Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2: Thực trạng xúc tiến xuất khẩu nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Chương 2: Thực trạng xúc tiến xuất khẩu nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Tải bản đầy đủ - 0trang

Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



- Vấn đề đình chỉ thực hiện quảng cáo thương mại (điều 28): đó là trong

trường hợp phát hiện nội dung sản phẩm quảng cáo thương mại vi phạm quy

định của pháp luật, cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại là cơ quan thẩm

quyền đình chỉ thực hiện quảng cáo thương mại. Khi đã bị đình chỉ, thương

nhân có sản phẩm quảng cáo thương mại và cơ quan quản lý phương tiện

quảng cáo phải chấp nhận và có nghĩa vụ tuân thủ tuyệt đối.

2.1.2. Văn bản về hội chợ triển lãm

Thông tư 07/2007/TTLT-BTM-BTC đã đưa ra một số quy định chính về

hội chợ triển lãm như sau:

- Việc đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại phải trước ngày

01/10 của năm trước năm tổ chức (hoặc nếu đăng ký sau, thì chậm nhất 30

ngày trước ngày khai mạc đối với HCTL thương mại tại Việt Nam và 45 ngày

đối với HCTL thương mại ở nước ngoài).

- Vấn đề hồ sơ đăng ký HCTL thương mại và tiếp nhận hồ sơ:

• Hồ sơ đăng ký tổ chức HCTL thương mại được thực hiện theo quy định

tại Điều 38 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP;

• Nếu hồ sơ chưa đầy đủ hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày

nhận được hồ sơ, cơ quan quản lý Nhà nước thông báo bằng văn bản cho

thương nhân, tổ chức liên quan đến thương mại để bổ sung và hồn chỉnh

hồ sơ;

• DN có quyền đề nghị cơ quan quản lý Nhà nước giải thích rõ những nội

dung cần bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ, cơ quan quản lý Nhà nước có

trách nhiệm trả lời thỏa đáng các vấn đề có liên quan.

- Xác nhận, khơng xác nhận đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại:

với trường hợp đăng ký trước ngày 01/10 và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về

đăng ký, cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm xem xét, xác nhận hoặc

khơng xác nhận (có nêu rõ lý do) bằng văn bản muộn nhất là 1 tháng sau đó

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



27



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



(với trường hợp đăng ký sau 01/10 thì thời hạn tương ứng như trên là 10

ngày).

- Thay đổi, bổ sung những nội dung về đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm

thương mại:

• DN phải gửi văn bản đề nghị thay đổi, bổ sung đến cơ quan quản lý

Nhà nước trước ngày khai mạc HCTL thương mại chậm nhất 30 ngày

đối với HCTL thương mại tại Việt Nam hoặc 45 ngày đối với HCTL

thương mại ở nước ngồi;

• Thời hạn cho cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, xác nhận hoặc khơng

xác nhận (có nêu rõ lý do) bằng văn bản là 10 ngày kể từ ngày nhận,

với điều kiện văn bản đáp ứng đúng các yêu cầu.

- Báo cáo kết quả tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại: DN, tổ chức hoạt

động có liên quan đến thương mại phải có văn bản báo cáo kết quả tổ chức

đến cơ quan quản lý Nhà nước trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc HCTL

thương mại.

2.1.3. Văn bản về hoạt động khuyến mại

Các hoạt động khuyến mại được quy định trong thơng tư 07/2007/TTLTBTM-BTC, theo đó:

- Các hình thức khuyến mại được quy định trong văn bản bao gồm:

• Hàng hố và dịch vụ mẫu, khách hàng dùng thử khơng phải trả tiền;

• Tặng hàng hố, cung ứng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền kèm

theo hoặc khơng kèm theo việc mua, bán khác;

• Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn trước đó;

• Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng

dịch vụ;

• Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi trúng thưởng;

• Các chương trình khách hàng thường xuyên;

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



28



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



• Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ

thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.

- Thơng báo thực hiện khuyến mại:DN có hoạt động khuyến mại có thời

hạn là chậm nhất 07 ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại, để gửi

thông báo bằng văn bản đến Sở Thương mại nơi tổ chức khuyến mại.

- Vấn đề hồ sơ đăng ký thực hiện khuyến mại và tiếp nhận hồ sơ: theo đó,

mẫu bộ hồ sơ đăng ký theo quy định bao gồm:

• Văn bản đăng ký thực hiện khuyến mại;

• Thể lệ chương trình khuyến mại;

• Mẫu vé số dự thưởng đối với chương trình khuyến mại có phát hành vé

số dự thưởng;

• Hình ảnh hàng hóa khuyến mại và hàng hóa dùng để khuyến mại;

• Mẫu bằng chứng xác định trúng thưởng (nếu có);

• Bản sao Giấy chứng nhận chất lượng hàng hóa, dịch vụ khuyến mại và

hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật

(nếu có).

