Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
T l cn th cỏc trng iu tra: cỏc trng trong nghiờn cu ca chỳng tụi ch nm khu vc gn trung tõm thnh ph, nhng cú n 22,81% sụ hc sinh b cn th hc ng cng l mt t l khỏ cao. So sỏnh vi cỏc nghiờn cu trc õy ca chỳng tụi l 9,2% (2008) ti ễ Mụn, 1 qun thuc thnh ph C

T l cn th cỏc trng iu tra: cỏc trng trong nghiờn cu ca chỳng tụi ch nm khu vc gn trung tõm thnh ph, nhng cú n 22,81% sụ hc sinh b cn th hc ng cng l mt t l khỏ cao. So sỏnh vi cỏc nghiờn cu trc õy ca chỳng tụi l 9,2% (2008) ti ễ Mụn, 1 qun thuc thnh ph C

Tải bản đầy đủ - 0trang

98



Tỉnh thành



Vũ Thị Thanh [ CITATION VũT14 \l



Năm

2009

2014



Tỷ lệ (%)

25,5

33,7



TP. Hồ Chí Minh



1033 ]

Lê Thị Thanh Xun [ CITATION



2009



38,88



Hải Phòng



LêT09 \l 1033 ]

Đặng Anh Ngọc [ CITATION Đặn10



2010



16,42



CITATION



1999

2011



13,6

5,9



An Giang



Mai11 \l 1033 ]

Dương Tòng Chinh [CITATION



2013



13,1-19,8



Thái Nguyên



Duo13 \l 1033 ]

Vũ Quang Dũng [ CITATION



2006



16,8



2014



22,81



Hà Nội

Hà Nội



Tác giả

Trịnh Bích Ngọc



\l 1033 ]



Nam Định

Bắc Kạn



Nguyễn Văn Liên

Mai



Quốc



Tùng[



Dun09 \l 1033 ]



Cần thơ (số liệu điều tra đầu Tác giả

vào của luận án)



Kết quả trong bảng cho ta thấy số liệu nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự

với kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả tại các thành phố khác, nhưng cao hơn so

với các khu vực vùng núi phía bắc như Thái Nguyên, Bắc Kạn.

Tỷ lệ cận thị học đường trong các nghiên cứu năm sau đều cao hơn năm

trước rõ rệt. Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Xuyên [ CITATION LêT09 \l 1033 ] tại

thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ cận thị đã tăng từ 17,2% năm 2002 lên

38,88% năm 2006. Tương tự như vậy, tỷ lệ cận thị tại Cần Thơ cũng đã tăng gấp đôi

sau 6 năm, từ 9,2% năm 2008 tăng lên 22,81% năm 2014 Tuy nhiên, so với các

thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thì tỷ lệ cận thị học đường ở khu

vực đồng bằng sơng Cửu Long còn thấp hơn rất nhiều.

Tỷ lệ cận thị ở nội thành và ngoại thành: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy,

tỷ lệ 2 trường gần nội thành là 28,23% cao hơn rõ rệt so với 2 trường vùng ngoại

thành là 16,98%. Kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Phạm văn Tần

(2010)[CITATION Walec \l 1033 ], thấy tỷ lệ cận ở nội thành và ngoại thành là

30,2% và 10%; của Lê Thị Thanh Xuyên (2009) [ CITATION LêT09 \l 1033 ] ở

vùng trung tâm TP. Hồ Chí Minh là 56,67%, ở vùng cạnh trung tâm là 36,93%, ở

vùng ven là 38,88% và ở ngoại thành là 15,48%. Tỷ lệ cận thị ở nội thành cao hơn

ngoại thành có thể do gánh nặng học tập ở nội thành cao hơn, phụ huynh học sinh



99



kỳ vọng nhiều nên việc đầu tư dành thời gian cho các em học tập nhiều hơn. Ngồi

ra, với điều kiện kinh tế khá giả thì nhiều gia đình còn mua cho các em những đồ

giải trí như máy vi tính, trò chơi điện tử… cũng tạo thêm gánh nặng thị giác. Mặt

khác, ở nội thành không gian sống bị thu hẹp do sự phát triển đơ thị làm tầm nhìn

ln bị hạn chế. Đây có thể là yếu tố dẫn đến tỷ lệ học sinh bị cận thị ở nội thành

cao hơn ngoại thành.

