Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. GIÁO DỤC THCS VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NSNN CHO GIÁO DỤC THCS

CHƯƠNG 1. GIÁO DỤC THCS VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NSNN CHO GIÁO DỤC THCS

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



đến mọi hoạt động của xã hội. Vì vậy trên hết vấn đề giáo dục con người có

vai trò rất lớn và ngày càng được coi trọng.

Ở nước ta theo luật giáo dục 2005 thì hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

- Giáo dục Mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo.

- Giáo dục phổ thơng có hai cấp bậc là bậc tiểu học và bậc trung học. Bậc

trung học có hai cấp học là cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thơng.

- Giáo dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

- Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ

đại học, giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ

tiến sĩ.

Giáo dục bậc THCS là một phần quan trọng của sự nghiệp giáo dục và đóng

vai trò là nền tảng phát triển cho các bậc học cao hơn. Giáo dục THCS nhằm

giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có

học vấn phổ thơng ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và

hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc

đi vào cuộc sống lao động.

1.1.2. Vai trò của giáo dục THCS đối với sự phát triển kinh tế- xã hội

Với vị trí quốc sách hàng đầu, GD-ĐT có vai trò là nền tảng, động lực thúc

đẩy sự phát triển KT-XH. Vai trò của GD-ĐT được thể hiện rõ trong quan

điểm của Đảng ở các kỳ đại hội. GD-ĐT là một trong những động lực thúc

đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền

vững”. Cụ thể hơn, vai trò của giáo dục THCS đối với sự phát triển KT-XH

được thể hiện ở các mặt sau:

 Nâng cao dân trí

Để tiến hành sản xuất và tổ chức xã hội, con người phải dựa vào hai

nguồn tài nguyên là: thiên nhiên và lao động của con người, trong đó cái quý

Phạm Thị Thanh Huyền



6



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ. Mọi nguồn tài nguyên thiên

nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn kiệt. Nhưng sự hiểu biết của

con người sẽ không bao giờ dừng lại, nghĩa là nguồn tài ngun trí tuệ khơng

có giới hạn. Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự

phát triển xã hội, phát huy được yếu tố này đảm bảo thành công của con

người trong sự nghiệp CNH- HĐH.

Khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức

mạnh của một quốc gia, thì Chính phủ mỗi quốc gia và Việt Nam cũng không

phải là ngoại lệ đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội,

mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Các

nước muốn phát triển nhanh phải hết sức quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho

sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng chính là đầu tư cho

phát triển.

 Đào tạo nguồn nhân lực có văn hóa

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển tồn diện, có

đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng

độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm

chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản, tồn diện, thiết thực, hiện đại và có

hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; bảo tồn và phát huy

truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân

loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học.

1.2. Chi thường xuyên cho giáo dục THCS

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm

NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà

nước có thẩm quyên quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực

hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. NSNN bao gồm NSTW và NSĐP.

Phạm Thị Thanh Huyền



7



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



NSTW là ngân sách của các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan

khác ở trung ương. NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp

có HĐND và UBND.

NSNN là cơng cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế-xã hội, định hướng phát

triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá, điều chỉnh đời sống xã hội.

Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực

hiện các nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Nội dung chi NSNN là

rất đa dạng, điều này xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mơ của Nhà nước trong

việc phát triển kinh tế-xã hội. Thông thường căn cứ theo nội dung kinh tế của

các khoản chi mà chi NSNN có thể chia ra thành: chi thường xuyên, chi đầu

tư phát triển và chi khác.

Chi thường xuyên của NSNN cho giáo dục là quá trình phân phối và sử

dụng các nguồn tài chính đã tập trung vào NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu

chi của lĩnh vực giáo dục nhằm đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ đã đặt ra.

Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản chi thường xun vì vậy nó

có các đặc điểm sau:

- Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục mang tính ổn định.

- Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục mang tính chất tiêu dùng xã hội. Vì

kết quả của hoạt động trên không tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Mục đích

của nó là đầu tư cho con người, tạo ra con người có đủ đức và tài.

