Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1 : Cơ cấu tổ chức của VIETRADE

Hình 1.1 : Cơ cấu tổ chức của VIETRADE

Tải bản đầy đủ - 0trang

Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



1.2.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia

1.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

a. Về những mặt tích cực

Một trong những khâu then chốt quyết định sự tăng trưởng XK hàng hóa

Trung Quốc chính là việc thực hiện và duy trì một chiến lược phát triển,

XTXK đúng đắn. Điều này thể hiện trước hết ở sự chú trọng hoạt động

XTXK.

Định hướng và thông tin thị trường:

Trung Quốc rất coi trọng việc đa dạng hóa thị trường XK, khơng tập trung

đầu tư cho thị trường riêng biệt nào. Những cải cách định hướng thị trường đó

góp phần làm cho hệ thống ngoại thương của Trung Quốc ngày càng có tính

trung lập cao hơn, tạo điều kiện khuyến khích hoạt động XK.

Từ năm 2002 trở đi, Trung Quốc tiếp tục áp dụng các chính sách nói trên đi

đơi với điều chỉnh linh hoạt phù hợp với thông lệ quốc tế như miễn, giảm, hồn

thuế, đồng thời áp dụng các chính sách, cơng cụ thúc đẩy XK: cung cấp tín

dụng DNXK, cho vay ưu đãi theo hiệp định cấp chính phủ, bảo hiểm và bảo

lãnh tín dụng XK. Việc cung cấp tín dụng XK do Ngân hàng xuất nhập khẩu

Trung Quốc đảm nhiệm. Có thể nói các chính sách hỗ trợ trên rất có hiệu quả

trong việc thúc đẩy XK, tạo điều kiện để Trung Quốc tiếp cận vững chắc những

thị trường XK chủ yếu, đồng thời thâm nhập được những thị trường XK mới

tiềm năng với nguồn thông tin được cung cấp bởi cơ quan XTTM chuyên trách.

Hàng XK nói chung, cũng như hàng nơng sản XK nói riêng, được Trung

Quốc phân loại và định hướng từng loại thị trường rất khôn khéo, thâm nhập

vào rất mau lẹ và thuận tiện. Từ đó, họ tiến hành xây dựng và thực hiện các

hoạt động xúc tiến rất linh hoạt, chuyên biệt cho từng trường hợp.

Trung Quốc rất chú trọng đẩy mạnh hợp tác kinh tế khu vực, tham gia các

khối liên kết tiểu vực và ký hiệp định thương mại song phương với nhiều



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



14



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



nước. Điều này cũng rất thuận lợi cho hoạt động xúc tiến cả về yếu tố không

gian lẫn thời gian.

Quảng cáo, marketing:

Chiến dịch quảng cáo của Trung Quốc về hàng nông sản được thực hiện

rất rầm rộ, với quy mô và mật độ lớn, phủ rộng trên nhiều phương tiện truyền

thông, công nghệ thông tin. Thương hiệu Made in China là một trong những

thương hiệu phổ biến nhất trên thế giới.

Các hội chợ triển lãm và khuyến mãi:

Các hội chợ thương mại, triển lãm của Trung Quốc là sự kiện mang tính

quốc tế tồn cầu, đã đem lại nhiều động lực thúc đẩy XK nông sản. Cùng phối

hợp với đó là rất nhiều các ủy ban thương vụ nước ngoài của Trung Quốc, rất

nhanh nhẹn nắm bắt thơng tin thị trường ở nước ngồi.