Tỷ lệ cận thị học đường theo khối lớp học: Tỷ lệ cận thị có xu hướng gia tăng

rõ rệt theo từng khối học. Tỷ lệ cận thị giữa bậc Tiểu học và THCS có sự khác biệt

có ý nghĩa. Theo Lê Thị Thanh Xuyên[ CITATION LêT09 \l 1033 ], tỷ lệ cận thị ở

cấp Tiểu học (29,86%) thấp hơn THCS (46,11%) và PTTH (43,63%). Tỷ lệ giữa

THCS và PTTH là tương đương nhau (χ 2, p > 0,05). Vũ Thị Thanh [ CITATION

VũT14 \l 1033 ] báo cáo thấy tỷ lệ cận thị ở cấp Tiểu học là 25,5% và THCS là

42,3%.

Mặt khác, SE trung bình của học sinh có tật khúc xạ bậc Tiểu học là 1,96 D,

cấp THCS là 2,98 D cho thấy SE tăng dần theo tuổi, cấp học rõ rệt. Trẻ xuất hiện

cận thị sớm và độ cận có khuynh hướng cao hơn và sự biến đổi này xảy ra rõ rệt

nhất ở giai đoạn giữa Tiểu học và THCS. Do đó các biện pháp tầm sốt tật khúc xạ

và can thiệp chỉnh quang nên lưu ý với các trẻ giai đoạn này. Theo các nhà xã hội

học, hiện nay, hầu hết trẻ bắt đầu dậy thì (giai đoạn chuyển biến thể chất rõ rệt ở

học sinh) sớm hơn so với trẻ em cách 5 - 10 năm trước và có thể yếu tố thể chất có

ảnh hưởng đến tật khúc xạ khiến tỷ lệ tật khúc xạ ở THCS cao hơn Tiểu học có ý

nghĩa thống kê.

Xu hướng gia tăng tỷ lệ cận thị học đường còn được minh chứng khi so sánh

tỷ lệ cận thị theo lớp học hay nói cách khác là cận thị theo độ tuổi. Nhiều nghiên

cứu đã khẳng định độ tuổi có liên quan đến cận thị học đường và cho rằng tỷ lệ cận

thị ở học sinh tiểu học là dấu hiệu dự báo sự gia tăng cận thị ở học sinh những lớp

cao hơn. Nghiên cứu tại Đài Loan cho biết, tỷ lệ cận thị từ 12,0% ở trẻ 6 tuổi, tăng

lên 56,0% ở trẻ 12 tuổi (lớp 6) và 76,0% ở trẻ 15 tuổi (lớp 9)[CITATION LINct \l

1033 ]. Một nghiên cứu khác trên 7560 trẻ em tại Hồng Kông cũng cho kết quả



100



tương tự, số trẻ 11 tuổi cận thị nhiều hơn 7 lần so với trẻ 7 tuổi[CITATION Fanpr \l

1033 ].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ cận thị cũng có xu hướng tăng dần theo

lớp, học sinh lớp 6 và lớp 7 tỷ lệ cận thị chỉ chiếm 12,4% - 14,2% đã tăng lên 19,9%

- 20,6% học sinh lớp 8, lớp 9. Như vậy diễn biến của cận thị học đường ở các

trường tại TP. Cần Thơ cũng khơng khác gì so với các kết quả nghiên cứu đã công

bố tại các khu vực khác trong và ngồi nước; đó là sự gia tăng nhanh chóng của cận

thị học đường trong những năm gần đây. Điều này một phần là do sự tiến bộ của

khoa học kỹ thuật với các phương pháp phát hiện cận thị ngày một hiện đại và có độ

chính xác cao hơn, phần khác là do tác động của sự phát triển kinh tế xã hội khiến

áp lực học tập ngày càng cao làm thay đổi các yếu tố nguy cơ đối với cận thị

học đường. Những yếu tố này có ảnh hưởng như thế nào đến thị lực của học sinh tại

TP. Cần Thơ chúng tôi sẽ tiếp tục bàn luận kỹ hơn ở phần tiếp theo.

