Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hiu qu gim gia tng chiu di trc nhón cu l rừ rt trong cn th thp hn cn th cao trong c 2 nhúm. Tr cú cn nng ti thi im bt u iu tr cú s gia tng chiu di trc nhón cu nhiu hn cn th thp .

Hiu qu gim gia tng chiu di trc nhón cu l rừ rt trong cn th thp hn cn th cao trong c 2 nhúm. Tr cú cn nng ti thi im bt u iu tr cú s gia tng chiu di trc nhón cu nhiu hn cn th thp .

Tải bản đầy đủ - 0trang

128



tiến hành trên cận thị thấp độ[ CITATION Fan07 \l 1033 ]. Trong nghiên cứu của

Chou (1997)[ CITATION Cho97 \l 1033 ]trên 20 trẻ có cận thị cao độ (> -0,6 D)

tiến triển cận thị giảm một cách có ý nghĩa sau khi sử dụng atropin 0,5%. Kết quả

này đáng khích lệ, tuy nhiên yếu vì thiếu nhóm chứng, khơng đo chiều dài trục nhãn

cầu và đã sử dụng các phương pháp điều trị khác trước khi điều trị bằng atropin

trong hầu hết các đối tượng. Trong nghiên cứu của Fan (2007) [ CITATION

Fan07 \l 1033 ] sử dụng atropin 1% trên 23 trẻ có cận thị trung bình và nặng, tiến

triển cận thị và chiều dài trục nhãn cầu gia tăng trong nhóm can thiệp là +0,06 ±

0,79 D và 0,09 ± 0,19mm, ít hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng là -1,19 D ± 2,48 D

và 0,70 ± 0,63 mm. Nghiên cứu của Polling (2016) [CITATION JRP16 \l 1033 ] sử

dụng atropin 0,5% trong 1 năm, 77 trẻ hoàn thành nghiên cứu, 50,6% là cận thị cao

độ (-6,13 tới -18,63 D), tiến triển cận thị và chiều dài trục nhãn cầu gia tăng -0,1 ±

0,7 D và 0,11 ± 0,29 mm / năm trong nhóm can thiệp.Như vậy, atropin đáng quan

tâm ở trẻ có nguy cơ cao phát triển cận thị nặng như: cận thị nặng ngay khi còn trẻ,

tiến triển cận thị nhanh, tiền sử gia đình có cận thị nặng.

Trẻ với cận thị thấp độ: Trong phân tích đa biến, các yếu tố như khúc xạ cầu

ban đầu với độ cận thị ít và được điều trị bằng atropin thì tiến triển cận thị ít. Hiệu

quả điều trị của atropin 1% với trẻ cận thị thấp độ (-0,5 D tới -2,0 D) trong nghiên

cứu của Shu Yi (2015) [CITATION Shu15 \l 1033 ] cho thấy atropin 1% có tác dụng

làm chậm trong 93% các trường hợp và có 1 sự cải thiện thị lực nhìn xa khơng

chỉnh kính. Sau 1 năm điều trị, tiến triển cận thị và gia tăng chiều dài trục nhãn cầu

là -0,32 ± 0,22 D và 0,03 ± 0,07 mm trong nhóm can thiệp, trong khi nhóm chứng là

-0,85 ± 0,31 D và 0,32 ± 0,15 mm. Nhiều yếu tố có thể giải thích sự đáp ứng thuốc

khác nhau. Bao gồm yếu tố gen, yếu tố môi trường, mức độ nặng của bệnh, biên độ

điều tiết và tham gia hoạt động ngoài trời. Các nghiên cứu thêm là cần thiết để sáng

tỏ vấn đề này. Sau 1 năm, thị lực nhìn xa khơng chỉnh kính của 35/68 trẻ là ≤ 0,3

(20/40). Các trẻ này có khả năng nhìn rõ mà khơng phải mang kính trong hầu hết

các cơng việc. Ngược lại, trong nhóm chứng, hầu hết các trẻ cần kính để nhìn

xa[CITATION Shu15 \l 1033 ]. Trong nghiên cứu của Wu (2011) [CITATION Pei11

\l 1033 ] với atropin nồng độ thấp và trung bình 0,05 -0,1%. Phân tích đa biến



129



atropin nồng độ thấp, cho thấy yếu tố độ cầu ban đầu thấp liên quan một cách có ý

nghĩa đến sự tiến triển chậm của cận thị (p < 0,001). Các yếu tố tuổi, giới tính và

loạn thị ban đầu liên quan khơng có ý nghĩa (p = 0,442, 0,494 và 0,547 một cách

tương ứng).Trong nghiên cứu của Clark (2015)[ CITATION TYCov \l 1033 ] với

thuốc nhỏ mắt atropin 0,01%, đối với các đối tượng cận thị ban đầu thấp (≤ 1,00 D),