- Hoạt động tiếp nhận hồ sơ cũng cần lưu ý một số điều sau:

• Khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý Nhà nước ghi Giấy biên nhận hồ

sơ gồm 02 bản: 01 bản giao cho DN thực hiện khuyến mại và 01 bản

lưu tại cơ quan quản lý Nhà nước (không áp dụng đối hồ sơ qua đường

bưu điện);

• Đối với hồ sơ chưa đạt yêu cầu, cơ quan quản lý Nhà nước thông báo

bằng văn bản trong vòng 03 ngày kể từ khi nhận hồ sơ cho DN để bổ

sung, hồn chỉnh hồ sơ;

• DN có quyền đề nghị cơ quan quản lý Nhà nước giải thích rõ những

yêu cầu bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ, và cơ quan quản lý Nhà nước có

trách nhiệm trả lời thỏa đáng các vấn đề có liên quan.



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



29



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



- Việc xác nhận, không xác nhận việc đăng ký thực hiện khuyến mại:

trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký thực hiện

khuyến mại đầy đủ, hợp lệ, cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm xem xét,

xác nhận hoặc không xác nhận ( có nêu rõ lý do) bằng văn bản.

- Ngồi ra, còn vấn đề về sửa đổi, bổ sung nội dung chương trình khuyến

mại: trình tự, thủ tục đăng ký sửa đổi, bổ sung nội dung đối với chương trình

khuyến mại phải theo các quy định về khuyến mại tại Luật Thương mại và

Nghị định số 37/2006/NĐ-CP.

- Đối với trường hợp chấm dứt và đình chỉ thực hiện chương trình khuyến

mại:

• Trong trường hợp chấm dứt việc thực hiện chương trình khuyến mại

quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP;

• Nếu phát hiện có hành vi vi phạm thuộc quy định tại Điều 20 Nghị định

số 37/2006/NĐ-CP, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền đình chỉ

việc thực hiện tồn bộ hoặc một phần chương trình khuyến mại của

DN.

- Cuối cùng là hoạt động báo cáo kết quả thực hiện khuyến mại: khi kết

thúc chương trình khuyến mại DN phải báo cáo kết quả thực hiện khuyến mại

tại địa phương đến cơ quan quản lý Nhà nước.



2.1.4. Chương trình Thương hiệu quốc gia

2.1.4.1. Tóm tắt chung về Chương trình Thương hiệu quốc gia

Chương trình Thương hiệu Quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

tại Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 25/11/2003, giao Bộ Thương mại

(nay là Bộ Công Thương) là cơ quan thường trực, chịu trách nhiệm phối hợp

với các Bộ, Ngành triển khai. Chương trình hướng tới các mục đích:



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



30



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



- Xây dựng hình ảnh về Việt Nam là một quốc gia có uy tín về hàng hoá

và dịch vụ đa dạng, phong phú với chất lượng cao;

- Nâng cao sức cạnh tranh cho các thương hiệu sản phẩm Việt Nam trên

thị trường trong nước và quốc tế trong quá trình hội nhập;

- Xây dựng hình ảnh Việt Nam gắn với các giá trị "Chất lượng - Đổi mới,

sáng tạo - Năng lực lãnh đạo".

2.1.4.2. Đặc điểm chính

Một là: đây là chương trình duy nhất do Chính phủ Việt Nam tiến hành với

mục đích quảng bá thương hiệu quốc gia.

Hai là: Chương trình khơng phải là một giải thưởng thương hiệu. Việc lựa

chọn các thương hiệu sản phẩm đủ tiêu chuẩn gắn biểu trưng Thương hiệu

quốc gia chỉ là sự khởi đầu để các DN trở thành đối tác của Chương trình.

Ngồi ra: Nhà nước sẽ đứng ra bảo trợ cho các thương hiệu sản phẩm có

chất lượng và uy tín kinh doanh, nhằm giúp các DN Việt Nam tạo chỗ đứng

vững vàng trên thị trường trong nước và có điều kiện phát triển thương hiệu

của mình.

2.1.4.3. Nội dung của Chương trình Thương hiệu quốc gia

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực trong việc xây dựng,

quảng bá, phát triển, bảo vệ thương hiệu cho DNXK.