Tỷ lệ cận thị học đường theo giới tính: Tỷ lệ nữ bị cận thị cao gấp 1,54 lần so

với nam, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Tỷ lệ này cũng tương

đồng với các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác[ CITATION Đặn10 \l 1033 ]

[ CITATION VũT14 \l 1033 ][ CITATION Mai11 \l 1033 ][ CITATION LêT09 \l

1033 ]. Phạm Văn Tần (2010)[ CITATION Walec \l 1033 ], cho biết tỷ lệ cận thị ở

học sinh nữ là 24,6%, ở học sinh nam chỉ là 16%. Chúng tôi cho rằng tỷ lệ cận ở

học sinh nữ cao có thể do sự phát triển về thể chất của nữ mạnh hơn nam giới, các

em nữ thường dậy thì sớm hơn nam, thay đổi nội tiết các em phát triển nhanh về cân

nặng, chiều cao, đi cùng với đó là sự phát triển của trục nhãn cầu. Hơn nữa, trẻ nữ

thường thích đọc sách hơn nam giới, thích xem vơ tuyến và ít tham gia các hoạt

động ngoài trời hơn nam giới. Đây cũng là những nguy cơ làm tăng khả năng mắc

tật khúc xạ. Tuy nhiên, SE của 2 giới khơng có sự khác biệt nhiều về mặt lâm sàng.

Trong cùng một độ tuổi, SE của nữ thường cao hơn nam khoảng 0,21 D.

Khi phân tích đặc điểm cận thị theo giới tính, chúng tơi phát hiện ra có sự

khác biệt rất rõ rệt về tỷ lệ cận thị giữa học sinh nam và học sinh nữ (p <

0,01). Tỷ lệ học sinh nam bị cận thị là 12,5% thấp hơn rất nhiều so với học sinh nữ

là 21,6%, sự khác biệt này không chỉ ở 1 lớp mà ở tất cả các lớp, các độ tuổi nghiên



101



cứu. Theo chúng tơi có thể ngun nhân của tình trạng này do học sinh nam thường

hiếu động, có thời gian hoạt động ngồi trời trong ngày và sử dụng mắt khi nhìn xa

nhiều hơn hẳn so với học sinh nữ. Vì vậy, mắt sẽ ít phải điều tiết căng thẳng khi

nhìn gần hơn. Mặt khác, nếu tập trung vào việc học, đọc sách, xem truyện… trong

một thời gian dài mà khơng có sự kết hợp với những hoạt động thể dục ngoài trời để

vận động toàn thân, cho mắt nghỉ ngơi và hít thở khơng khí trong lành trong một

không gian rộng sẽ dẫn đến hậu quả không tốt cho sức khỏe, dễ bị các bệnh học

đường nói chung và cận thị học đường nói riêng. Chúng tơi nhận thấy cần có một

nghiên cứu riêng sâu hơn về vấn đề này để tìm hiểu, phân tích và qua đó có giải

pháp can thiệp hạn chế tỷ lệ cận thị học đường.

Tỷ lệ cận thị mới phát hiện khi khám: Kết quả điều tra ban đầu cho thấy một

thực trạng đáng báo động đó là có tới 54,80% học sinh khơng hề biết mình bị cận

thị mà chỉ mới được phát hiện qua đợt khám của chúng tơi. Thậm chí, có nhiều

em thị lực chỉ còn 4/10 mà vẫn cho rằng thị lực như vậy là bình thường. Cũng có một

số học sinh biết mình bị giảm thị lực nhưng không được cha mẹ đưa đi khám và cũng

khơng biết mình bị giảm thị lực do bệnh gì. Chúng tơi nhận thấy do mạng lưới y tế học

đường còn thiếu và yếu: nhiều trường khơng có bộ phận y tế học đường chuyên trách.

Như vậy không thể đáp ứng với đòi hỏi ngày càng cao của việc chăm sóc sức khỏe cho

các em học sinh.Mặt khác vệ sinh học đường chưa được quan tâm đúng mức, việc thử

thị lực để phát hiện sớm những học sinh bị giảm thị lực là một việc dễ làm và có thể

thực hiện ngay tại các trường, nhưng hầu như chưa làm hoặc làm không thường xuyên.

Cũng như các biện pháp tích cực phối hợp với ngành y tế và phụ huynh học sinh để

theo dõi, điều trị, ngăn ngừa những tác động xấu của các bệnh học đường với sức khỏe

học sinh cũng chưa được các trường thực hiện tốt. Cũng có nhiều trường hợp, trẻ biết

mình bị cận nhưng giấu cha mẹ do sợ bị la rầy. Chính vì vậy nên có tình trạng là

nhiều em học sinh bị cận thị nhưng không được phát hiện, vẫn phải sử dụng đơi mắt có

thị lực kém để học. Việc này sẽ gây nhiều tác hại cho sức khỏe như mắt phải điều tiết

nhiều gây nhức mắt, mỏi mắt, nhức đầu, nhìn mờ.