9/11 (82%) nhóm atropin khơng có tiến triển hoặc chuyển dịch nhẹ về viễn thị sau

1 năm, trong khi 8/8 (100%) nhóm chứng có xu hướng cận thị hơn.

Hiệu quả điều trị với cận thị thấp độ cho thấy: Tại các nước như Trung Quốc,

Việt nam…, nhiều cha mẹ không muốn trẻ mang kính tại đợt khởi phát của bệnh.

Tuy nhiên atropin có thể chứng minh là 1 giải pháp điều trị tốt cho cận thị khởi phát

sớm[CITATION Shu15 \l 1033 ].

4.2.3.4. Các yếu tố môi trường

Trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có sự khác biệt có ý nghĩa được tìm thấy

giữa nhóm tiến triển và nhóm khơng tiến triển khi xem xét hoạt động ngoài trời và hoạt

động nhìn gần. Theo Loh (2015) [CITATION Lohay \l 1033 ] khơng có sự khác biệt có

ý nghĩa được tìm thấy giữa nhóm tiến triển và nhóm khơng tiến triển trong nhóm điều

trị bằng thuốc nhỏ mắt atropin 0,01% khi xem xét yếu tố hoạt động ngoài trời (6,1 so

với 5,9 giờ/ tuần) và các hoạt động nhìn gần khác nhau, như thời gian đọc viết, xem

tivi, chơi game.

4.2.3.5. Các yếu tố dịch tễ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ có bố mẹ cận thị trong nhóm tiến triển

cao hơn nhóm khơng tiến triển. Trong nhóm tiến triển, 79,41% mẹ, 73,52% bố,

58,82% cả 2 bố mẹ cận thị, so với 65,43% (p = 0,138), 59,25% (p = 0,155) và

35,80% (p = 0,022) trong nhóm khơng tiến triển, một cách tương ứng.

Kết quả của chúng tôi cũng tương tự với các nghiên cứu khác, như phân tích

của Loh [CITATION Lohay \l 1033 ] trên ATOM với atropin 1%, nhóm tiến triển có

bố mẹ bị cận thị cao hơn nhóm khơng tiến triển. Trong số các trẻ tiến triển, 90,9%

có mẹ, 86,4% có bố, 77,3% cả hai bố mẹ cận thị, so sánh với 73,8% (p = 0,111),

65,0% (p = 0,055) và 48,1% (p = 0,012), một cách tương ứng với nhóm chứng.Yếu

tố nguy cơ bố mẹ cận thị cũng được đánh giá trong các phương pháp khác, như của



130



Sankaridurg (2010)[CITATION Pad10 \l 1033 ]. Tuy nhiên, khơng có sự khác biệt

về mức độ giáo dục của bố mẹ, cũng như tình trạng kinh tế giữa các nhóm.

Phân tích hồi quy các yếu tố nguy cơ cận thị tiến triển

Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 29,56% (34/115) trẻ cận thị tiến triển mặc

dù đã được điều trị thuốc nhỏ mắt atropin 0,01%, những trẻ tiến triển này thường có

xu hướng trẻ hơn (có 13% nguy cơ cận thị tiến triển giảm với cứ 1 năm tuổi gia

tăng), có độ cận thị cao tại thời điểm bắt đầu điều trị (cứ 1 D thấp hơn tại thời điểm

ban đầu, nguy cơ tiến triển cận thị giảm 12%), có cha mẹ bị cận thị (nguy cơ tiến

triển cận thị cao hơn 164% nếu cả 2 bố mẹ bị cận thị). Các yếu tố này mang tính di

truyền. Những lý do của việc khơng đáp ứng tốt là không chắc chắn và cần phải khảo

sát dài hơn, hoặc đơn giản là do nồng độ atropin khơng đủ trong việc kiểm sốt tiến

