Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan về ngân hàng thương mại và sự phát triển của dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam

Tổng quan về ngân hàng thương mại và sự phát triển của dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

8

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

8

8

Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định

chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với

nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh

tốn. Ngồi ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối

đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế :

Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của

nền kinh tế. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác

động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá,

ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền

kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hồn thiện và trở thành

những định chế tài chính khơng thể thiếu được.

Đã có nhiều người tin rằng NHTM chỉ có chức năng nhận tiền gửi và cho

vay trong nền kinh tế, tuy nhiên hiện tại với sự phát triển của nền kinh tế,

NHTM đã phải thực hiện nhiều chức năng mới để đáp ứng được sự cạnh tranh

và nhu cầu của xã hội.Chính vì vậy hiện nay các NHTM có các chức năng cơ

bản sau :

1. Chức năng trung gian tín dụng : Chức năng trung gian tín dụng được xem là

chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức

năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn

và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa

đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi

nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp

phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay...

Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó

mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại.



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



9

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

9

9

2. Chức năng trung gian thanh toán : Với chức năng này , NHTM đóng vài trò

là thủ quĩ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các yêu cầu thanh toán

từ phia khách hàng như trích tài khoản tiền gửi để thanh tốn hàng hóa dịch

vụ hoặc ghi có tài khoản của họ tiền thu các khoản bán hàng hóa dịch vụ

.Hiện nay các ngân hàng cung cấp rất nhiều phương tiện thanh toán tiện dụng

như séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ thanh tốn, thẻ tín dụng…. .Khách

hàng vì vậy có thể lựa chọn cho mình được hình thức thanh tốn phù hợp , họ

khơng cần thiết phải sử dụng tiền mặt khi thanh toán cho chủ nợ .Điều này đã

tiết kiệm được chi phí và thời gian cho các chủ thể kinh tế, đồng thời lại đảm

bảo cho sự an tồn trong q trình thanh tốn .Một cách gián tiếp, chức năng

này đã đẩy nhanh tốc độ lưu thơng hàng hóa, ln chuyển vốn, thúc đẩy phát

triển kinh tế

3. Chức năng tạo tiền : Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản

chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính

cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh

mang tính đặc thù của mình đã vơ hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho

nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác

của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh tốn. Thơng qua chức

năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho

vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh

tốn dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng

vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng

hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng

tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi

trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt

buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm. do vậy ngân hàng

trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



Luận văn tốt nghiệp



Nguyễn Minh Hải



10

10

10



Học viện Tài chính



Lớp: CQ49/15.01



11

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

11

11

1.2 Dịch vụ ngân hàng và đặc trưng của dịch vụ ngân hàng

Để hiểu rõ về dịch vụ ngân hàng, trước hết cần hiểu rõ được thế nào là

dịch vụ và các đặc trưng cơ bản của nó

1.2.1 Dịch vụ và đặc trưng cơ bản của dịch vụ

1.2.1.1 Dịch vụ

Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng

và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ

kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản

lý. Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau,

đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau

Cách hiểu thứ nhất

- Theo nghĩa rộng: dịch vụ được xem là một ngành kinh tế thứ 3. Với

cách hiểu này, tất cả các hoạt động kinh tế nằm ngồi 2 ngành nơng nghiệp

và công nghiệp đều được xem là thuộc ngành dịch vụ

- Theo nghĩa hẹp: dịch vụ được hiểu là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ

cho khách hàng truớc, trong và sau khi bán

Cách hiểu thứ hai

- Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà

kết quả của chúng khơng tồn tại dưới hình dạng vật thể. Hoạt động dịch vụ

bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá

trình phát triển kinh tế - xã hội, mơi trường của từng quốc gia, khu vực nói

riêng và tồn thế giới nói chung. Ở đây dịch vụ khơng chỉ bao gồm những

ngành truyền thống như: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thương mại,

bao hiểm, bưu chính viễn thơng.mà còn lan toả đến các lĩnh vực rất mới như:

dịch vụ văn hố, hành hính, bảo vệ mơi trường, dịch vụ tư vấn.

- Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là làm một công việc cho người khác hay

cộng đồng, là một việc mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của

Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



12

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

12

12

con người, như: vận chuyển, sửa chữa và bảo dưỡng các thiết bị máy móc

hay cơng trình.

Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt

động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa khơng tồn

tại dưới hình thái vật thể, khơng dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm

thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con

người.

1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của dịch vụ

 Có thể được sử dụng nhiều lần do các tính chất của dịch vụ thường không

mất đi sau khi sử dụng : bởi các hoạt động dịch vụ mang tính kỹ năng,



thường được lặp đi lặp lại nhiều lần và càng ngày càng được hồn thiện sau

nhiều lần sử dụng

 Khơng ổn định và khó xác định được chất lượng : Khác với các ngành sản

xuất khi mà tại đó người ta có thể đánh giá được chất lượng sản phẩm theo

những tiêu chuẩn nhất định, biên độ dao dộng về chất lượng của dịch vụ rất

rộng do chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như

thời gian, địa điểm , cách thức thực hiện…..Thông thường người ta chỉ có

thể tiêu chuẩn hóa chất lượng dịch vụ theo một góc độ nhất định vì trên thực

tế cảm nhận về chất lượng dịch vụ giữa bên cung ứng và bên tiêu dùng là

khác nhau

 Dịch vụ mang tính vơ hình hay phi vật chất : Dịch vụ chỉ có thể nhận thức

được bằng tư duy hay giác quan chứ ta khơng thể "sờ mó" sản phẩm dịch vụ

được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo

lường thơng thường về thể tích, trọng lượng , khối lượng .Ví dụ như khi đi

xem phim , khán giả không thể nào biết được chất lượng của bộ phim trước

khi đến rạp, hoặc du khách không thể biết được chất lượng dịch vụ của địa

điểm tham quan trước khi tới đó



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



13

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

13

13

 Dịch vụ khơng thể lưu trữ được : bởi vì quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch

vụ diễn ra đồng thời, cho nên việc lưu trữ dịch vụ như các mặt hàng sản xuất

khác là không thể

 Hàm lượng tri thức chiếm tỉ trọng lớn : Điểm khác biệt lớn nhất giữa dịch vụ

và các ngành khác trong nền kinh tế là dịch vụ không phụ thuộc quá nhiều

vào các yếu tố nguyên vật liệu sản xuất hữu hình.Trong dịch vụ thì yếu tố

con người giữ vai trò hàng đầu, thể hiện qua việc sử dụng chất xám và các

kỹ năng chuyên biệt với sự hỗ trợ của máy móc thiết bị .Một số ví dụ như là

dịch vụ y tế, dịch vụ tư vẫn ……

1.2.2 Dịch vụ ngân hàng

1.2.2.1 Khái niệm

Cho đến hiện tại , trên thế giới vẫn chưa có được định nghĩa chuẩn hóa

thế nào là dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên , có rất nhiều quan điểm cho tới

hiện tại quan niệm rằng các hoạt động rằng tất cả các hoạt động tín dụng,

nhận tiền gửi, chuyển tiền,...được cung ứng bởi ngân hàng đều được coi là

dịch vụ ngân hàng, theo đó người ta định nghĩa như sau:

Dịch vụ ngân hàng được hiểu theo thơng lệ quốc tế đó là các cơng việc

trung gian về tiền tệ của các tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng

về sinh lời, đầu tư, giữ hộ hay bảo đảm an toàn, đem lại nguồn thu phí cho

các tổ chức cung ứng dịch vụ.