Thị lực của các mắt cận thị: Thị lực trong số các học sinh bị cận thị chủ yếu

là từ 0,5 - 1,0 LogMar (tương đương 1/10 - 3/10). Kết quả này cũng tương tự với



102



các tác giả khác như Hoàng Ngọc Chương[ CITATION Hoà10 \l 1033 ], thị lực từ

ĐNT 4m - 3/10 chiếm 59,1%; Riêng học sinh lớp 1 và lớp 2 thì cận thị chủ yếu là

nhẹ, thị lực còn khá từ 0,2 - 0,4 LogMar (4/10 - 7/10). Học sinh đầu cấp, lớp 6 có số

lượng học sinh bị giảm thị lực nhiều nhất.

Thị lực với kính cũ (kính hiện tại): Mặc dù đã mang kính, thị lực 0,2 LogMar

(7/10) trở xuống của học sinh còn chiếm tỷ lệ khá cao tới 38,95%, đặc biệt thị lực

chỉ đạt 0,6 LogMar (2/10) trở xuống vẫn chiếm 4,36%, thực trạng này cho thấy hiện

nay tình hình học sinh đeo kính khơng đúng độ khá phổ biến. Kết quả này của

chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác trong nước như Hoàng

Ngọc Chương[ CITATION Hồ10 \l 1033 ] thị lực mang kính hiện tại dưới 7/10 là

58,7%, của Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Chí Dũng[ CITATION Ngu10 \l 1033 ] là

25,4%.

Ngay cả đối với những học sinh cận thị đã và đang đeo kính cũng có những

bất cập trong vấn đề sử dụng kính vì chất lượng chun mơn của các cửa hàng

kính. Thị trường đo, bán và mài lắp kính chủ yếu do tư nhân chiếm lĩnh, nhân viên tại

các quầy kính này hầu như không được trang bị những kiến thức về chỉnh quang.

Nhiều em mua kính tại các quầy kính tư nhân khơng đảm bảo chất lượng: kính khơng

đúng số, lắp khơng đúng trục, và tâm kính, gọng khơng phù hợp, chất lượng kém…

Khi đeo những đơi kính này sẽ hay mỏi mắt, nhức đầu, nhìn mờ…, hiện tượng này kéo

dài sẽ ảnh hưởng đến thị lực và sức khỏe của các em. Ngồi ra, còn nhiều người có

quan niệm chưa đúng về việc sử dụng kính cho các em bị cận thị. Có nhiều ý kiến cho

rằng nếu cho các em đeo kính thì sẽ làm cho mức độ cận thị tăng lên nhanh. Vì vậy

nhiều phụ huynh cố tình trì hỗn chưa muốn cho con em mình đeo kính.

Như vậy mặc dù các em có tật khúc xạ đã được chỉnh kính nhưng số kính đeo

vẫn chưa đúng, điều đó gây tác hại rất lớn đến khả năng nhìn của các em, về lâu dài

nếu khơng được chỉnh kính đúng số sẽ gây nhược thị.

Mức độ cận thị: Kết quả nghiên cứu của chúng tơi cho thấy, có đến 66,93%

học sinh bị cận thị học đường ở mức độ nhẹ (mức độ cận thị < -3,0 D). Kết quả này

cũng giống như nghiên cứu của nhiều tác giả khác. Trong nghiên cứu của Lê Thị

Thanh Xuyên (2008)[ CITATION LêT09 \l 1033 ] cận nhẹ là 22,28%, cận thị trung



103



bình và nặng là 16,6%. Chúng tôi nhận thấy, ở độ tuổi học sinh THCS, cùng với quá

trình phát triển chiều cao của cơ thể, cơ quan giải phẫu và sinh lý thị giác cũng phát

triển rất nhanh trong thời kỳ này. Vì vậy, khi bị cận thị học đường, nếu không được

điều trị kịp thời và hiệu quả, chiều dài trục nhãn cầu trước sau của nhãn cầu sẽ

tăng lên và làm cho độ cận thị cũng sẽ tăng lên nhanh chóng.