Trong các hội chợ thương mại hàng nông sản Trung Quốc, các DN Trung

Quốc áp dụng rất nhiều hình thức khuyến mại cho sản phẩm của họ: giá rẻ,

dùng thử hàng mẫu miễn phí, mua nhiều ưu đãi giá, tặng quà, giảm giá, tặng

phiếu mua hàng, phiếu dự thi trúng thưởng, tổ chức chương trình khách hàng

thường xun. Ngồi ra , các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí của

Trung Quốc cũng là một thế mạnh thương hiệu độc đáo, qua đó truyền tải

thông điệp cũng như hỗ trợ xúc tiến cho XK nói chung, và các mặt hàng nơng

sản nói riêng.

b. Về hạn chế

Rõ ràng, hoạt động xúc tiến của Trung Quốc, trong nhiều trường hợp còn

có nhiều điểm tiêu cực, thiếu công bằng và minh bạch, chưa phù hợp với

nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng của thương mại quốc tế. Ví dụ như hoạt

động quảng cáo, có rất nhiều trường hợp, DN Trung Quốc lợi dụng các

thương hiệu nổi tiếng toàn cầu, qua đó lợi dụng thực hiện quảng cáo cho sản

phẩm của họ để kiếm lợi, hàng giả và kém chất lượng là một trong những

hình ảnh xấu về hàng hóa Trung Quốc. Hình thức này diễn ra ngày càng phức

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



15



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



tạp, nhất là trong thời đại ứng dụng công nghệ thông tin và Internet như hiện

nay và lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người tiêu dùng, cũng như đánh vào

tâm lý giá rẻ được lợi. Điều này đặc biệt diễn ra khá nghiêm trọng với thị

trường châu Á, với nhu cầu tiêu thụ đang tăng rất cao nhưng về thu nhập bình

quân đầu người lại ở mức trung bình hoặc dưới mức đó.

Hàng nơng sản Trung Quốc tràn ngập thế giới, đó là điều đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, với nhiều thơng tin xấu về chất lượng VSATTP, nó ảnh hưởng

nhiều đến q trình XTXK hàng nơng sản của Trung Quốc, bắt nguồn từ việc

muốn giảm chi phí hàng nông sản, kéo theo vấn đề chất lượng thực sự của sản

phẩm khơng tương xứng với những gì được quảng cáo, giới thiệu.

Hoạt động xúc tiến của Trung Quốc cũng chưa được thực hiện hoàn thiện,

mất cân đối ở chỗ trước khi bán sản phẩm thì tổ chức khá thành công và

chuyên nghiệp, nhưng sau khi tiêu thụ được sản phẩm thì dịch vụ hậu khách

hàng cũng như vấn đề chất lượng còn gây nhiều tranh cãi. Rất nhiều vụ kiện

thương mại hàng nông sản Trung Quốc liên quan đến vấn đề chất lượng và

VSATTP đã xảy ra. Điều này có những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động XK

cũng như gây khó khăn cho hoạt động XTXK của Trung Quốc, nhất là trong

thời đại cạnh tranh thương mại gay gắt như hiện nay.

1.2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản

a. Về những mặt tích cực

Tiêu biểu nhất trong lĩnh vực XTTM của Nhật Bản phải kể đến là JETRO,

được thành lập năm 1958 với các hoạt động hỗ trợ XK như: thứ nhất là điều

tra, theo dõi những thay đổi về chính sách thuế quan, thị hiếu tiêu dùng và

tình hình cạnh tranh của các nước trên thị trường sở tại, sau đó báo cáo về

nước để phục vụ cho cơng tác hoạch định chính sách song phương và các DN

có nhu cầu tìm hiểu. Hai là, tổ chức xây dựng các phòng giới thiệu sản phẩm,

triển lãm hàng của Nhật Bản ở nước ngồi ...Ba là, thăm dò và tìm kiến những

bạn hàng tương lai của Nhật Bản để giới thiệu với các đối tác trong nước.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



16



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Hội chợ xúc tiến của Nhật Bản:

Được đánh giá là hội chợ tầm quốc tế, hàng hóa nơng sản của Nhật Bản

được quảng bá rất chuyên nghiệp với sự tham gia đồng thuận của các bên:

DNXK, cơ quan XTTM, các cơ quan khác.

Hoạt động hỗ trợ liên quan đến tổ chức hội chợ, thuê gian hàng và chi phí,

cũng như sự giúp đỡ tương trợ lẫn nhau giữa các DNXK Nhật Bản và các cơ

quan XTTM được thực hiện tốt.