Thứ hai, lựa chọn các thương hiệu tiêu biểu của Việt Nam tham gia Chương

trình, đơng thời Nhà nước sẽ phối hợp cùng để xây dựng các chương trình hành

động cụ thể để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các thương hiệu sản phẩm được

lựa chọn.

2.1.5. Chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia

Theo Quyết định số 279/2005/QĐ-TTg ngày 03/11/2005, chương trình xúc

tiến Thương mại Quốc gia là chương trình XTTM được xây dựng theo định

hướng về thị trường, ngành hàng XK của Chiến lược XK thời kỳ 2006 - 2010

và được Nhà nước hỗ trợ kinh phí thực hiện, với các mục tiêu chung là:

- Tăng cường hoạt động XTTM, phát triển thị trường XK.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



31



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



- Tạo điều kiện ban đầu xây dựng các cơ sở vật chất phục vụ hoạt động

XTTM.

- Gắn kết các hoạt động xúc tiến thương mại, Góp phần nâng cao năng lực

kinh doanh của cộng đồng DN.

Theo đó, phạm vi điều chỉnh của chương trình là giai đoạn 2006 – 2010,

với các đối tượng áp dụng là:

• Các đơn vị tham gia: DN thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập

theo quy định của pháp luật hiện hành, có đề án XTTM tham gia

Chương trình;

• Các đơn vị chủ trì, bao gồm: các tổ chức XTTM Chính phủ thuộc các

Bộ, cơ quan ngang Bộ; các tổ chức phi Chính phủ: các Hiệp hội ngành

hàng, Phòng TMCN VN….

2.2. Thực trạng về xúc tiến xuất khẩu nông sản

Cục XTTM, với tư cách là cơ quan đầu mối trong hoạt động XTTM, đã tổ

chức nhiều hoạt động một cách hiệu quả như: hội chợ, triển lãm trong và

ngồi nước để quảng bá nơng sản, phối hợp với các tổ chức quốc tế tổ chức

hội thảo và tập huấn, đào tạo trong lĩnh vực XTTM, thực hiện cung cấp thông

tin, tư vấn cho DN, thực hiện Chương trình Thương hiệu quốc gia và quản lý,

điều phối thực hiện Chương trình XTTMQG. Trong thời gian qua, các hoạt

động XTTM nói chung và xúc tiến XK nói riêng đã khơng ngừng đổi mới và

nâng cao chất lượng.

2.2.1. Về Chương trình XTTMQG

Qua 5 năm triển khai thực hiện (2006 - 2010), Chương trình XTTMQG đã

đóng góp quan trọng đối với công tác xúc tiến XK, nâng cao năng lực cạnh

tranh cho DNXK nơng sản. Chương trình đã mở ra rất nhiều cơ hội cho các

DNXK nông sản tham gia nhiều hoạt động XTTM đa dạng, đạt nhiều kết quả

tốt. Cũng nhờ đó, năng lực, vai trò và vị thế của các Hiệp hội ngành hàng cũng

được nâng lên đáng kể.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



32



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Chương trình đã góp phần đáng kể giúp kim ngạch XK nông sản tăng trưởng

liên tục qua các năm. Sau đây là đồ thị minh họa kim ngạch XK nông sản những

năm qua:

Đồ thị 2.1: Kim ngạch xuất khẩu nông sản giai đoạn 2006 – 2010

Đơn vị: tỷ USD



Nguồn: tổng hợp số liệu



Năm 2010, Bộ Công Thương đã phê duyệt tổng cộng 93 đề án, với tổng

kinh phí 100,27 tỷ đồng được đề nghị Nhà nước hỗ trợ, dành cho các Hiệp hội

ngành hàng, tổ chức XTTM và các địa phương. Chương trình XTTMQG năm

2010 đã hỗ trợ trên 5,000 DN, ký kết trên 3,000 hợp đồng và thỏa thuận hợp

tác kinh doanh có giá trị trên 1,152 triệu USD (theo số liệu thống kê sơ bộ).

Chương trình XTTMQG đã ngày càng khẳng dịnh vai trò đối với tăng

trưởng XK nông sản và đẩy mạnh XK tại chỗ, tức là ngay trên thị trường nội

địa, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng thương hiệu, hình

ảnh của DNXK nơng sản Việt Nam trên thế giới.