Mức độ cận thị theo giới tính: Trong số 372 nữ (744 mắt), trị số khúc xạ

trung bình là 2,57 D (SD = 1,81). Trong 248 nam (496 mắt), trị số khúc xạ trung

bình là 2,33 D (SD = 1,61). Trị số khúc xạ trung bình ở trẻ nữ cao hơn ở trẻ nam

được giải thích do mức độ cận thị của trẻ nữ thường cao hơn trẻ nam cùng lứa, lý do

trẻ nữ thường sử dụng mắt nhìn gần nhiều hơn, ít tham gia các hoạt động ngồi trời

nhiều hơn trẻ nam như đã nói ở phần trên.

4.1.2 Một số yếu tố liên quan đến cận thị

Mối quan hệ giữa cận thị của trẻ và cha/mẹ cận thị: Nghiên cứu của chúng

tơi thấy rằng có sự liên quan cận thị của trẻ và cha/mẹ cận thị. Cha mẹ cận thị có

khuynh hướng có con bị cận thị (χ2 test = 29,96; p = 0,001). Trẻ có cả hai cha mẹ bị

cận thị thì 39,60% bị cận thị so với 21,7% trẻ chỉ có một trong hai cha mẹ bị cận thị và

10,60% khơng có cha mẹ bị cận thị. Yếu tố nguy cơ cận thị của trẻ có một trong hai cha

mẹ cận thị có tỷ suất chênh OR = 2,32 và trẻ có cả hai cha mẹ cận thị OR = 5,52.

Nếu cha mẹ của trẻ có vấn đề về khúc xạ, rõ ràng con của họ cũng có vấn đề.

Điều này phù hợp với thuyết sinh hóa và di truyền học. Kết quả này của chúng tôi cũng

tương tự như nghiên cứu của các tác giả khác như Saw (2001)[CITATION Sawep1 \l

1033 ], Khader (2006)[CITATION Khaul \l 1033 ], French (2013)[CITATION Frect \l

1033 ]... cho rằng tiền sử gia đình có liên quan tới tiến triển cận thị và yếu tố di truyền

đóng vai trò quan trọng trong tiến triển cận thị. Trên phân tích meta-analysis từ 16

nghiên cứu, Zhang (2015) [ CITATION Zhaun \l 1033 ] cho thấy có mối quan hệ có ý

nghĩa giữa cận thị cha mẹ và nguy cơ phát triển cận thị ở trẻ. Trẻ có cha mẹ cả 2 bị cận

thị có nguy cơ bị cận thị 6,42 lần so với trẻ khơng có cha mẹ bị cận thị.

Liên quan thời gian sử dụng mắt nhìn gần với cận thị: Trẻ có thời gian làm

việc trên 8 giờ với máy vi tính và xem ti vi bị ảnh hưởng tật khúc xạ nhiều hơn trẻ

sử dụng ít hơn 8 giờ, OR = 3,21. Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của

Muhamedagic (2014)[ CITATION Muhpr \l 1033 ], Hepsen (2001)[CITATION



104



hep01 \l 1033 ], khi cho thấy cường độ nhìn gần cao có thể khởi phát cận thị. Trẻ

cận thị cao thường có cha mẹ cận và sử dụng nhiều thời gian cho học, đọc và ít có

thời gian hoạt động thể thao. Điều này đã được tìm thấy trong nghiên cứu của

Mutti(2002) [CITATION Mutec \l 1033 ], Saw [CITATION Saw02 \l 1033 ]... Trên

phân tích meta-analysis từ 27 nghiên cứu, Huang (2015)[ CITATION Hua15 \l 1033

] đã cho thấy có mối quan hệ có ý nghĩa giữa nhìn gần và nguy cơ phát triển cận thị

ở trẻ, OR = 1,14 và nguy cơ cận thị gia tăng 2% cho mỗi 1 giờ/ tuần.

