ phí có số thu lớn tại các xã như là: phí chợ, lệ

phí cơng chứng… Các xa tiến hành bổ sung, bãi bỏ một số khoản phí,lệ phí

theo quy định năm 2012 bãi bỏ lệ phí đăng ký hộ tịch.

Hiện nay cơng tác thu phí, lệ phí vẫn còn tồn tại tình trạng: thu mà khơng

có chứng từ ghi thu, sổ sách theo đúng quy định; kế toán chưa theo dõi

thường xun gây nên tình trạng thất thốt nguồn thu cần phải được khắc

phục kịp thời.

Thu từ quỹ đất cơng ích và hoa lợi cơng sản

Trên địa bàn huyện Tiền Hải đây là khoản thu từ đấu thầu, thu khốn

theo mùa vụ từ quỹ đất cơng ích và HLCS khác theo quy định của pháp luật

do xã quản lý là khoản thu chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong thu NSX hưởng

100%.



27

Từ bảng 2.3 và 2.4 cho chúng ta thấy số thu từ quỹ đất cơng ích và

HLCS trong 3 năm qua khơng biến động mạnh và có xu hướng giảm: năm

2012 thu 700 triệu đồng; năm 2013 thu 520 triệu đồng; đến năm 2014 thu 510

triệu đồng.

Tỷ trọng của khoản thu này còn thấp trong cơ cấu các khoản thu NSX

hưởng 100%: năm 2012 tỷ lệ này là 0,68%; năm 2013 tỷ lệ là 0,8%; năm

2014 tỷ lệ này là 0,75%.

Nguyên nhân của tình trạng giảm dần là do: từ năm 2011 thì khoản thu

từ đất cơng ích 5% được chuyển sang tính vào tiền thuê đất khiến cho khoản

này chỉ còn thu từ HLCS. Mặt khác những năm trở lại đây do sự phát triển về

các loại hình kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, làng nghề… thu

hút được nhiều lao động nông thôn và tạo ra mức thu nhập cao hơn so với làm

ruộng, chính vì vậy mà nơng dân khơng còn mặn mà với việc cấy lúa, trồng

màu như trước. Bên cạnh những xã tích cực năng động trong việc khai thác

tiềm năng này cũng còn khơng ít các xã chưa chú trọng đầu tư khai thác, còn

để lãng phí. Một số xã thực hiện khốn từng năm nên người nơng dân khơng

dám bỏ vốn đầu tư. Một số xã khác do nhu cầu vốn đầu tư xây dựng các cơng

trình lớn nên đã khốn nhiều năm thu một lần gây khó khăn cho ngân sách

những năm sau. Ngồi ra, còn một ngun nhân quan trọng khác là do đa

phần các xã lấy từ diện tích quỹ đất cơng ích để quy hoạch khu dân cư bán thu

tiền sử dụng đất, quy hoạch các cụm cơng nghiệp, thực hiện các dự án cơng

trình phúc lợi địa phương… đây là nguyên nhân quan trọng làm tỷ lệ khoản

thu này thấp.

Thu đền bù

Từ bảng 2.3 và 2.4 chúng ta có thể nhận thấy khoản thu từ đền bù cơng

trình qua xã từ năm 2012 đến 2013 giảm mạnh nhưng đến năm 2014 có xu

hướng tăng và chiếm tỷ trọng không ổn định trong tổng số thu NSX hưởng



28

100% cụ thể là: năm 2012 chiếm 23%; năm 2013 chiếm 11,91%; năm 2014

chiếm 23,26%.

Thu đền bù chủ yếu là do đền bù cho UBND xã khi có cơng trình đi qua

địa phận của xã và thu đền bù để chi đền bù cho giải phóng mặt bằng để đấu

giá quyền sử dụng đất. Khoản thu từ đền bù năm 2012, 2014 tăng cao tuy

nhiên khoản thu này khơng có tính chất ổn định. Vì vậy việc khai thác nguồn

thu không nên phụ thuộc quá vào khoản thu này.

Thu nhân dân đóng góp

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát huy nội lực, động

viên nhân dân đóng góp sức người, sức của để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,

phát triển KT-XH theo cơ chế Nhà nước hỗ trợ, nhân dân đóng góp. Do yêu

cầu về vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH là rất lớn, NSNN thì có giới

hạn khơng thể đảm đương tồn bộ mà cần phải có sự đóng góp của nhân dân

để “cùng làm” với Nhà nước. Vì vậy, các xã muốn có vốn để đầu tư xây dựng

các cơng trình phải tăng cường vận động nhân dân đóng góp. Trong các khoản

thu mà NSX được hưởng 100% thì khoản thu đóng góp của nhân dân ln

vượt dự tốn được giao và có xu hướng tăng qua các năm. Khoản thu này đa

phần được các xã thực hiện một cách công khai dân chủ nên mọi người tin

tưởng, ủng hộ. Các xã thực hiện tốt công tác này như: Tây Sơn, Tây Ninh,

Đông Lâm, Đông Cơ…, đã có hệ thống đường bê tơng liên thơn hồn chỉnh,

trường lớp cho học sinh được xây dựng khang tranh sạch đẹp, mỗi thơn đều

có nhà văn hóa riêng...

Bên cạnh đó vẫn còn có một số xã chưa thực hiện tốt được công tác thu

này, mặc dù cơ sở vật chất còn tồi tàn nhưng khi huy động đóng góp sức

người sức của từ nhân dân thì gặp rất nhiều khó khăn do những năm trước đây

chính quyền các xã này đã nói mà khơng làm được, thu đóng góp của nhân

dân nhưng đầu tư xây dựng chậm trễ, không hiệu quả, gây thất thốt, cơng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×