Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam sang các thị trường chính năm 2010

Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam sang các thị trường chính năm 2010

Tải bản đầy đủ - 0trang

Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



quan hệ kinh tế, giữa DN với Chính phủ và các cơ quan hỗ trợ XTXK trong

mối quan hệ thúc đẩy xúc tiến XK.

Thứ nhất, về các hoạt động kinh tế đối ngoại và XTTM của Chính phủ, cơ

quan chuyên trách.

Với việc tham gia ký kết các hiệp định kinh tế, thương mại song phương

cũng như nghiêm túc chấp hành thực thi một cách toàn diện đầy đủ, đã tạo ra

nền tảng, cơ hội và điều kiện thuận lợi cho XK nông sản của DN, kịp thời tháo

gỡ những khó khăn về thị trường với các nước bạn hàng để mở cửa cho hàng

nông sản Việt Nam.

Nhằm tạo mơi trường thuận lợi và khuyến khích XTXK nơng sản nói riêng

và XTXK nói chung, Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều luật pháp,

chính sách và biện pháp. Ngồi ra, còn có nhiều biện pháp tài chính cũng đã

được áp dụng để khuyến khích XK như chế độ thưởng XK, hỗ trợ kinh phí

XTXK.

Ngồi ra, còn một loạt các biện pháp hỗ trợ khác của Nhà nước như: cải

tiến và nâng cao chất lượng hoạt động của các đại diện thương mại ở nước

ngoài để phục vụ tốt hơn cho các DNXK, tăng cường cung cấp thông tin

thương mại cho DN, hướng dẫn, hỗ trợ về tài chính cho việc nâng cao cải tiến

sản phẩm của các DN, tổ chức và hỗ trợ tài chính cho việc đi khảo sát thị

trường nước ngoài và tham gia hội chợ quốc tế cũng như hỗ trợ việc đào tạo

nguồn nhân lực của các DNXK.

Với việc thành lập Cục XTTM và các tổ chức XTTM địa phương, đã có

những tác động hiệu quả trong việc tăng cường hoạt động XTXK ở cấp chính

phủ. Đồng thời Nhà nước cũng ủng hộ việc thành lập và hoạt động của các

hiệp hội kinh doanh, kể cả các tổ chức của nước ngoài tại Việt Nam và cho

phép các DN tư nhân kinh doanh dịch vụ XTTM.

Thứ hai, phải kế đến những tiến triển tích cực về XTTM ở cấp các tổ chức

xúc tiến, các hiệp hội ngành hàng và các DN.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



46



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Hoạt động XTTM và XTXK ở cấp các tổ chức hỗ trợ thương mại và các

DN đã có những bước phát triển rất nhanh chóng. Các hoạt động XTTM và

XTXK của các tổ chức này đã phát triển nhanh chóng, cả về số lượng lẫn

chất lượng, cụ thể:

Công tác khảo sát,nghiên cứu thị trưởng:

Như đã biết, đây là tiền đề rất quan trọng cho xúc tiến XK và định hướng

XK. Rõ ràng, với việc được trang bị thông tin công nghệ hiện đại, cùng với sự

trợ giúp về thông tin nghiệp vụ từ phía Chính phủ và các cơ quan chun

mơn, các phái đoàn nghiên cứu gồm cả DN, chuyên gia xúc tiến, nhà tư vấn

và đội ngũ chuyên trách…. đang ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi và

tiến bộ hơn trong khâu nghiên cứu đánh giá nhu cầu, tình hình cạnh tranh, nền

tảng cơ sở pháp lý và văn hóa, tập quán và tập tính tiêu dùng của các thị

trường tiềm năng.

Cơng tác khảo sát thị trường khơng những có tác dụng giúp DN theo dõi

và tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản ở các thị trượng

đã thâm nhập, mà còn giúp mở ra các hướng đi mới, tìm các thị trường tiềm

năng khác, đúng với tiêu chí đa phương hóa – đa dạng hóa của hoạt động

thương mại quốc tế của Việt Nam.