Liên quan hoạt động ngoài trời với cận thị: Trong nghiên cứu của chúng tơi,

nếu trẻ có thói quen hoạt động ngồi trời thì có khả năng giảm nguy cơ bị cân thị

OR = 0,33. Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của các tác giả khác

[CITATION Ell12 \l 1033 ] như báo cáo đầu tiên của Mutti (2002) [ CITATION

Mutec \l 1033 ] và trong một vài nghiên cứu sau đó như của Dirani (2009)

[ CITATION Dirug \l 1033 ], Guo (2013) [ CITATION Guo13 \l 1033 ], Lin (2014)[

CITATION Lin14 \l 1033 ]...Trên phân tích meta-analysis từ 23 nghiên cứu,

Sherwin (2012) cho thấy có mối quan hệ có ý nghĩa giữa hoạt động ngoài trời và

nguy cơ phát triển cận thị ở trẻ, OR = 0,98; mỗi 1 giờ hoạt động ngoài trời trong 1

tuần trong thời niên thiếu làm giảm nguy cơ cận thị 2% (10 giờ một tuần bằng 20%)

[ CITATION Shect \l 1033 ]. Những người không bị cận thị trải qua khoảng 33%

hoạt động ngoài trời (30 phút một ngày) hơn người bị cận thị.

4.2. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA THUỐC NHỎ MẮT ATROPIN 0,01%

4.2.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Tuổi trung bình: Trong nghiên cứu của chúng tơi, độ tuổi trung bình cúa các

đối tượng là 10,33, thấp nhất là 7, cao nhất là 13. Đây là độ tuổi mà cận thị có thể phát

sinh và phát triển nhanh nhất [CITATION Twest \l 1033 ][CITATION Hym05 \l

1033 ][CITATION Wan17 \l 1033 ]. Vì vậy, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo cần ưu tiên

nhất để tiến hành các can thiệp phòng và điều trị cận thị. Các nghiên cứu về sự tiến triển

cận thị và các biện pháp can thiệp có vai trò quan trọng nhằm hạn chế các biến chứng

cận nặng về sau cho trẻ. Độ tuổi nghiên cứu này cũng phổ biến trong nhiều nghiên cứu

khác như của Shimmyo (2003) [ CITATION Mit \l 1033 ], ATOM1 [ CITATION

Chu06 \l 1033 ], ATOM2 [ CITATION Chieb \l 1033 ]...



105



Thị lực nhìn xa với kính tốt nhất: Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng

với nghiên cứu ATOM 2, thị lực nhìn xa khơng bị ảnh hưởng bởi thuốc nhỏ mắt

atropin 0,01%. Với nồng độ cao hơn, atropin ảnh hưởng đến thị lực nhìn xa. Nghiên

cứu ATOM 2 (2012) tiến hành ở Singapore được thể hiện qua Bảng 4.5.

Bảng 4.3. Thị lực nhìn xa sau điều trị đầu tiên với atropin (ATOM2)[ CITATION

Chieb \l 1033 ]

Nồng độ



Atropin 0,01%



Atropin 0,1%



Atropin 0,5%



p - value



Thị lực nhìn xa

- Khám đầu tiên



0,01 (0,05)



0,02 (0,06)



0,02 (0,06)



0,56



- Điều trị đầu tiên



0,01 (0,05)



0,03 (0,05)



0,01 (0,06)



0,86



Độ cầu tương đương và chiều dài trục nhãn cầu: Nghiên cứu của chúng tơi

tìm thấy độ cầu tương đương (SE) trung bình cho tất cả các độ tuổi và mức độ cận

thị khác nhau là 3,27 D trong nhóm can thiệp và 1,76 D trong nhóm chứng. Chiều

dài trục nhãn cầu cho tất cả các nhóm tuổi và mức độ cận thị là 24,46 mm trong

nhóm can thiệp và 24,00 mm trong nhóm chứng. Để đánh giá mức độ tương đồng

giữa 2 nhóm, chúng tơi phân nhóm các trẻ theo mức độ cận thị. Nếu gộp chung tất

cả các mức độ cận thị, thì mặc dù nhóm can thiệp có SE và trục nhãn cầu lớn hơn

nhóm chứng, nhưng sau khi phân nhóm sự khác biệt này lại khơng có khác biệt có ý

nghĩa thống kê. Độ cầu tương đương trung bình trong các nhóm cận thị nhẹ và trung

bình tương đương nhau. Shimmyo (2003) [ CITATION Mit \l 1033 ] trong nghiên

cứu trên 492 trẻ được phân bố ngẫu nhiên, SE và chiều dài trục nhãn cầu trong

nhóm can thiệp là -0,92 ± 0,69 D và 23,66 ± 0,58 mm, trong nhóm chứng là -1,47 ±

0,69 D và 24,12 ± 0,48 mm. Sau khi phân nhóm, mức độ cận thị cũng tương đương

nhau. Điều này cũng tương tự với các nghiên cứu khác như ATOM 2 [CITATION

Chieb1 \l 1033 ] được thể hiện qua Bảng 4.6.