- Phạm vi, mức độ chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục gắn chặt với sự lựa

chọn của Nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa giáo dục. Giáo dục một mặt

được coi là hàng hóa cá nhân nhưng mặt khác nó cũng là hàng hóa cơng cộng

bởi giáo dục đem lại lợi ích cho tồn xã hội chứ khơng riêng cá nhân được

giáo dục. Khoản chi cho giáo dục thường chiếm tỷ trọng lớn, có tính chất

quyết định trong việc hình thành và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân.



Phạm Thị Thanh Huyền



8



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



1.2.2. Vai trò

Cùng với khoa học cơng nghệ, giáo dục có nhiệm vụ quan trọng là nâng

cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Để giáo dục được tồn tại và

phát triển thì cần phải có nguồn tài chính cung cấp thơng qua hoạt động chi

NSNN. Hiện nay, nguồn kinh phí đầu tư cho sự nghiệp giáo dục được hình

thành từ nhiều nguồn khác nhau: từ nguồn vốn NSNN, từ nguồn thu sự

nghiệp, từ nguồn vốn tài trợ…Nhưng trong đó nguồn vốn NSNN là nguồn

vốn ổn định giữ vai trò chủ đạo, chiếm phần lớn trong các nguồn vốn đầu tư

cho giáo dục. Vai trò của chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục

được thể hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất, NSNN là nguồn tài chính cơ bản, to lớn để duy trì và phát

triển hệ thống giáo dục theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.

Đảng ta đã xác định giáo dục đóng vai trò then chốt trong tồn bộ sự

nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước ta thốt khỏi tình

trạng nghèo nàn, lạc hậu. Do đó phần lớn nguồn kinh phí cho giáo dục được

đảm bảo từ nguồn cấp phát của NSNN bởi việc duy trì, củng cố và phát triển

các hoạt động thuộc lĩnh vực này là nhiệm vụ và mục tiêu mà Nhà nước phải

thực hiện trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế. Ngoài ra, trong việc

thực hiện chi NSNN cho giáo dục, Nhà nước phải thực hiện việc điều phối cơ

cấu giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển đồng đều trong cơ cấu giáo dục toàn

ngành giữa các vùng trong cả nước. Thông qua việc chi NSNN, Nhà nước đã

tác động vào hệ thống giáo dục quốc dân và làm cho nó vận động, phát triển

theo đúng hướng đã đề ra. Mặt khác, hệ thống trường công lập ở nước ta còn

chiếm ưu thế, do đó NSNN còn phải đảm bảo phần lớn trách nhiệm đầu tư

cho giáo dục, còn các nguồn vốn khác chỉ mang tính chất hỗ trợ thêm.

Thứ hai, chi thường xuyên NSNN góp phần quyết định đến sự tồn tại và

hoạt động của bộ máy nhà trường.

Phạm Thị Thanh Huyền



9



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS là khoản tiền đầu tư chiếm

tỷ trọng lớn nhất, tạo ra cơ sở vật chất, mua sắm sửa chữa, trang bị đồ dùng

dạy học. Đây là khoản chi rất cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng

giáo dục. Nếu chúng ta coi giáo viên là lực lượng lao động, học sinh là đối

tượng lao động thì trang thiết bị, cơ sở vật chất chính là những cơng cụ lao

động. Chúng gắn liền với nhau tạo thành một quy trình hồn chỉnh khơng thể

tách rời. Vì vậy, để có được chất lượng giảng dạy tốt thì việc chi thường

xuyên NSNN để đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị… cũng là một trong

những việc làm hết sự cần thiết.

Thứ ba, chi thường xun NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc củng

cố, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy.

NSNN chính là nguồn tài chính cơ bản đảm bảo đời sống cho đội ngũ

cán bộ giảng dạy, đội ngũ cán bộ quản lý hành chính của hệ thống giáo dục.

NSNN ngồi việc đảm bảo tiền lương hàng tháng cho cán bộ, giáo viên thì

còn dành một phần ưu đãi riêng cho sự nghiệp giáo dục như: phụ cấp giảng

dạy, phụ cấp dạy thêm giờ… Đây cũng là những yếu tố khích lệ góp phần

nâng cao chất lượng giáo dục.