Bên cạnh các biện pháp nghiệp vụ truyền thống của hoạt động XTTM tại

hội chợ, Nhật Bản còn rất sáng tạo trong việc tìm ra những hướng đi mới cho

hoạt động XK. Ví dụ như việc Nhật Bản sử dụng các giá trị văn hóa truyền

thống của họ vào trong các hoạt động xúc tiến của hội chợ một cách rất thành

công, tạo được thị hiếu và ấn tượng tốt về hàng nông sản của Nhật Bản, một

điển hình là văn hóa ẩm thực của Nhật Bản.

Các biện pháp hỗ trợ về tín dụng và tư vấn XK cho DNXK:

Chính phủ Nhật Bản thành lập ngân hàng XK, nay là EXIMBANK để hỗ

trợ tín dụng cho cho những dự án XK có kim ngạch lớn...Hàng năm, hội nghị

tham vấn cấp cao bàn về XK (gồm đại diện của chính phủ và giới kinh doanh,

giới học giả...) được tổ chức bàn về mục tiêu XK cho năm tới và thảo luận các

biện pháp hỗ trợ DNXK cụ thể.

Nhật Bản còn áp dụng biện pháp khuyến khích XK bằng cách đưa ra các

tiêu chuẩn cơng nhận các DN có nhiều cống hiến cho XK. Hàng năm kiểm

điểm, đánh giá kết quả XK để biểu dương, tặng thưởng bằng biện pháp cấp tín

dụng với lãi suất thấp và miễn giảm thuế đặc biệt cho các DN này.

Nhật Bản tăng cường viện trợ kinh tế cho Đông Nam Á và là nước viện trợ

chính cho Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan vượt xa cả Mỹ. Viện

trợ của Nhật Bản đã tạo thuận lợi cho việc XK của Nhật Bản và thúc đẩy

mạnh việc buôn bán của Nhật Bản với khu vực này, cũng như nhiều khu vực



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



17



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



khác trên thế giới, đây là những hoạt động nằm trong khuôn khổ XTXK của

Nhật Bản.

Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực:

Nhật Bản có một hệ thống chương trình đào tạo XTTM rất bài bản, theo

đúng tiêu chuẩn quốc tế. Các DNXK cũng như các cơ quan XTTM chuyên

trách của Nhật Bản đa số đều hiểu và nắm rõ những kiến thức kinh nghiệm về

XTTM thu thập được, từ đó áp dụng hiệu quả vào thực tế.

Thực hiện tốt đạo đức kinh doanh đi liền với xúc tiến xuất khẩu:

Nhật Bản có một chính sách kiểm tra chất lượng hàng XK rất khắt khe

nhằm không cho hàng kém phẩm chất lọt ra thị trường bên ngồi để giữ uy

tín. Chính việc kiểm tra chặt chẽ chất lượng hàng XK cũng như những cam

kết của Nhật Bản đã làm cho những nhà NK tin tưởng vào hàng của Nhật và

góp phần thúc đẩy việc tăng XK của nước này.

Cơng tác và chương trình khách hàng được thực hiện nghiêm túc, trách

nhiệm, trước, trong và sau khi bán hàng XK với nhiều ưu đãi về giá cả và giao

dịch lâu dài.

b. Về hạn chế

Nền kinh tế Nhật trong hai thập kỷ gần đây chững lại, thậm chí có dấu hiệu

đi xuống, hoạt động thương mại xúc tiến cũng theo đó, tuy vẫn duy trì, nhưng

chưa có nhiều sáng kiến hay đột biến mới như trước đây. Việc đồng Yên liên

tục tăng giá, đặc biệt là so với đồng USD cũng là một điều không có lợi cho

XK của Nhật Bản, vì khi đó giá hàng hóa XK của hàng hóa Nhật Bản sẽ trở

nên đắt tương đối, do bắt nguồn một phần từ chi phí cho quảng bá, xúc tiến và

dịch vụ ban đầu tăng.