triển ở các trẻ này với tình trạng cận thị nặng. Mặc dù tiến triển cận thị xảy ra nhưng

khơng có nghĩa là khơng có đáp ứng. Chúng tơi cũng tìm thấy rằng, trong số 34 trẻ tiến

triển, mức độ tiến triển vẫn chậm hơn so với tiến triển trong nhóm chứng và cho thấy

mức độ không đáp ứng với atropin chỉ là khoảng gần 7% (8/115).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như kết quả của các nghiên

cứu khác: Loh (2015)[CITATION Lohay \l 1033 ] trong ATOM cho thấy có 12,1%

trẻ cận thị tiến triển mặc dù đã được điều trị bằng thuốc nhỏ mắt atropin 0,01% và của

Shih (2001) [CITATION Yun01 \l 1033 ] cho thấy 7/6 (10,6%) tiến triển 0,75 D hoặc

hơn trong nhóm atropin 0,5%; mặc dù thấp hơn so với Chia [CITATION Chieb \l

1033 ] trong ATOM 2 cho thấy có 18% trong cả 3 nhóm atropin 0,5%, 0,1% và 0,01%

tiến triển, mặc dù có điều trị, và của Wu (2001) [CITATION Pei11 \l 1033 ] ở trẻ Đài

Loan, có 19/97 (20%) ở nhóm điều trị bằng atropin 0,05% thấy tiến triển cận hơn 0,5

D/ năm.

Khi cận tiến triển nhanh, Chia đã chuyển sang dùng nồng độ cao hơn, nhưng vẫn

có 10% tiến triển. Shih trong một nghiên cứu khác [CITATION YFSeb \l 1033 ] với

atropin nồng độ khác nhau thấy với nồng độ càng thấp thì tỷ lệ tiến triển cận càng cao:

có 4%, 17% và 33% trong các nhóm điều trị atropin 0,5%, 0,25%, 0,1% với tiến triển

hơn -1,0 D/ năm.



131



Tuy nhiên, trước khi điều trị thật khó dự đốn trẻ nào tiến triển, cho tới khi

điều trị được 6 - 12 tháng. Trong điều kiện lâm sàng, chúng ta không thể chắc chắn

hiệu quả của atropin. Nếu tốc độ tiến triển của trẻ cùng một tốc độ trước khi bắt đầu

điều trị thì có thể giả định rằng atropin khơng hiệu quả và nên ngừng. Có thể giả

định rằng nếu trẻ khơng đáp ứng với thuốc nhỏ mắt atropin 1% thì sẽ không đáp

ứng với thuốc nhỏ mắt atropin 0,01%. Điều quan trọng là các nhà lâm sàng cần ý

thức được điều này và bố mẹ cần được tham vấn một cách thích hợp.

4.2.4. Lý do bỏ cuộc và tác dụng phụ



 Lý do bỏ cuộc

Kết quả của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bỏ cuộc trong nhóm can thiệp rất ít, chỉ

có 4 em bỏ cuộc (5,12%) do tuân thủ kém (2 ca, 2,56%) và sử dụng phương pháp

khác (2 ca, 2,56%). Các trường hợp còn lại là do mất theo dõi (8 ca, 10,25%). Tỷ lệ

bỏ cuộc này thấp hơn các nghiên cứu khác, như của Shih (2001)[ CITATION Yun01

\l 1033 ] trong nhóm atropin 0,5% là 13,15%, của Yi (2015)[ CITATION Shu15 \l

1033 ] với atropin 1% là 8%. Hầu hết các lý do bỏ cuộc trong các nghiên cứu khác

là: 1/ mất theo dõi trong khoảng thời gian định kỳ. 2/ sử dụng các phương pháp

khác. 3/ mức độ tương hợp kém với điều trị. 4/ tiến triển cận thị nhanh [ CITATION

Yun01 \l 1033 ].

Sở dĩ trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ bỏ cuộc thấp là do trẻ được khám

và theo dõi tại ngay trường học và cả tại bệnh viện, mức độ tương hợp tốt với thuốc

atropin nồng độ thấp 0,01% và hiệu quả thuốc thấy rõ ngay trong 6 tháng và 1 năm

đầu tiên, nên được cha mẹ và học sinh tin tưởng. Các trường hợp ngừng điều trị

thường xảy ra ngay sau khi bắt đầu điều trị. Nếu trẻ theo đuổi được điều trị trong 4

tuần thì có khả năng kéo dài điều trị sau đó.