Hoạt động thu thập, xử lý phân tích thơng tin :

Hoạt động thu thập thơng tin thị trường quốc tế đã có những tiến bộ nhất

định. Trước đây hoạt động này bị bó hẹp vì một số lý do khách quan và chủ

quan, thì hiện nay hoạt động này được mở tới cả khu vực ngồi nhà nước và

kiểm sốt của nhà nước cũng nới lỏng hơn nhiều. Ngồi các thơng tin phong

phú và cập nhật hơn trước được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại

chúng ở trong nước và các thông tin do các tổ chức thông tin cung cấp theo

u cầu, các DN còn có thể tiếp cận trực tiếp với nguồn thông tin quốc tế một

cách dễ dàng hơn so với trước đây. Cùng với sự bùng nổ thơng tin, việc

truyền tải nhanh chóng và phong phú các thông tin về Việt Nam, đặc biệt về

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



47



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



tiềm năng và cơ hội thương mại và đầu tư với các DN và doanh nhân nước

ngoài, các tài liệu về XTTM, hội nghị, hội thảo và HCTL ở trong và ngồi

nước, các phái đồn thương mại … đã góp phần không nhỏ trong việc thúc

đẩy thương mại trên thị trường nội địa cũng như mở rộng thị trường XK và

gây dựng thương hiệu hàng nông sản Việt Nam.

Việc xử lý phân tích thơng tin để đề ra chiến lược cũng đang ngày một

được cải thiện. Với lợi thế đi tắt đón đầu, cùng với xu hướng mở của kinh tế

tồn cầu, Việt Nam đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong vấn

đề xử lý và vận dụng thông tin thương mại vào trong thực tế hiệu quả hơn.

Hoạt động quảng cáo thương mại đã có sự bùng nổ:

Chưa bao giờ hoạt động quảng cáo thương mại lại diễn ra liên tục, mật độ

dày đặc cả về yếu tố không gian và thời gian như hiện nay. Điều này thể hiện

qua chi phí quảng cáo của các DN tăng lên nhanh chóng qua các năm. Chi phí

này ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách của DN. Hiện nay quảng

cáo là hoạt động không thể thiếu của hầu hết các DN. Chất lượng và nội dung

quảng cáo cũng ngày càng được cải thiện, có nhiều tiến bộ, nhiều quảng cáo

gây được ấn tượng tốt với đối tác NK và người tiêu dùng nước ngoài.

Hoạt động hội chợ triển lãm thương mại:

Đây là những cơ hội để quảng bá cho hàng nông sản, thông qua một loạt

các biện pháp như trưng bày gian hàng giới thiệu sản phẩm, khuyến mãi kích

cầu, tuyên truyền quảng cáo về sản phẩm và thương hiệu, giao lưu học hỏi

kinh nghiệm cũng như dần tiếp xúc môi trường cạnh tranh xúc tiến chuyên

nghiệp quốc tế. HCTL hiện nay đã phát triển cả về lượng và chất. Quy mô tổ

chức của các HCTL ngày càng lớn hơn, thu hút được đông đảo DN tham gia

và khách tham quan. HCTL như những chiếc cầu đang ngày được hồn thiện,

nối hàng hóa nơng sản XK nói riêng và hàng XK nói chung với thị trường

quốc tế.

Để hỗ trợ cho DNXK tham gia HCTL, cục XTTM cũng đã có nhiều biện

pháp như hỗ trợ tư vấn, cung cấp thơng tin về địa điểm, vị trí, thời gian và chi

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



48



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



phí thuê gian hàng tại hội chợ với mức giá hợp lý, tổ chức tham quan, khảo

sát và đưa ra những lời khun hữu ích cho DNXK nơng sản khi tham gia

HCTL.

Các hội nghị, hội thảo và các khoá đào tạo về thương mại, xúc tiến:

Các cuộc hội nghị, hội thảo và các chương trình đào tạo này là rất các thiết

cho việc bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ nhân lực, song song cùng

với những trải nghiệm tham gia xúc tiến hội chợ, khảo sát thực tế.

Các hoạt động nói trên do các tổ chức hỗ trợ thương mại tổ chức tăng cả

về số lượng, qui mô và chất lượng đã giúp các DN nâng cao hiểu biết về kinh

tế thị trường, thị trường quốc tế, kỹ năng và nghiệp vụ XTTM, cơ hội và

thách thức của quá trình hội nhập kinh tế của nước ta.

Khuyến mại:

Hoạt động khuyến mại là xu thế chung trong thương mại quốc tế, điều này

lại càng đúng trong XTTM, khi mà vấn đề cân bằng và duy trì lợi ích giữa

người XK và người NK, người bán và người mua ngày càng quan trọng hơn,

cũng như quy luật cạnh tranh sống còn của kinh tế thị trường. Hoạt động này

thường được áp dụng tại các HCTL nhằm xúc tiến việc mua bán bằng cách

dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.