Nhật đang mắc phải sự cạnh tranh của nhiều quốc gia ở nhiều lĩnh vực

hàng nơng sản của họ, đó là Trung Quốc, Hàn Quốc. Rõ ràng, hàng nông sản

của Nhật đắt và chất lượng hơn, nhưng chính điều đó có thể khiến họ bị mất

thị trường ở các nước nghèo, hoặc trong các bối cảnh khủng hoảng, lạm phát

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



18



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



và giá dầu leo thang càng làm cho chi phí sản xuất tăng cao như hiện nay, đi

kèm với đó là cắt giảm nhu cầu chi tiêu. Chi phí phục vụ cho xúc tiến, quảng

bá, đặc biệt ở những nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản vốn đã cao,

nay lại tăng thêm.

Hoạt động xúc tiến, như con dao hai lưỡi, nó có thể đem lại cho hàng XK

những mối lợi nhuận lớn, quảng bá sản phẩm và đưa đến với cơng chúng,

nhưng cùng với đó là nguy cơ bị lợi dụng thương hiệu và bị làm giả, chịu thiệt

hại vơ cùng to lớn. Hàng hóa XK của Nhật cũng là một trong những hàng hóa

bị làm giả nhiều nhất trên thế giới. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến doanh

thu và lợi nhuận, mà nguy hiểm hơn còn ảnh hưởng đến uy tín trên thương

trường quốc tế.

Ngồi ra hoạt động XTTM của Nhật Bản tuy vẫn duy trì hiệu quả ở các thị

trường truyền thống, thì ở những thị trường mới tiềm năng, lại chưa thấy được

sự đột phá đáng kể nào, về khoản này Nhật Bản đã bị Trung Quốc vượt mặt.

1.2.1.3. Thái Lan

a. Về những thành tựu:

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống, với 60% tham gia

vào lao động trong nông nghiệp cả nước. Nền nông nghiệp Thái Lan và cả bộ

máy thương mại vận hành theo đó vẫn ln qua giữ vai trò quan trọng, góp

phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản XK trên

quốc tế.

Tập trung phát triển các ngành, mặt hàng mũi nhọn:

Cụ thể, Thái lan đã tập trung phát triển lĩnh vực như sản xuất và XK hàng

nông sản( gạo, hoa quả), thủy hải sản phục vụ XK, Công nghiệp chế biến

nông sản cho XK.

Tiêu biểu là ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan, đã và

đang phát triển rất mạnh. Chính phủ Thái Lan khuyến khích và XT đầu tư, thu

hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



19



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



trong nước để phát triển ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua

việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh.

Tái cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu và nâng cao chất lượng:

Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội thời kỳ 2000 - 2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ

Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của

12 mặt hàng nơng sản chính, trong đó có tập trung vào các các mặt hàng: gạo,

hoa quả, hải sản. Những lĩnh vực này được ngày càng được tập trung thực

hiện, đi đơi với đó là sự trợ giúp hồn thiện của ngành Cơng nghiệp chế biến

được đầu tư mạnh của Thái Lan, đã tạo nên sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng

nông sản Thái Lan.

Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được chú trọng:

Chính phủ Thái Lan thường xuyên tổ chức thực hiện và trợ giúp cho các

chương trình quảng bá VSATTP. Ví dụ như chương trình “Năm an tồn thực

phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới”. Mục đích chương trình này là

khuyến khích các nhà chế biến và nơng dân có hành động kiểm sốt chất

lượng vệ sinh thực phẩm để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Bên cạnh

đó, Chính phủ thường xun hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng

VSATTP. Và đặc biệt là, những hoạt động, công tác tổ chức thực hiện này

được đầu tư quảng bá rộng rãi trên nhiều phương diện: truyền thơng, cơng

nghệ thơng tin, quảng cáo văn hóa, du lịch…..Do đó, ngày nay, thực phẩm

chế biến của Thái Lan đã thành cơng ở các thị trường khó tính như: Hoa Kỳ,

Nhật Bản và EU.