1.2.2.2 Các dịch vụ ngân hàng **

a) Dịch vụ truyền thống của ngân hàng : Đây là các dịch vụ có q trình

hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của ngân

hàng , bao gồm:

• Trao đổi ngoại tệ : Đây là một trong những hoạt động dịch vụ đầu tiên được

các ngân hàng thực hiện.Theo đó , ngân hàng sẽ đứng ra mua hoặc bán một

loại tiền này để lấy một loại tiền khác theo một tỉ giá nhất định và tỉ giá này



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



14

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

14

14

thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào tình hình kinh tế của nước sở hữu đồng

tiền (ví dụ đổi từ USD sang GBP và hưởng phí dịch vụ nếu có ). Trong thời

đại hiện nay khi thị trường tài chính phát triển thì hoạt động mua bán ngoại tệ

thường được các ngân hàng lớn đứng ra thực hiện do các hoạt động giao dịch

thường đối mắt với rủi ro cao , đồng thời u cầu chun mơn cao và hệ

thống máy móc phát triển

• Nhận tiền gửi : Vì một phần lớn doanh thu của ngân hàng tới từ các hoạt động

cho vay nên họ luôn luôn cố gắng huy động tối đa được các nguồn vốn để cho

vay.Một trong những nguồn quan trong là các khoản tiền gửi tiêt kiệm của

khách hàng với lãi suất và thời hạn khác nhau ( ngắn, trung, dài hạn…)

• Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: thời kỳ đầu ngân hàng đã

chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho các công ty vay - những người bán

các khoản phải thu của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Đó là bước

chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp nhằm giúp

khách hàng có vốn để mua hàng dự trữ, xây dựng và mua sắm máy móc thiết

bị phục vụ cho sản xuất

• Dịch vụ bảo quản tài sản q và giấy tờ có giá : Ngân hàng sẽ tiếp nhận và bảo

quản các tài sản có giá trị như vàng , bạc , kim loại quí, giấy tờ có giá hay tài

liệu quan trọng của khách hàng.Thường các nghiệp vụ này sẽ do phòng bảo

quản của ngân hàng đảm nhận

• Cung cấp các tài khoản giao dịch : Tài khoản giao dịch để khách gửi tiền và

rút tiền bằng cách sử dụng thẻ ghi nợ (debit card), sét, hay ngân hàng trực

tuyến. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là một trong

những bước đi quan trọng nhất trong ngành ngân hàng bởi vì nó cải thiện

đáng kể hiệu quả của q trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh

dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an tồn hơn.

• Ủy thác đầu tư : Ủy thác đầu tư là việc ngân hàng nhận ủy thác của một cá

nhân hoặc tổ chức để đầu tư vào một dự án. Tổ chức, cá nhân đem vốn ủy



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



15

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

15

15

thác cho tổ chức tín dụng sẽ được nhận lãi suất thỏa thuận và ký với ngân

hàng một hợp đồng ủy thác. Sau đó, ngân hàng được sử dụng số tiền này để

đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau hoặc đem cho vay với lãi suất đã thỏa

thuận từ trước đối với người ủy thác. Trái lại, người ủy thác sẽ trả phí cho

ngân hàng.

b) Các dịch vụ ngân hàng hiện đại mới phát triển gần đây:

Dịch vụ ngân hàng hiện đại được hiểu bao gồm những dịch vụ ngân

hàng truyền thống được nâng cấp, phát triển trên nền tảng công nghệ hiện đại

và những dịch vụ hoàn toàn mới được cung cấp nhằm đem lại những tiện ích

mới cho người sử dụng. Ngồi các đặc điểm đặc điểm chung cơ bản như tất

cả các dịch vụ ngân hàng khác như: tính vơ hình, tính khơng thể tách biệt hay

khơng chia cắt, tính khơng ổn định và khó xác định, dịch vụ ngân hàng hiện

đại còn có một số đặc điểm riêng, đó là:

• Thứ nhất, các dịch vụ ngân hàng hiện đại đều được phát triển dựa trên nền

tảng cơng nghệ hiện đại.