Có rất nhiều hình thức khuyến mại mới như biếu hàng mẫu dùng thử, phát

quà tặng cho khách mua hàng, giảm giá và chiết khấu, phát thẻ chứng nhận ưu

đãi, công tác khách hàng thường xuyên, tổ chức giao lưu biểu diễn văn nghệ,

tài trợ các hoạt động văn hoá - thể thao. Các hoạt động này là thường xuyên

và không thể thiếu đối với hầu hết các DN, trong bối cảnh cạnh tranh như

hiện nay.

2.3.2. Những khó khăn trở ngại và nguyên nhân

2.3.2.1. Công tác XTXK chưa hiệu quả

Các DN Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu mạnh cho hàng nơng sản

của mình, cũng như thiếu hiểu biết về pháp luật, thông lệ quốc tế, thông tin thị

trường….

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



49



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Công tác XTXK chưa được chú trọng, quan tâm. Bản thân các tổ chức

XTTM hoạt động chưa hiệu quả, còn nhiều bỡ ngỡ và thiếu kinh nghiệm thực

tế. Các thơng tin cung cấp cho DN mang tính vĩ mơ là chủ yếu, chưa sát với

tình hình và u cầu thực tế, thơng tin nhiều lúc thậm chí có phần lạc hậu, sai

lệch, gây lãng phí nguồn lực và khơng mang lại lợi ích cho DNXK.

Cơng tác điều hành hoạt động XTTM của Chính phủ nhiều thời điểm chưa

sát với thực tế, đơi khi gây lúng túng khó khăn cho cơ quan chấp hành và các

DNXK. Hơn thế nữa, Chính phủ cũng chưa xác định rõ và xây dựng hoàn

chỉnh một hệ thống chiến lược thị trường XK rõ ràng, điều này khiến cho hoạt

động XTTM hoạt động chưa có những bước đột phá.

2.3.2.2. Hạn chế về vấn đề khảo sát nghiên cứu thị trường

Một trong những sai lầm cơ bản của DNXK là ở khâu đánh giá khảo sát

nghiên cứu thị trường. Sự hạn chế về thông tin, khả năng phân tích thơng tin

chưa tốt, trình độ chun môn nghiệp vụ chưa đáp ứng yêu cầu, cộng với việc

định hình và xây dựng chiến lược còn kém, chính một chuỗi những tác nhân

liên quan này đã làm cho hiệu quả XTTM chưa cao.

Có nhiều trường hợp, DNXK cũng tổ chức khảo sát, thu thập thông tin thị

trường. Tuy nhiên, với hạn chế hiểu biết, phân tích mà các thơng tin đó lại

khơng đem nhiều lại lợi ích cho DN, gây lãng phí chi phí nghiên cứu, thời

gian và cơ hội kinh doanh XK.

Các vấn đề cơ bản trọng yếunhư: nghiên cứu thị trường có thể làm được

những gì, cần gì từ quá trình nghiên cứu thị trường, xác lập chiến lược kinh

doanh rõ ràng, xác định nguồn ngân sách dành cho nghiên cứu thị trường… là

những điều ít được nhận thức rõ ở các DNXK Việt Nam nói chung và XK

nơng sản nói riêng trong những vấn đề nói trên này.

2.3.2.3. Nhận thức chưa hồn thiện về XTTM nói chung

Hoạt động XTTM ở nước ta hiện nay thường chỉ tập trung vào việc duy

trì, tìm kiếm và mở rộng khách hàng và thị trường để bán những hàng hố mà

DN có mà chưa gắn liền với hoạt động phát triển và chất lượng sản phẩm ,

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



50



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



tức là mới theo chiều rộng chứ chưa theo chiều sâu. Chính sự mất cân đối này

ảnh hưởng sức cạnh tranh quốc tế của hàng hố nơng sản, thâm nhập thị

trường còn yếu, sự có mặt của hàng hố Việt Nam còn mỏng, khơng vững

chắc, khơng ít trường hợp bị đánh bật ra khỏi thị trường, do khơng có chiến

lược lâu dài.