Bảng 4.4. Độ cầu tương đương sau lần điều trị đầu tiên với atropin (ATOM2)

Nồng độ



Atropin 0,01%



Atropin 0,1%



Atropin 0,5%



p - value



SE

- Khám đầu tiên



-4,5 (1,5)



-4,8 (1,5)



-4,7 (1,8)



0,40



- Điều trị đầu tiên



-4,5 (1,5)



-4,5 (1,4)



-4,3 (1,8)



0,67



106



Biên độ điều tiết và thị lực nhìn gần: biên độ điều tiết giảm 4,9 ± 0,64 D

nhưng lực điều tiết còn lại là 11,5 D, đủ cho trẻ điều tiết và thị lực nhìn gần khơng

bị ảnh hưởng. Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu ATOM 2

với atropin 0,01% được thể hiện qua Bảng 4.7.

Bảng 4.5. Biên độ điều tiết sau lần điều trị đầu tiên với atropin (ATOM2)

[ CITATION Chieb \l 1033 ]

Nồng độ



Atropin 0,01%



Atropin 0,1%



Atropin 0,5%



p - value



Biên độ điều tiết

- Khám đầu tiên



16,2 (3,4)



16,7 (3,0)



15,8 (3,4)



0,01



- Điều trị đầu tiên



11,3 (4,3)



3,8 (2,5)



2,2 (1,2)



< 0,001



Atropin nồng độ cao hơn cho thấy ảnh hưởng rất lớn đến biên độ điều tiết và

do đó ảnh hưởng đến thị lực nhìn gần.



107



Bảng 4.6. Thị lực nhìn gần sau lần điều trị đầu tiên với atropin (ATOM2)

[ CITATION Chieb \l 1033 ]

Nồng độ

Thị lực nhìn gần

- Khám đầu tiên

- Điều trị đầu tiên



Atropin 0,01%



Atropin 0,1%



Atropin 0,5%



p - value



0,04 (0,08)

0,29 (0,18)



0,04 (0,08)

0,29 (0,18)



0,04 (0,07)

0,48 (0,16)



0,38

< 0,001



Để giải quyết vấn đề điều tiết và thị lực nhìn gần, trong các trường hợp sử

dụng atropin nồng độ cao, các thầy thuốc thường bắt đầu điều trị bằng cách nhỏ 1

giọt một lần duy nhất vào cuối tuần. Đêm cuối tuần là thời gian thích hợp để nhỏ

thuốc. Giảm liều tới mức đủ để kiểm soát cận thị và giảm tối thiểu các tác dụng phụ

không mong muốn. Nếu tiến triển cận thị vẫn tiếp tục có thể tăng 2 - 3 lần/ tuần.

Theo kinh nghiệm của các thầy thuốc, sự hợp tác của cha mẹ là quan trọng nhất

trong điều trị. Trẻ được sử dụng thêm kính PALs (progressive additional lens), hoặc

kính mát và kính đổi màu (photochromatic glasses) nếu trẻ có triệu chứng nhìn mờ

hoặc bị chói. Trong giai đoạn 1 của nghiên cứu ATOM, có tới 7% trẻ nhóm nhỏ mắt

atropin 0,01% phải mang kính, nhưng giai đoạn 3 thì khơng có trẻ nào cần phải mang

kính. Trong nghiên cứu của chúng tơi với thuốc nhỏ mắt atropin 0,01%, việc sử dụng

thuốc đơn giản và không trẻ nào cần mang kính PALs và/ hoặc kính đổi màu.

Kích thước đồng tử: Trong nghiên cứu của chúng tơi, kích thước đồng tử

nhóm nhỏ mắt atropin 0,01% gia tăng nhẹ hơn nhóm chứng khoảng 1 mm. Nhưng

khơng có sự khác biệt ý nghĩa trên lâm sàng, khơng gây chói, hầu hết trẻ không sợ

ánh sáng và không ảnh hưởng đến thị giác. Điều này cũng phù hợp với kết quả

nghiên cứu của Chia [CITATION Chieb1 \l 1033 ] và Nishiyama [CITATION

YNiov \l 1033 ] với thuốc nhỏ mắt atropin 0,01% kích thước đồng tử gia tăng chỉ

khoảng 0,7 mm và thời gian phục hồi kích thước đồng tử khá nhanh, trong vòng 48

giờ sau khi ngưng thuốc.