 Tác dụng phụ

Tác dụng phụ trong nghiên cứu của chúng tôi là không đáng kể, chỉ gặp 2 ca

viêm kết mạc dị ứng (1,4%), 1 ca (0,7%) viêm da mi dị ứng, 1 ca cảm thấy mờ nhẹ

sau nhỏ thuốc nhưng hết ngay sau 1 tuần, khơng có trường hợp nào nghiêm trọng

phải dừng điều trị.



132



Các nghiên cứu trước đây với atropin nồng độ cao 0,5- 1% cũng cho thấy tác

dụng phụ của atropin có thể chịu đựng được[ CITATION Fan07 \l 1033 ] và khơng

có tác dụng phụ nghiêm trọng [ CITATION Par11 \l 1033 ] như của Yi (2015)

[ CITATION Shu15 \l 1033 ] chỉ thấy sợ ánh sáng do giãn đồng tử, của Fan (2007)

[ CITATION Fan07 \l 1033 ] thấy 4,3% có phản ứng dị ứng nhẹ nhưng nhanh chóng

hết sau khi ngưng điều trị. Kennedy (1995) [CITATION Ken95 \l 1033 ] đã mô tả

chi tiết tần số xuất hiện các tác dụng phụ với atropin 1% trên 214 trẻ được thể hiện

qua Bảng 4.19.

Bảng 4.17. Tác dụng phụ (Kennedy, 1995)

Tác dụng phụ

Sợ ánh sáng

Nhìn mờ

Phản ứng dị ứng tại mắt

Khó chịu tại mắt

Nhức đầu

Miệng khó chịu

Khơ miệng

Khơ mắt

Vấn đề tâm thần

Chóng mặt



Số lượng

86

23

8

8

5

5

4

3

1

1



Tỷ lệ (%)

40,2

10,7

3,7

3,7

2,3

2,3

1,9

1,4

0,5

0,5



Kết quả của chúng tôi cũng thấy atropin ít có tác dụng phụ, tương tự như

nghiên cứu của Chia trong ATOM 2 [CITATION Chieb1 \l 1033 ] phản ứng phụ hầu

như khơng có trong nhóm nhỏ mắt atropin 0,01%, chỉ có 3,2% viêm kết mạc dị ứng,

0,8% viêm da dị ứng. 11% giảm 1 hàng thị lực nhìn xa, và tác dụng phụ này phục

hồi sau khi ngừng thuốc và sau 5 năm theo dõi vẫn chưa thấy trẻ bỏ cuộc vì các lý

do nào khác [CITATION Chi15 \l 1033 ][ CITATION Par16 \l 1033 ]. Các tác giả

khác như Hu(1998) [ CITATION Placeholder14 \l 1033 ] cũng thấy chỉ có 6% nhóm

nhỏ mắt atropin 0,01% có sợ ánh sáng, Clark (2015) [ CITATION TYCov \l 1033 ],

thấy 3 trường hợp phàn nàn mờ liên tục hoặc nhạy cảm ánh sáng, Noha S. Ekdawi

(2015)[ CITATION Ekd15 \l 1033 ] với thuốc nhỏ mắt atropin 0,01% thấy có khó khăn

nhẹ về đọc dưới 4 tuần, Nishiyama Y (2015)[CITATION YNiov \l 1033 ] với thuốc

nhỏ mắt atropin 0,01% lại không thấy phản ứng phụ trong bất cứ trường hợp nào.



133



Như vậy, trong các nghiên cứu, hầu hết các khó khăn là do sợ ánh sáng và vấn đề

nhìn gần. Chúng tôi thấy những thông tin hướng dẫn cho cha mẹ và học sinh thơng

qua các thư gửi gia đình và thơng báo miệng là có giá trị lớn, làm gia tăng việc nhiệt

tình tham gia. Kết quả của chúng tôi cho thấy khả năng tương hợp với thuốc rất tốt. Để

gia tăng khả năng thích ứng với thuốc thì với trẻ độ cận rất nhẹ (0,75 D) và tiến triển

chậm, số lượng nhỏ thuốc có thể giảm 2 lần/ 1 tuần như đề nghị của Lu [ CITATION

Lu10 \l 1033 ].