Bản thân các DNXK cũng chủ yếu chỉ trông mong vào XTTM như là XK

được khối lượng lớn, chạy theo số lượng , chứ chưa theo tiêu chí chất lượng.

Điều này lý giải tại sao cả XTXK dù vẫn đang phát triển, nhưng lại chưa có

nhiều đột phá, bởi nó chưa có những động lực mới, hướng đi mới.

2.3.2.4. Thiếu kinh nghiệm trong XTXK

Các DNXK cũng như bản thân bộ máy hỗ trợ XTTM nói chung vẫn còn

thiếu kinh nghiệm thích nghi với cơ chế cạnh tranh xúc tiến rất phức tạp. Các

DN và nhiều cơ quan tổ chức xúc tiến còn thụ động, trơng chờ vào Nhà nước.

Ngồi ra, rào cản về nghiệp vụ, ngôn ngữ và kinh nghiệm thực tế trên thương

trường của các DN còn hạn chế. Đơn cử như hoạt động hội chợ, một trong

những hoạt động xúc tiến cơ bản và quan trọng nhất của XTTM, DNVN và

các tổ chức xúc tiến còn mắc phải những thiếu sót và sai lầm do thiếu kinh

nghiệm: như kinh nghiệm chọn vị trí gian hàng , cách bày bố, nắm bắt và xây

dựng thời gian biểu phù hợp với thời gian của chương trình hội chợ, khâu lựa

chọn đội ngũ cán bộ, các hoạt động cạnh tranh trực tiếp với gian hàng các

nước khác….. tất cả còn chưa thật sự hiệu quả.

Hiệu quả của XTTM chưa cao, thậm chí có nhiều trường hợp chỉ tồn tại

mang tính chất hình thức, ngoại giao, chứ chưa thực sự thực hiện đúng vai trò

chức năng của nó. Nhiều chuyến đi khảo sát chỉ mang tính thủ tục, hình thức

chứ khơng thực sự đạt hiệu quả như mong đợi.

2.3.2.5. Hạn chế về nguồn lực XTXK

Nguồn nhân lực làm công tác XTTM ở tất cả các cấp đều hạn chế, có thể

kể ra những điển hình ở đây là:

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



51



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



• Thiếu hiểu biết về nghiệp vụ, ngoại ngữ , kỹ năng mềm, thông tin thị

trường, mơi trường kinh doanh quốc tế và XTXK;

• Thiếu các kỹ năng lập và tổ chức thực hiện các kế hoạch XTTM như kỹ

năng thu thập và xử lý thơng tin, nghiên cứu thị trường, kỹ năng định

hình mơ hình DNXK, kỹ năng phát triển sản phẩm, kỹ năng thiết lập các

mạng lưới và mối quan hệ bạn hàng, kỹ năng quảng cáo, kỹ năng tổ chức

và tham gia các HCTL, kỹ năng thẩm định đối tác…;

• Cơ sở hạ tầng, vật chất phục vụ cho XTTM còn rất nghèo nàn, có thể kể

ra như phương tiện cơng nghệ thông tin, phương tiện vận tải, các đồ

dùng, công cụ, vật dụng phục vụ cho gian hàng và hội chợ, triển lãm, hội

thảo;

• Nguồn kinh phí cho XTTM ở tất cả các cấp còn hạn chế (tổng cộng

trung bình chỉ khoảng trên 10 tỷ đồng/năm, chưa kể đến tình hình mất

giá đồng tiền hiện nay), trong khi đó nhu cầu này của DN ngày càng

lớn và đa dạng. Bên cạnh đó, phân bổ nguồn kinh phí cũng thiếu tính

đồng bộ, mất cân đối. (xem đồ thị minh họa dưới đây):



Đồ thị 2.2: 10 địa phương chi ngân sách nhiều nhất cho XTTM năm 2010

Đơn vị: triệu đồng



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



52



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Nguồn: Cục xúc tiến thương mại



Như vậy, rõ ràng có một sự chênh lệch và mất cân đối khá lớn trong phân

bổ kinh phí cho XTTM nói chung giữa các địa phương, chưa nói đến hiệu quả

của việc sử dụng nguồn kinh phí đó, và cụ thể hơn nữa là vào lĩnh vực XTXK

nơng sản nói riêng.



2.3.2.6. Sự phối hợp hoạt động giữa bên liên quan chưa tốt



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



53



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam sang các thị trường chính năm 2010

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×