Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế

1 Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế

Tải bản đầy đủ - 0trang

8

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

8

8

Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định

chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với

nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh

tốn. Ngồi ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối

đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế :

Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của

nền kinh tế. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác

động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá,

ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền

kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hồn thiện và trở thành

những định chế tài chính khơng thể thiếu được.

Đã có nhiều người tin rằng NHTM chỉ có chức năng nhận tiền gửi và cho

vay trong nền kinh tế, tuy nhiên hiện tại với sự phát triển của nền kinh tế,

NHTM đã phải thực hiện nhiều chức năng mới để đáp ứng được sự cạnh tranh

và nhu cầu của xã hội.Chính vì vậy hiện nay các NHTM có các chức năng cơ

bản sau :

1. Chức năng trung gian tín dụng : Chức năng trung gian tín dụng được xem là

chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức

năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn

và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa

đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi

nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp

phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay...

Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó

mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại.



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



9

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

9

9

2. Chức năng trung gian thanh toán : Với chức năng này , NHTM đóng vài trò

là thủ quĩ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các yêu cầu thanh toán

từ phia khách hàng như trích tài khoản tiền gửi để thanh tốn hàng hóa dịch

vụ hoặc ghi có tài khoản của họ tiền thu các khoản bán hàng hóa dịch vụ

.Hiện nay các ngân hàng cung cấp rất nhiều phương tiện thanh toán tiện dụng

như séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ thanh tốn, thẻ tín dụng…. .Khách

hàng vì vậy có thể lựa chọn cho mình được hình thức thanh tốn phù hợp , họ

khơng cần thiết phải sử dụng tiền mặt khi thanh toán cho chủ nợ .Điều này đã

tiết kiệm được chi phí và thời gian cho các chủ thể kinh tế, đồng thời lại đảm

bảo cho sự an tồn trong q trình thanh tốn .Một cách gián tiếp, chức năng

này đã đẩy nhanh tốc độ lưu thơng hàng hóa, ln chuyển vốn, thúc đẩy phát

triển kinh tế

3. Chức năng tạo tiền : Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản

chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính

cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh

mang tính đặc thù của mình đã vơ hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho

nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác

của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh tốn. Thơng qua chức

năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho

vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh

tốn dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng

vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng

hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng

tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi

trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt

buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm. do vậy ngân hàng

trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Nguyễn Minh Hải



10

10

10



Học viện Tài chính



Lớp: CQ49/15.01



11

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

11

11

1.2 Dịch vụ ngân hàng và đặc trưng của dịch vụ ngân hàng

Để hiểu rõ về dịch vụ ngân hàng, trước hết cần hiểu rõ được thế nào là

dịch vụ và các đặc trưng cơ bản của nó

1.2.1 Dịch vụ và đặc trưng cơ bản của dịch vụ

1.2.1.1 Dịch vụ

Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng

và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ

kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản

lý. Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau,

đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau

Cách hiểu thứ nhất

- Theo nghĩa rộng: dịch vụ được xem là một ngành kinh tế thứ 3. Với

cách hiểu này, tất cả các hoạt động kinh tế nằm ngồi 2 ngành nơng nghiệp

và công nghiệp đều được xem là thuộc ngành dịch vụ

- Theo nghĩa hẹp: dịch vụ được hiểu là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ

cho khách hàng truớc, trong và sau khi bán

Cách hiểu thứ hai

- Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà

kết quả của chúng khơng tồn tại dưới hình dạng vật thể. Hoạt động dịch vụ

bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá

trình phát triển kinh tế - xã hội, mơi trường của từng quốc gia, khu vực nói

riêng và tồn thế giới nói chung. Ở đây dịch vụ khơng chỉ bao gồm những

ngành truyền thống như: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thương mại,

bao hiểm, bưu chính viễn thơng.mà còn lan toả đến các lĩnh vực rất mới như:

dịch vụ văn hố, hành hính, bảo vệ mơi trường, dịch vụ tư vấn.

- Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là làm một công việc cho người khác hay

cộng đồng, là một việc mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của

Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



12

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

12

12

con người, như: vận chuyển, sửa chữa và bảo dưỡng các thiết bị máy móc

hay cơng trình.

Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt

động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa khơng tồn

tại dưới hình thái vật thể, khơng dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm

thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con

người.

1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của dịch vụ

 Có thể được sử dụng nhiều lần do các tính chất của dịch vụ thường không

mất đi sau khi sử dụng : bởi các hoạt động dịch vụ mang tính kỹ năng,



thường được lặp đi lặp lại nhiều lần và càng ngày càng được hồn thiện sau

nhiều lần sử dụng

 Khơng ổn định và khó xác định được chất lượng : Khác với các ngành sản

xuất khi mà tại đó người ta có thể đánh giá được chất lượng sản phẩm theo

những tiêu chuẩn nhất định, biên độ dao dộng về chất lượng của dịch vụ rất

rộng do chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như

thời gian, địa điểm , cách thức thực hiện…..Thông thường người ta chỉ có

thể tiêu chuẩn hóa chất lượng dịch vụ theo một góc độ nhất định vì trên thực

tế cảm nhận về chất lượng dịch vụ giữa bên cung ứng và bên tiêu dùng là

khác nhau

 Dịch vụ mang tính vơ hình hay phi vật chất : Dịch vụ chỉ có thể nhận thức

được bằng tư duy hay giác quan chứ ta khơng thể "sờ mó" sản phẩm dịch vụ

được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo

lường thơng thường về thể tích, trọng lượng , khối lượng .Ví dụ như khi đi

xem phim , khán giả không thể nào biết được chất lượng của bộ phim trước

khi đến rạp, hoặc du khách không thể biết được chất lượng dịch vụ của địa

điểm tham quan trước khi tới đó



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×