4.2.5. Các thay đổi sau khi ngừng điều trị

Kết quả của chúng tôi cho thấy sau khi ngừng thuốc, sau 6 tháng đầu tiến triển

cận thị là 0,30 D, khác với 6 tháng cuối là 0,24 D, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Chiều dài trục nhãn cầu tiến triển là 0,14 mm trong 6 tháng đầu và 0,17 mm trong 6

tháng cuối, khơng có sự khác biệt có ý nghĩa. Điều này cho thấy khi ngừng atropin,

tác dụng làm chậm tiến triển cận thị giảm nhưng không có hiện tượng phản ứng

ngược lại sau khi ngừng thuốc. Hiện tượng này là một tác động tạm thời, nhưng làm

gia tăng nhanh tiến triển cận thị sau khi đã được điều trị trước đây với atropin, có

thể xảy ra với atropin nồng độ cao và trung bình, với thời gian điều trị kéo dài ít

nhất 1 năm. Ngồi ra, sự khác biệt trong tiến triển cận thị trong 6 tháng đầu khác

với 6 tháng cuối, điều này có thể giải thích là ngồi tác dụng dài hạn làm chậm tiến

triển cận thị thì atropin còn có tác dụng làm liệt điều tiết. Khi ngừng thuốc, tác dụng

liệt điều tiết hết dẫn tới làm giảm SE như khi đo khúc xạ trong lần khám thứ 2 (2

tuần sau lần điều trị ban đầu). Khơng rõ điều gì nằm sau phản ứng ngược và cần

xem xét thận trọng với atropin nồng độ cao. Vì vậy, thuốc nhỏ mắt atropin 0,01%

hiện nay là một lựa trọn thích hợp [ CITATION Mor16 \l 1033 ]. Trẻ nhận được

điều trị bằng atropin nồng độ càng thấp bao nhiêu càng tiến triển cận thị ít bấy

nhiêu sau khi ngưng. Kết quả là thuốc nhỏ mắt atropin 0,01% hiệu quả hơn trong

việc giảm tiến triển cận thị trong 3 năm [ CITATION Chi15 \l 1033 ].

Mặc dù trong nghiên cứu của chúng tôi với thuốc nhỏ mắt atropin 0,01%

không thấy hiện tượng phản ứng ngược, tuy nhiên tiến triển cận thị trong năm thứ 3

là 0,54 ± 0,23 D cao hơn so với tiến triển cận thị trung bình trong 2 năm đầu của

nhóm can thiệp là 0,36 D/ năm. So với tiến triển cận thị nhóm chứng là 0,62 ± 0,24



134



D, tiến triển cận thị trong nhóm can thiệp năm thứ 3 khơng có khác biệt có ý nghĩa

về mặt lâm sàng. Nghiên cứu khác của Brodstein (1984)[CITATION Bro \l 1033 ]

trên 253 bệnh nhân cận thị trong 9 năm và báo cáo sau khi chấm dứt điều trị, cận

thị tiến triển ở những bệnh nhân được điều trị trước đây với atropin cũng không

khác so với đối chứng. Tuy nhiên Kennedy (2000)[ CITATION Ken00 \l 1033 ] báo

cáo mức độ kiểm soát của cận thị kéo dài trong khoảng thời gian 10 năm

[ CITATION ton09 \l 1033 ]. Khơng có hiện tượng phản ứng ngược sau ngừng

thuốc và tiến triển cận thị trung bình trong 3 năm chỉ là 0,48 D/ năm, đã cho thấy

hiệu quả tích cực của việc điều trị atropin trước đó. Trong nghiên cứu ATOM 1,

Tong [CITATION ton09 \l 1033 ] thấy sau khi ngưng điều trị, tiến triển trung bình

trong nhóm atropin 1% được điều trị là 1,14 ± 0,80 D/ 1 năm, trong khi mức tiến

triển trong mắt nhóm chứng là 0,38 ± 0,39 D (p <0,0001). Như vậy, mắt được điều

trị với atropin 1% có tỷ lệ cận thị tiến triển cao hơn so với mắt được điều trị với giả

dược. Tuy nhiên, cận thị tiến triển tuyệt đối sau 3 năm thấp hơn đáng kể ở nhóm can

thiệp so với nhóm chứng. Chia (2014)[CITATION Chieb1 \l 1033 ], Polling (2016)

[CITATION JRP16 \l 1033 ] duy trì điều trị atropin dài hơn với nồng độ thấp đã

được đề nghị để ngăn ngừa hiện tượng phản ứng ngược.