1.2.3. Nội dung

Chi NSNN cho giáo dục THCS là khoản chi thuộc nhóm chi hoạt động

sự nghiệp cho lĩnh vực văn hóa – xã hội, thuộc phạm vi chi thường xuyên của

NSNN. Đây là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ

NSNN nhằm duy trì và phát triển giáo dục THCS theo ngun tắc khơng hồn

trả trực tiếp.

Nếu phân chia NSNN theo nội dung từng khoản mục, chi thường xuyên

NSNN cho giáo dục THCS được phân thành các nhóm chi sau:



Phạm Thị Thanh Huyền



10



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Nhóm I: Chi thanh tốn cá nhân

Là khoản chi quan trọng trong các yếu tố đầu vào của bất kỳ cơ quan, tổ

chức nào muốn tồn tại và hoạt động. Là các khoản chi theo chế độ mà Nhà

nước đã quy định chi trả cho các cơ quan nhà nước, các đơn vị giáo dục, bao

gồm: chi tiền lương, tiền công, phụ cấp, tiền thưởng, phúc lơi tập thể, các

khoản đóng góp như chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí cơng đồn,

…và các khoản thanh tốn khác cho cá nhân.

Nhóm II: Chi nghiệp vụ chun môn

Bao gồm các khoản chi như:

+ Chi trả các dịch vụ liên quan trực tiếp đến giảng dạy và học tập: tiền

điện; tiền nước; vệ sinh trường, lớp học;…

+ Chi phí đi học tập và giảng dạy (sách giáo khoa, đồ dùng học tập, tài

liệu tham khảo cho giáo viên…).

+ Chi hội nghị, hội thảo nâng cao nghiệp vụ chuyên mơn.

+ Chi phí nghiệp vụ chun mơn khác.

Đây là khoản chi cần thiết, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo

dục. Vì vậy, cần phải được chú trọng để có mức đầu tư thích hợp nâng cao

chất lượng, hiệu quả của cơng tác giáo dục.

Nhóm III: Chi mua sắm, sửa chữa và xây dựng nhỏ

Đây là các khoản chi nhằm nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị trong

trường phục vụ cho việc giảng dạy. Các khoản chi này tuy chiếm tỉ trọng

không lớn trong tổng chi thường xun của NSNN cho giáo dục THCS nhưng

đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập của

giáo viên và học sinh trong nhà trường.

Nhóm IV: Chi khác

Ngồi các khoản chi ở ba nhóm mục trên thì các đơn vị trường học còn

phát sinh các khoản chi khác như: trợ cấp thôi việc, chi trợ cấp khó khăn cho

Phạm Thị Thanh Huyền



11



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



các học sinh gặp hồn cảnh khó khăn có thành tích tốt, trích lập các quỹ,…

Các khoản chi này phát sinh tương đối ít nhưng nó vẫn có vai trò lớn trong

hoạt động giáo dục.

Tổng hợp các khoản mục nói trên sẽ hình thành nên chi thường xuyên

của NSNN cho giáo dục THCS. Đây là các khoản chi phát sinh thường xuyên

và tương đối ổn định.

1.3. Quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS

1.3.1. Khái niệm

Quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS là việc Nhà nước

sử dụng quyền lực công để tổ chức và điều chỉnh quá trình chi thường xuyên

NSNN nhằm đảm bảo các khoản chi thường xuyên NSNN được thực hiện

theo đúng chế độ chính sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ thường xuyên của

Nhà nước trong từng thời kỳ.

1.3.2. Nguyên tắc quản lý

Chi tiêu của Nhà nước là quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn tài

chính đã tập trung vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chung có tính chất tồn

xã hội. Do đó việc sử dụng ngân sách của nhà nước phải được thực hiện theo

nguyên tắc nhất định để đảm bảo công bằng và hiệu quả.

1.3.2.1. Nguyên tắc quản lý theo dự toán.

Dự toán là khâu mở đầu cho chu trình NSNN. Khoản chi thường xuyên

cho giáo dục THCS một khi được cho vào dự toán và được cơ quan quyền lực

Nhà nước xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh. Xét trên góc độ quản lý, số

chi được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý

tài chính của Nhà nước với các đơn vị sự nghiệp giáo dục này. Từ đó, cơ quan

có chức năng nhiệm vụ sẽ quản lý theo dự toán.