Các hoạt động trợ giúp tích cực từ Chính phủ Thái Lan:

Bên cạnh ký FTA với các nước, Chính phủ Thái Lan còn là người đại diện

thương lượng với Chính phủ các nước để tiếp cận các thị trường XK này,

nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp tận dụng lợi thế cũng như đạt được lợi thế

cạnh tranh trong XK hàng nông sản.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



20



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Vấn đề quyền lợi, trợ giúp cho người nơng dân, các DNXK cũng được

Chính phủ Thái Lan nghiêm túc thực hiện và đảm bảo. Có thể kể ra:

• Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực

nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng

cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên

môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo

hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp;

giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nơng dân.

• Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức

cạnh tranh với hình thức như: Tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông

nghiệp, đẩy mạnh cơng tác tiếp thị;

• Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây

dựng và phân bố hợp lý các cơng trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông

nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác

trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng

khác trong sản xuất nơng nghiệp. Chương trình điện khí hóa nơng thơn

với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng

khắp cả nước

Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà

máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào cơ sở hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn

đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; XT Công nghiệp chế biến thực

phẩm và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tổ chức hệ thống cơ quan chun trách XTTM hợp lý, có tính liên kết:

Việc XT và phát triển thị trường nông sản XK của Thái Lan do nhiều cơ

quan nắm giữ đảm nhiệm, có thể kể ra như:



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



21



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



• Cục XT nơng nghiệp và Cục Hợp tác xã thuộc Bộ Nông nghiệp và Hợp

tác xã, giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động

sản xuất chế biến thực phẩm nơng sản;

• Cục Thủy sản thuộc Bộ Nơng nghiệp và Hợp tác xã giúp đỡ nông dân

từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản;

• Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp XT

tiêu chuẩn hố và hệ thống chất lượng;

• Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia XT việc áp dụng

khoa học và cơng nghệ cho chế biến;

• Bộ Đầu tư XT đầu tư vào vùng nông thôn.

Công tác hội chợ và xúc tiến được thực hiện tốt:

Nhờ được quảng bá rộng rãi qua các lần hội chợ, liên hoan và trên các

phương tiện truyền thông đại chúng, hàng nông sản Thái Lan ngày một thành

công trên nhiều thị trường truyền thống lẫn tiềm năng. Người nông dân Thái

Lan và cả những người thực hiện cơng tác XTXK nói chung đều rất nhiệt tình

và khá chun nghiệp trong cơng tác tiếp thị, quảng bá cho hình ảnh sản phẩm

của mình. Mơ hình hội chợ XTXK nơng sản của Thái Lan thường gắn liền với

các sự kiện lễ hội truyền thống, được tổ chức tại những thành phố du lịch thu

hút đông đảo khách thập thương, nhà đầu tư và doanh nghiệp nước ngồi, có

thể kể ra như Bangkok, Pattaya…. Đất nước Thái Lan gắn liền với hình ảnh

đất nước của nụ cười, của thân thiện.

Mơ hình nơng nghiệp bền vững, là bàn đạp tích cực cho XTXK:

Thái Lan còn tính toán phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách

khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên

bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải

quyết tốt những mâu thuẫn về tư tưởng trong nơng dân có liên quan đến việc sử

dụng tài nguyên lâm sản, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất

canh tác. Điều này rõ ràng về lâu dài có lợi cho nền nơng nghiệp của Thái Lan.

b. Về hạn chế



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



22



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Việc ký kết tham gia các hiệp định tự do song phương, là phù hợp với xu

thế chung của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ

trong cạnh tranh và bị chiếm lĩnh thị trường. Việc Thái Lan ký kết nhiều FTA

với các nước, đặc biệt là Trung Quốc, lại gây nhiều khó khăn trong vấn đề cạnh

tranh như hiện nay. Hàng nông sản Thái Lan kém về cạnh tranh giá cả hơn so

với hàng nông sản của Trung Quốc. Với việc mở cửa thị trường và tự do cạnh

tranh như hiện nay, Thái Lan đang có phần yếu thế với hàng Trung Quốc, ở mặt

số lượng và giá cả, chứ không phải mặt chất lượng.