Thay đổi trong kích thước đồng tử, điều tiết và thị lực nhìn xa/ nhìn gần:

Kích thước đồng tử và biên độ điều tiết mất vài tháng để phục hồi và vẫn lớn hơn

một chút so với thời điểm điều trị sau cùng. Điều tiết tại thời điểm 36 tháng thấp hơn

so với lần khám sàng lọc đầu tiên là -2,56 D (p <0,001). Điều này một lần nữa cho thấy

đây là điều mong đợi sau 3 năm điều trị, bởi vì biên độ điều tiết rõ ràng phải ít hơn ở

trẻ 11 tuổi so với cùng đứa trẻ đó lúc 8 tuổi. Thật sự là biên độ điều tiết của trẻ 7 - 9

tuổi (n = 76) cao hơn 1,38 D so với các trẻ 12 - 13 tuổi tại thời điểm khám ban đầu (n =

61) (16,48 D so với 15,10 D, p = 0,011). Kết quả trên cũng tương tự nghiên cứu của

Chia sau khi ngừng thuốc năm [ CITATION Chieb1 \l 1033 ]. Như vậy tác động của

atropin đối với điều tiết và thị lực nhìn gần không phải vĩnh viễn mà sau khi ngừng

nhỏ thuốc, biên độ điều tiết và thị lực nhìn gần trở lại mức như trước khi điều trị

[ CITATION ton09 \l 1033 ][ CITATION Tas14 \l 1033 ].



135



4.2.6. Độ tuổi và khoảng thời gian điều trị tối ưu

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tiến triển cận thị khi điều trị ở nhóm trẻ dưới

10 tuổi trong 2 năm (0,79 ± 0,37 D) nhiều hơn nhóm trẻ lớn (0,61 ± 0,32 D) và khi

ngưng điều trị thì tiến triển trong nhóm trẻ dưới 10 tuổi (0,64 ± 0,21 D) vẫn nhiều

hơn nhóm trẻ lớn (0,42 ± 0,20 D).

Như vậy, đối với độ tuổi ban đầu nhỏ thì khả năng trẻ tiến triển cận thị nhanh

hơn, đồng thời quá trình cận thị học đường chưa ổn định, khả năng vẫn còn tiến

triển sau khi ngưng thuốc, do đó trẻ càng nhỏ càng có xu hướng tiến triển cận thị

hơn trẻ lớn và cần được quan tâm hơn.Chúng tôi cho rằng điều trị với thuốc nhỏ mắt

atropin 0,01% nên duy trì liên tục ≥ 3 hoặc 4 năm, khi trẻ đạt tới độ tuổi ổn định,

khoảng 16-17 tuổi, như cùng ý kiến của tác giả Galvis [ CITATION Gal16 \l 1033 ].

Ngược lại, trong nhóm trẻ lớn tuổi (12 - 13) khi hoàn thành việc điều trị 2

năm, các em đạt độ tuổi 15 - 16 tuổi thì chúng tơi nhận thấy rằng tiến triển cận thị

gần như ổn định, cận thị tiến triển chậm (0,42 ± 0,20 D/ năm). Như vậy, khoảng thời

gian 2 năm là đủ cho các em độ tuổi lớn và ít có khả năng cần sử dụng thuốc nhỏ mắt

atropin 0,01% cho các em sau 16 tuổi vì nhiều bằng chứng dịch tễ học đã cho thấy tật

khúc xạ ổn định ở lứa tuổi này. Chúng tôi cùng quan điểm như Epley [ CITATION

Par16 \l 1033 ] đề nghị sử dụng atropin nồng độ thấp cho trẻ từ 5 - 15 tuổi. Như vậy,

thơng thường có thể ngừng sử dụng atropin ở trẻ em cận thị lớn hơn 18 tuổi. Tuy nhiên,

khơng có lý do gì để khơng sử dụng trên trẻ thanh thiếu niên nếu cận thị vẫn tiến

triển.