Phạm Thị Thanh Huyền



12



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Vì vậy trong q trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên mỗi

ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị phải căn cứ vào dự tốn kinh phí đã được duyệt

mà phân bổ và sử dụng cho các khoản mục và phải hạch toán theo đúng mục

lục NSNN đã quy định.

1.3.2.2. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả.

Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu

trong quản lý kinh tế-tài chính, bởi lẽ nguồn lực có hạn trong khi nhu cầu thì

vơ hạn. Do vậy trong q trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm, giáo

dục THCS đó cần phải tính tốn sao cho chi phí là thấp nhất nhưng phải đạt

được kết quả là cao nhất. Hơn thế nữa do hoạt động của NSNN diễn ra rộng

và đa dạng phức tạp, nhu cầu chi luôn gia tăng với mức độ không ngừng trong

giới hạn huy động các nguồn thu. Chính vì vậy để tiết kiệm và hiệu quả được

tôn trọng chúng ta phải làm tốt và đồng bộ một số nội dung sau:

- Xây dựng các định mức chi tiêu chuẩn phù hợp với từng đối tượng

hay tính chất cơng việc, đồng thời bảo đảm tính thực tiễn cao.

- Thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng, từ đó tạo tiền đề cho việc

lựa chọn các tiêu thức phù hợp cho mỗi đối tượng quản lý.

- Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các hoạt động hoặc nhóm mục chi phù

hợp với ngân sách mà hiệu quả cao.

1.3.2.3. Nguyên tắc quản lý trực tiếp qua kho bạc.

Một trong những chức năng quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN.

Do vậy, KBNN vừa có quyền vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi

khoản chi NSNN. Tất cả mọi khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm sốt

trước, trong và sau q trình cấp phát thanh tốn. Các khoản chi phải có trong

dự tốn NSNN được duyệt theo đúng chế độ tiêu chuẩn, thẩm quyền.

Các trường THCS sử dụng kinh phí NSNN phải mở tài khoản tại KBNN,

chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, KBNN trong q trình lập

Phạm Thị Thanh Huyền



13



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



dự tốn, phân bổ hạn mức, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết tốn

NSNN.

Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm thẩm định dự tốn và thơng

báo hạn mức kinh phí cho các đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách, kiểm tra

việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết tốn của các đơn vị và tổng hợp quyết

toán chi NSNN.

KBNN phải kiểm soát hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp

phát, thanh toán kịp thời các khoản NSNN theo quy định; tham gia với các cơ

quan tài chính trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số

thực chi ngân sách qua KBNN.

Trên đây là ba nguyên tắc cần thiết để đạt mục tiêu hiệu quả khơng chỉ

trong chi NSNN cho giáo dục THCS nói riêng mà bao gồm cả trong chi

thường xuyên nói chung.

1.3.3. Quy trình quản lý chi thường xuyên NSNN

Quản lý chi thường xuyên NSNN nói chung và chi cho giáo dục nói riêng

là quản lý theo chu trình ngân sách, được thực hiện bằng công cụ kế hoạch thông

qua ba khâu chủ yếu là: lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán.

1.3.3.1. Lập dự toán

Đây là khâu đầu tiên của một chu trình ngân sách, nhằm mục đích để

phân tích, đánh giá giữa các khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của nhà

nước nhằm xác lập các chỉ tiêu thu chi NSNN hàng năm một cách đúng đắn,

khoa học và hiệu quả. Việc lập dự toán phải được thực hiện theo đúng quy

trình, định mức và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Khâu

này mang tính định hướng tạo nền tảng cơ sở cho các khâu tiếp theo. Khi lập

dự toán chi NSNN cho giáo dục THCS cần phải dựa trên căn cứ sau:

Thứ nhất, chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển hoạt động

giáo dục THCS trong từng thời kỳ.

Phạm Thị Thanh Huyền



14



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



Thứ hai, dựa vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đặc

biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến hoạt động của giáo dục THCS.

Thứ ba, văn bản hướng dẫn và thông báo số kiểm tra của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền.