• Thứ hai, các dịch vụ ngân hàng hiện đại thường là các sản phẩm dịch vụ

mang tính trọn gói, vì thế đòi hỏi các ngân hàng phải thường xuyên bổ sung

và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Một số dịch vụ ngân hàng hiện đại :

 Thẻ ngân hàng là dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt rất tiện lợi; ngân

hàng cấp thẻ cho khách hàng có tài khoản dùng để thanh tốn tiền mua hàng,

chi trả tiền dịch vụ, hay rút tiền mặt tự động (thông qua các máy đọc thẻ

(POS), hay các máy rút tiền tự động ATM) trong phạm vi số dư tiền gửi của

mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Cơng nghệ thanh tốn bằng thẻ có

nhiều ưu điểm so với thanh toán bằng tiền mặt như: tập trung vốn tiền gửi vào

ngân hàng, giảm thiểu rủi ro, chống tham nhũng và trốn thuế… nên đã đi vào



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



16

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

16

16

cuộc sống. Hiện nay, chúng ta có các sản phẩm thẻ phổ biến là: thẻ tín dụng

(credit card), thẻ ghi nợ (debit card, ATM) :

+) Thẻ tín dụng là phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền mặt cho phép

khách hàng chi tiêu trước trả tiền sau trong phạm vi hạn mức tín dụng mà

ngân hàng cấp cho khách hàng. Chu kỳ sao kê và thời gian từ khi chi tiêu đến

khi thanh toán tuỳ thuộc vào từng loại thẻ của các tổ chức khác nhau. Nếu chủ

thẻ thanh tốn tồn bộ dư nợ vào ngày đến hạn, thời gian trên là thời gian ân

hạn và chủ thẻ không phải trả lãi với số dư nợ cuối kỳ sao kê. Nếu đến hạn,

chủ thẻ khơng thanh tốn thì sẽ phải trả phí và lãi chậm trả. Khi chủ thẻ thanh

tốn hết tồn bộ số dư nợ phát sinh thì hạn mức tín dụng sẽ được khơi phục

như ban đầu. Đó chính là tính tuần hồn của thẻ tín dụng.Các tổ chức phát

hành thẻ tín dụng cho khách hàng như ngân hàng hay cơng ty tài chính dựa

trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng đ ược xác định

căn cứ vào thu nhập, tình hình chi tiêu, vị trí cơng tác… Mỗi khách hàng có

một hạn mức tín dụng khác nhau và từ đó cũng có nhiều hạng thẻ khác nhau

như: thẻ vàng, thẻ chuẩn, thẻ kim cương…

+) Thẻ ghi nợ Thẻ ghi nợ là một phương tiện thanh tốn khơng dùng tiền

mặt mà khơng có quan hệ vay mượn giữa ngân hàng và chủ thẻ. Hay nói đúng

hơn, thẻ ghi nợ sử dụng số dư tài khoản tiền gửi của chính khách hàng để giao

dịch, và bắt buộc trong tài khoản phải còn số dư mà ngân hàng đã quy định.

Thẻ ATM là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép chủ th ẻ

trực tiếp rút tiền tại máy ATM. Hiện nay ngân hàng cung ứng cho khách hàng

nhiều tiện ích thẻ tại ATM như: vấn tin tài khoản, chuyển khoản, rút tiền, in

sao kê, xem thông tin quảng cáo. Hệ thống ATM còn cho phép chủ thẻ gửi

tiền vào tài khoản ngay tại ATM và tự mình thực hiện các dịch vụ ngân hàng

khác như gởi tiền tiết kiệm, thanh toán tiền điện, nước, cước viễn thông.



Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



17

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

17

17

 Quản lý tiền mặt: thực tế đã chỉ ra rằng, một số dịch vụ mà NHTM làm cho

bản thân ngân hàng cũng mang lại lợi ích cho khách hàng. Một trong những

dịch vụ nổi bật nhất là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó NHTM đồng ý quản

lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh, đồng thời tiến hành đầu tư

phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng

ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh tốn.Ngồi ra còn có

thêm một số hoạt động khác như là thu đổi tiền mặt VND, ngoại tệ, dịch vụ

nộp, rút tiền mặt, dịch vụ kiểm đếm tiền mặt, dịch vụ cất giữ, dịch vụ chi

lương trực tiếp

 Cho vay tiêu dùng: lịch sử đã cho thấy, hầu hết các ngân hàng khơng tích cực

cho vay đối với các cá nhân và hộ gia đình do họ tin rằng các khoản cho vay

tiêu dùng nói chung có quy mơ rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó

làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Tuy nhiên, từ việc cạnh tranh khốc

liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay, cũng như thực trạng nền kinh tế

có nhiều biến động khiến cho nhiều doanh nghiệp khó có khả năng hoàn trả lại

các khoản nợ vay từ ngân hàng đã buộc nhiều NHTM phải hướng tới người

tiêu dùng như một khách hàng trung thành tiềm năng. Cho dù, tín dụng tiêu

dùng có những bước thăng trầm nhưng vẫn phải thừa nhận rằng cho vay tiêu

dùng đã tạo ra nguồn thu quan trọng trong thu nhập của NHTM.

 Dịch vụ thanh toán tiền điện tử: Dịch vụ này cho phép một doanh nghiệp,

một cá nhân hay bất kỳ tổ chức nào khác dù có hay khơng có tài khoản tại

ngân hàng có thể trả tiền vào tài khoản của một người khác ở ngân hàng đó

hay tại một ngân hàng khác, thông qua mạng internet . Khách hàng là doanh

nghiệp thường sử dụng dịch vụ này để thực hiện thanh toán cho các nhà cung

cấp, các chủ nợ… Khách hàng cá nhân thường sử dụng dịch vụ này để chuyển

tiền cho người thân ở xa hay gửi tiền cho con đi học… Dịch vụ này rất hữu

ích do chi phí thấp, chuyển tiền nhanh, an toàn, thuận lợi.

Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



18

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

18

18

 Dịch vụ cho thuê tài chính : Đây là phương thức mà các doanh nghiệp nhờ đó

mà có thể có được những trang thiết bị cần thiết phục vụ sản xuất … mà

không cần đầu tư vốn. Các doanh nghiệp thiếu vốn cần mua sắm tài sản phục

vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, họ có thể đến các cơng ty th mua để

thuê tài sản và trả một khoản phí theo thương lượng giữa hai bên, tài sản này

vẫn thuộc quyền sở hữu của các công ty cho thuê, doanh nghiệp được sử dụng

trong thời gian thuê.

 Dịch vụ tư vấn tài chính : Ngân hàng là một tổ chức chuyên về tài chính, có

trong tay rất nhiều các chun gia tài chính do vậy ngân hàng sẵn sàng tư vấn

về đầu tư, quản lý tài chính, thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và

được khá nhiều khách hàng tin tưởng. Một số ngân hàng đã tập trung vào

cung cấp dịch vụ tư vấn để đáp ứng các nhu cầu tư vấn tài chính và quản lý

các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này đang gặp khó khăn về tài

chính và vấn đề quản lý .Ngân hàng hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp

kiểm sốt chi phí, định giá, đánh giá đầu tư cơ bản, dự báo nguồn thu nhập và

quản lý tài sản, chiến lược sản xuất kinh doanh .Ngày nay , các NHTM cung

cấp đa dạng các loại hình tu vấn tài chính, từ thuế , kế hoạch tài chính cho các

cá nhân đến tư vấn các cơ hội từ trong nước hoặc tới nước ngoài cho các

doanh nghiệp ….

 Dịch vụ hợp đồng trao đổi tín dụng (Credit Swap) : là hình

thức hai tổ chức tín dụng ký kết hợp đồng trao đổi cho nhau

một khoản tín dụng, chủ yếu để đa dạng hố danh mục cho

vay, để thực hiện các danh mục tín dụng theo chính sách tín

dụng.

 Dịch vụ bảo lãnh : do khả năng thanh toán của một ngân hàng cho một khách

hàng là rất lớn, và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân

hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh

cho khách hàng mua chịu trang thiết bị hoặc hàng hóa, phát hành chứng

Nguyễn Minh Hải



Lớp: CQ49/15.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan về ngân hàng thương mại và sự phát triển của dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×