Như vậy khoảng thời gian điều trị atropin dài bao lâu, cần xem xét thời gian

cận thị trước đó. Lý tưởng nhất là chỉ sử dụng atropin trong thời gian ngắn vào giai

đoạn tiến triển cận thị tối đa xảy ra. Việc chấm dứt và tái điều trị tiếp theo tùy theo

mức độ tiến triển của cận thị.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trong 6 tháng điều trị đầu tiên, cận thị vẫn có

thể tiến triển, sau 6 tháng tiến triển cận thị thường chậm hơn một cách có ý nghĩa,

bằng hoặc dưới 0,5 D/ năm. Chúng tôi cho rằng cần it nhất sử dụng thuốc nhỏ mắt

atropin 0,01% trong 6 tháng để xem xét có đáp ứng điều trị hay khơng và nếu kết



136



quả tốt, ví dụ như tiến triển chậm, tiếp tục điều trị ít nhất 1 năm. Sau đó, có thể

ngừng điều trị. Nếu cận thị tái phát, điều trị lại trong 6 tháng hoặc 1 năm.

Đối với lứa tuổi < 6 tuổi: Nghiên cứu của chúng tôi chưa tiến hành trên các

đối tượng này. Tác giả Lu [ CITATION Lu10 \l 1033 ] còn cho rằng cận thị nên

được điều trị tích cực cho trẻ càng sớm càng tốt, có thể trước tuổi đi học để tránh các

biến chứng muộn do cận thị nặng. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, cận thị do trục

hiếm xảy ra ở trẻ < 5 tuổi và trên 1 D là không điển hình, cần loại trừ các nguyên

nhân bệnh sinh khác. Hơn nữa, không rõ cơ chế xảy ra cận thị có giống trẻ lớn hay

khơng, vì vậy hiện tại trẻ dưới 5 tuổi khơng nên khuyến khích sử dụng atropin và

cần các nghiên cứu sâu hơn.

Cần các nghiên cứu dài hơn để xác định thời gian tối ưu cho việc điều trị bằng

cách đánh giá SE sau khi ngừng điều trị.

Cận thị học đường sẽ tiến triển trong 1 thời gian nhất định và ngừng lại. Mục

tiêu điều trị là giảm tối đa độ cận thị cuối cùng.Tại Việt nam, cũng như một số nước

phương Đơng khác, cha mẹ có tâm lý khơng muốn con mình mang kính ngay khi

khởi phát cận thị và atropin có thể là lựa chọn tốt cho cận thị khởi phát sớm

[ CITATION Shu15 \l 1033 ]. Các báo cáo từ Trung Quốc cho thấy mức độ ổn định

cận thị khi sử dụng atropin và cũng được khẳng định rằng khơng có các vấn đề lớn

tại Đài Loan và Singapore [ CITATION Mor16 \l 1033 ], đặc biệt atropin nhỏ mắt

nồng độ thấp 0,01% càng an toàn hơn [ CITATION Mor16 \l 1033 ].



KẾT LUẬN



137



Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 04/2014 đến tháng 07/2017, tại các

trường tiểu học và THCS thành phố Cần Thơ trên 2717 học sinh (5434 mắt), gồm

1376 nam (50,64%) và 1341 nữ (49,36%), trong đó có 136 học sinh được nghiên

cứu hiệu quả của thuốc nhỏ mắt atropin 0,01% trong 2 năm với 66 em nhỏ atropin

(24 nam, 42 nữ) và 70 em đối chứng (32 nam và 40 nữ), chúng tôi đưa ra các kết

luận sau:

1. Đặc điểm cận thị của học sinh một số trường tại TP. Cần Thơ năm học 2013 - 2014

- Tỷ lệ mắc cận thị cao nhất (22,81%), trong đó cận thị nhẹ 15,27%, cận thị

trung bình 6,16%, cận thị nặng 1,38%.

- Tỷ lệ cận ở học sinh nữ là 27,80%, học sinh nam là 17,98%. Nữ có nguy cơ cao

gấp 1,54 lần.

- Tỷ lệ cận thị vùng ngoại thành là 16,98%, vùng nội thành là 28,23%.