Thứ tư, các chính sách chế độ chi sự nghiệp của NSNN hiện hành và dự

kiến thay đổi, bổ sung trong kỳ kế hoạch.

Thứ năm, khả năng NSNN chi cho giáo dục THCS năm kế hoạch.

Thứ sáu, ước thực hiện năm báo cáo và kết quả thực hiện các năm trước

về dự toán chi thường xuyên của NSNN cho giáo dục THCS.

Quy trình lập dự tốn:

- Bước 1: Căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng

kế hoạch KT – XH và NSNN năm sau vào trước ngày 31 tháng 5 hàng năm,

Bộ Tài chính ban hành các thông tư hướng dẫn cụ thể cho các địa phương về

lập ngân sách (trước ngày 10 tháng 6 hàng năm), thơng báo số kiểm tra dự

tốn về tổng mức và từng lĩnh vực chi ngân sách cho ngành giáo dục. Trên cơ

sở đó, Bộ GD-ĐT sau khi nhận được văn bản hướng dẫn và số kiểm tra được

giao để lập dự tốn kinh phí của ngành GD-ĐT phải tiếp tục cụ thể hóa các

mức chi, khả năng tạo lập nguồn kinh phí, thời gian cách thức lập, gửi, xét

duyệt dự tốn kinh phí,…thành văn bản hướng dẫn của ngành gửi các đơn vị

dự toán cấp dưới trực thuộc. Quy trình tiếp tục đến khi phòng GD-ĐT giao

chỉ tiêu và có các văn bản hướng dẫn các trường lập dự toán chi tiết.

- Bước 2: Dựa vào số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh

phí chi thường xun NSNN, các đơn vị dự tốn tiến hành lập dự tốn kinh

phí chi thường xun của đơn vị mình gửi phòng TC-KH huyện xem xét, tổng

hợp để lập dự toán chi thường xuyên ngân sách huyện trình UBND huyện

đồng thời báo cáo dự tốn chi thường xuyên của ngân sách huyện cho Sở Tài



Phạm Thị Thanh Huyền



15



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



Học viện Tài chính



chính. Các cơ quan Tài chính cấp trên có nhiệm vụ xem xét và tổng hợp dự

tốn kinh phí của các đơn vị dự toán cấp dưới.

- Bước 3: Căn cứ vào dự tốn chi thường xun ngân sách đã được

HĐND huyện thơng qua và quyết định phân bổ của UBND huyện, phòng TCKH sẽ tiến hành phân bổ dự toán cho các đơn vị, đồng thời gửi KBNN để

theo dõi làm căn cứ kiểm soát thanh toán vốn.

1.3.3.2. Chấp hành dự toán

Đây là khâu thứ hai trong chu trình ngân sách, nhằm biến các chỉ tiêu đã

có trong khâu lập kế hoạch chi thành hiện thực. Trong khâu này phải dựa vào

định mức chi đã được duyệt, dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành

cho giáo dục THCS, cơ quan Tài chính có nhiệm vụ cấp phát NSNN chi cho

các đơn vị giáo dục theo đúng dự toán đã được duyệt.

Thực hiện kế hoạch chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục

THCS cần chú ý đến yêu cầu sau:

- Đảm bảo việc cấp phát kinh phí một cách hợp lý tập trung có trọng

điểm trên cơ sở dự tốn đã được duyệt.

- Đảm bảo việc cấp phát kinh phí kịp thời, chặt chẽ cấp phát theo đúng

định mức được duyệt, tránh lãng phí NSNN.

- Trong q trình cấp phát NSNN đòi hỏi phải có sự giám sát, điều phối

chặt chẽ giữa các cơ quan nhất là giữa phòng TC-KH với KBNN.

Sở Tài chính phối hợp với phòng TC-KH huyện kiểm tra, giám sát việc thực

hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách tại các trường. Trường hợp phát hiện các khoản

chi vượt quá nguồn cho phép, sai chính sách chế độ hoặc đơn vị không chấp hành

chế độ báo cáo thì có quyền u cầu KBNN tạm dừng thanh toán.



Phạm Thị Thanh Huyền



16



Lớp CQ50/01.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. GIÁO DỤC THCS VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NSNN CHO GIÁO DỤC THCS

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×