Trong các nghiên cứu với nồng độ cao hơn, như atropin 1% thì đồng tử giãn

tối đa là sau 40 phút, với kích thước là 7,3 mm tới 7,8 mm, bắt đầu phục hồi sau 1 - 3

ngày và trở lại kích thước bình thường mãi sau 7 - 10 ngày [ CITATION Wolep \l

1033 ][CITATION Bar \l 1033 ]. Như vậy, so với atropin nồng độ cao 0,5% - 1%, sử



108



dụng thuốc nhỏ mắt atropin 0,01% sẽ tốt hơn khi kích thước đồng tử giãn không đáng

kể và thời gian phục hồi ngắn hơn nhiều.

4.2.2. Hiệu quả của thuốc nhỏ mắt atropin 0,01% với tiến triển cận thị

4.2.2.1. Sự thay đổi về thị lực sau 12 và 24 tháng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 12 tháng và 24 tháng, thay đổi về thị lực

có sự khác biệt có ý nghĩa. Thị lực khơng chỉnh kính trong nhóm can thiệp giảm

chậm hơn, chỉ giảm trung bình khoảng 62,50% (0,15/ 0,24) so với nhóm chứng.

Bảng 4.7. Chênh lệch thị lực trong nghiên cứu ATOM 2 [ CITATION Chieb \l

1033 ]

Nồng độ

Thị lực

chỉnh kính tốt nhất

- năm thứ 1

- năm thứ 2

Chênh lệch trung bình

trong 1 năm

Chênh lệch trung bình

trong 2 năm



A 0,01%



Atropin (A), TB± SD

A 0,1%

A 0,5%



p - value



0,005 ± 0,042

0,001 ± 0,057

0,02 ± 0,05



0,003 ± 0,054

0,005 ± 0,054

0,02 ± 0,06



0,003 ± 0,054

0,011 ± 0,057

0,03 ± 0,05



0,99

0,25

0,21



0,02 ± 0,06



0,01 ± 0,06



0,01 ± 0,06



0,44



Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nghiên cứu của chúng tôi với nghiên

cứu ATOM 2. Tuy nhiên trong một vài nghiên cứu khác cho thấy atropin cải thiện

được thị lực nhìn xa cho bệnh nhân. Hu (1998) [ CITATION Placeholder14 \l

1033 ], cho thấy thị lực không chỉnh kính gia tăng từ 0,24 lên 0,25 trong nhóm nhỏ

mắt atropin 0,01% sau 12 tháng. Trong nghiên cứu của chúng tơi, khơng có sự sút

giảm thị lực chỉnh kính tốt nhất và điều này tương tự với các nghiên cứu khác

[ CITATION Shu15 \l 1033 ].

4.2.2.2. Độ cầu tương đương (SE) tăng sau 12 tháng và 24 tháng

Nghiên cứu chúng tôi cho thấy, sau 1 năm nghiên cứu, tốc độ tiến triển cận thị

của nhóm can thiệp so với nhóm chứng có sự khác biệt ý nghĩa: -0,31± 0,26 D so với

-0,70 ± 0,36 D (p < 0,05). Trong 2 năm, tốc độ tiến triển là -0,72 ± 0,36 D so với -1,32

± 0,50 D; tiến triển cận thị trong nhóm can thiệp là 44,28% (0,31/0,70) so với nhóm

chứng trong năm thứ 1 và 66,12% (0,41/0,62) trong năm thứ 2. Trung bình trong 2

năm, tốc độ tiến triển cận thị trong nhóm can thiệp là 54,54% (0,72/1,32).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

T l cn th cỏc trng iu tra: cỏc trng trong nghiờn cu ca chỳng tụi ch nm khu vc gn trung tõm thnh ph, nhng cú n 22,81% sụ hc sinh b cn th hc ng cng l mt t l khỏ cao. So sỏnh vi cỏc nghiờn cu trc õy ca chỳng tụi l 9,2% (2008) ti ễ Mụn, 1 qun thuc thnh ph C

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×