- Các yếu tố thuận lợi liên quan đến cận thị: học sinh có cha mẹ bị cận thị thì

nguy cơ cao gấp 5,52 lần so với học sinh khơng có cha mẹ bị cận thị. Học sinh có

thời gian học bài và sử dụng mắt nhìn gần trung bình trên 8 giờ/ ngày có nguy cơ

cận thị cao gấp 3,21 lần so với học sinh sử dụng dưới 8 giờ. Học sinh tham gia các

hoạt động ngoài trời trung bình trên 2 giờ/ ngày có nguy cơ cận thị ít hơn (0,33 lần)

so với học sinh hoạt động ngoài trời dưới 2 giờ/ ngày.

2. Về hiệu quả của thuốc nhỏ mắt atropin 0,01% đối với tiến triển cận thị

- Giảm thị lực sau can thiệp atropin 0,01%: bằng 62,50% so với nhóm chứng.

- Tiến triển cận thị: nhóm can thiệp là 0,31 ± 0,26 D/ năm, ít hơn có ý nghĩa so

với nhóm chứng là 0,70 ± 0,36 D/ năm (p < 0,05); Sau 2 năm can thiệp, mức độ cận

thị nhẹ chỉ giảm nhẹ từ 45,45% xuống 30,30%. Mức độ cận thị trung bình gia tăng

nhẹ, từ 41,66% lên 50,75%. Trong khi nhóm chứng, mức độ cận thị nhẹ giảm mạnh

từ 87,85% xuống 48,57% và mức độ cận thị trung bình gia tăng mạnh từ 12,14%

lên 47,85%; 70,43% số học sinh ở nhóm can thiệp có tiến triển cận thị ít hơn -0,5 D,

trong khi chỉ có 0,86% có tiến triển cận thị hơn -1,0 D và khơng có trường hợp nào

tiến triển rất nhanh. Ngược lại, trong nhóm đối chứng chỉ có 19,28% tiến triển cận



138



thị ít hơn -0,5 D và 11,42% có tiến triển cận thị hơn -1 D và khơng có trường hợp

nào tiến triển rất nhanh.

- Tăng chiều dài trục nhãn cầu: nhóm can thiệp thấp hơn được 64,28% (0,54 ±

0,33 mm trong nhóm can thiệp so với 0,84 ± 0,30 mm trong nhóm chứng) vào cuối

giai đoạn 24 tháng.

- Thay đổi biên độ điều tiết, kích thước đồng tử của nhóm can thiệp: biên độ

điều tiết giảm 4,9 D nhưng duy trì được 11,21 D lực điều tiết, khơng thay đổi theo

thời gian nên thị lực nhìn gần khơng giảm, khơng cần sử dụng kính 2 tiêu cự. Kích

thước đồng tử tăng hơn bình thường 1mm và khơng cần sử dụng kính râm.

- Mối liên quan giữa giới tính, độ tuổi với tiến triển cận thị: khơng có sự khác

biệt ảnh hưởng của giới tính; học sinh trên 10 tuổi có hiệu quả nhiều hơn; độ cận

ban đầu càng cao càng có khả năng tiến triển cao hơn.

- Tính an tồn của thuốc nhỏ mắt atropin 0,01%: Tác dụng phụ không đáng

kể, chiếm 5,12% (1 case viêm da dị ứng,2 case viêm kết mạc và 1 case giảm thị lực

1 hàng).

- Các thay đổi sau khi ngừng điều trị: tiến triển cận thị trong nhóm can thiệp

là -0,54D/ năm thứ 3. Tuy nhiên, tiến triển cận thị trung bình trong 3 năm vẫn ít hơn

so với nhóm chứng (-0,42 ± 0,26 D so với -0,64 ± 0,3 D). Gia tăng chiều dài trục

nhãn cầu là 0,31 mm/ năm thứ 3. Tuy nhiên, gia tăng chiều dài trục nhãn cầu trung

bình trong 3 năm vẫn ít hơn so với nhóm chứng (0,28 mm so với 0,45 mm). Kích

thước đồng tử, biên độ điều tiết, thị lực nhìn xa, nhìn gần phục hồi hoàn toàn sau

khi ngừng thuốc 2 tháng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hiu qu gim gia tng chiu di trc nhón cu l rừ rt trong cn th thp hn cn th cao trong c 2 nhúm. Tr cú cn nng ti thi im bt u iu tr cú s gia tng chiu di trc nhón cu nhiu hn cn th thp .

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×