Hàng nông sản Thái Lan cũng nhiều trường hợp bị giả mạo, dán nhãn mác,

và một lần nữa, lại là từ phía Trung Quốc. Điều này gây ảnh hưởng đến uy tín

của hàng nơng sản Thái Lan. Thủ đoạn giả mạo ngày càng tinh vi hơn, gian lận

ở nhiều lĩnh vực, nhiều mặt khác nhau: như thương hiệu, chất lượng, giấy tờ

chứng nhận, nguồn gốc xuất xứ, xuất khẩu trung gian. Đến nay, vẫn là những

vấn đề diễn biến còn phức tạp.

Tình hình hậu Khủng hoảng tài chính thế giới và Khủng hoảng kinh tế chính trị cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động XT, trong đó cơng tác gây dựng

lại hình ảnh thương hiệu cho hàng nông sản Thái Lan đang đứng trước nhiều

khó khăn.

Bên cạnh các vấn đề tiêu chuẩn chất lượng khắt khe từ các thị trường khó

tính như Mỹ, EU và Nhật Bản mà Thái Lan đang phải cố gắng điều chỉnh đáp

ứng, còn phải vướng phải cạnh tranh khu vực quyết liệt từ phía Trung Quốc,

Việt Nam và một số nước ASEAN, Nam Á và Trung Á khác.



1.2.2. Bài học cho Việt Nam

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



23



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Thứ nhất là tìm hiểu thơng tin thị trường, một trong những điều mà tất cả

các DN dù ít dù nhiều đều thiếu. Các tổ chức XTTM không chỉ cung cấp cho

các DN về nhu cầu của thị trường mà còn giúp họ tìm hiểu một loạt các mặt

khác như: thị hiếu, tập tính tiêu dùng, văn hóa, xã hội, luật pháp. Bởi vậy, hoạt

động khảo sát nghiên cứu thị trường cần phải được hoàn thiện hơn, đúng theo

các nguyên tắc và yêu cầu của thương mại quốc tế.

Tiếp đó là vấn đề nâng cao nguồn lực phục vụ XTXK. Đây là một yếu tố

hết sức quan trọng trong việc xây dựng chiến lược XTTM. Các tổ chức

XTTM nói chung, thơng qua việc đẩy mạnh thành lập các trung tâm đào tạo

kỹ năng thị trường cho các DN, đồng thời thường xuyên tiến hành tổ chức các

hội thảo, các khóa học với kinh nghiệm học được từ các doanh nhân thành đạt

đến từ các tổng công ty, tập đoàn lớn, các chuyên gia nước ngoài, đều là

những biện pháp cần thiết cho đào tạo nhân lực. Nguồn lực ở đây còn bao

gồm cả về cơ sở hạ tầng, cơ sở về tài chính… cũng cần được chú trọng hơn.

Thứ ba là vấn đề tổ chức và nghiệp vụ XTTM. Với việc tham gia các cuộc

triển lãm quốc tế, hội chợ về các mặt hàng nông sản, DNXK có thể tiếp cận,

giao lưu và học hỏi được từ các DN nước bạn, đồng thời quảng bá cho hàng

hóa cũng như thương hiệu hàng nơng sản Việt Nam. Bên cạnh đó, thực hiện

tốt các chương trình khuyến mãi, quảng bá sản phẩm và xây dựng thương

hiệu, các dịch vụ khách hàng thường xuyên và hậu bán hàng. Ngoài ra, còn

phải thường xun tổ chức cho đồn các chun gia, DN trong nước đi tham

quan, tham gia triển lãm tại nước ngoài, nhằm giao lưu trao đổi học hỏi kinh

nghiệm cũng như thực hiện công tác khảo sát nghiên cứu thị trường.

Kế đến là vấn đề chất lượng cũng như phát triển sản phẩm. Trong thời kỳ

cạnh tranh mạnh mẽ như hiện này, giá thành là một yếu tố quan trọng nhưng

không phải là quyết định, mà phải là chất lượng cũng như là các hướng đi mới

trong việc phát triển sản phẩm. Đây là một xu thế khách quan mà DNXK phải

tuân theo và theo đuổi trong cạnh tranh toàn cầu hiện nay.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1 : Cơ cấu tổ chức của VIETRADE

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×