Ngoài ra, “Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình

XTTMQG” được Chính phủ ban hành theo Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg

ngày 15/11/2010, nhằm đảm bảo phù hợp với các cam kết quốc tế, vừa tạo

điều kiện phát triển XK nơng sản theo phương châm đa phương hóa, đa dạng

hóa, thêm sức cạnh tranh, tăng trưởng về quy mơ đi đôi với nâng cao chất

lượng, hiệu quả, mở mang thị trường. Quy chế này có hiệu lực từ năm 2011.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



33



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



2.2.2. Công tác khảo sát nghiên cứu thị trường

Công tác khảo sát nghiên cứu thị trường là bước khởi đầu cho hoạt động XK

cũng như xúc tiến XK, bởi một số điều thiết yếu cho cạnh tranh và xúc tiến XK

như sau:

• Thơng tin là chìa khố để hiểu về nhu cầu và thay đổi của thị











trường;

Phải nắm rõ thị trường hơn đối thủ cạnh tranh;

Phải dự báo được những sự thay đổi của thị trường về nhu cầu;

Phải biết ứng phó với những sự thay đổi thị trường;

Phải có phương pháp hệ thống hố việc thu thập, phân tích và xử lý



thơng tin;

• Chọn lựa và xây dựng kênh phân phối;

• Quyết định định vị thương hiệu.



Hình 2.1: Khái qt hóa cơng tác khảo sát nghiên cứu thị trường xuất khẩu

Nguồn: tổng hợp tham khảo



Đây là một công việc quan trọng giúp cho DN có thể nắm vững được tình

hình kinh tế, thị hiếu tiêu dùng, sở thích, phong tục tập quán…của nước NK

sản phẩm qua đó quảng bá, giới thiệu sản phẩm với đối tác, tìm kiếm cơ hội

giao thương, ký kết hợp đồng. Công việc này DN thường thực hiện phối hợp

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



34



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



với các tổ chức XTTM để học hỏi và tiếp thu các kinh nghiệm trong khảo sát

thị trường mới.

Hàng năm cũng có những cuộc khảo sát của các cơ quan của Chính phủ và

bộ ngành, Cục XTTM về cả các thị trường chính lẫn các thị trường tiềm năng

của XK nông sản Việt Nam, qua đó có thể cung cấp thơng tin nhanh chóng,

kịp thời diễn biến thị trường cho DNXK, đảm bảo tính cập nhật và nắm bắt

tình hình thời cơ.

2.2.3. Hoạt động tổ chức hội chợ ,triển lãm thương mại trong và ngoài nước

Theo thống kê, trong năm 2010, trên địa bàn cả nước đã tổ chức hơn 500

hội chợ, triển lãm nhằm giới thiệu,quảng bá và tăng tiêu thụ nội địa đối với sản

phẩm của các DN. Nhằm tăng cường hiệu quả của các hoạt động tổ chức hội

chợ, triển lãm thương mại nông sản trong nước, Cục XTTM đã phối hợp với

các bộ phận nghiệp vụ của các Sở Công Thương địa phương nhằm hướng dẫn,

trao đổi và hỗ trợ trong công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động HCTL

thương mại trong nước.

Về công tác tổ chức cho các đơn vị doanh nghiệp tham gia các HCTL

thương mại ở nước ngồi, đã có hơn 50 chương trình XTTM được Chính phủ

phê duyệt và được thực hiện trong năm 2010. Trong đó, một số chương trình

XT liên quan đến lĩnh vực nông sản tiêu biểu như : tổ chức tham gia Triển

lãm thực phẩm và đồ uống ASEAN 2010 tại Hàn Quốc, tổ chức tham gia

Triển lãm hàng nông lâm thủy sản XK Việt Nam tại Liên Bang Nga 2010…

Nhờ vào việc tham gia các HCTL quốc tế hàng nơng sản có quy mơ lớn

tạo sự thu hút, quan tâm của các DN đối tác nước ngoài cũng như các cơ hội

quý giá, cho nên các DNXK nông sản đều ủng hộ và hưởng ứng nhiệt tình.

Thơng qua hội chợ, DNXK nơng sản có thể giới thiệu các sản phẩm nông sản

của Việt Nam một cách trực tiếp và hiệu quả về các vấn đề liên quan đến sản

phẩm nơng sản. Qua đó, khắc phục nhược điểm của sản phẩm, tạo hướng đi

mới trong việc phát triển và mở rộng thị trường nơng sản của mình.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



35



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Ngoài ra, qua việc tham gia HCTL thương mại cũng giúp cho các DNXK

nơng sản nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa trên thị trường XK thế giới, nhờ

vào quá trình tiếp xúc, trao đổi kinh nghiệm với các DN đối tác và các nhà

NK quốc tế đến tham quan và giao dịch, giúp quảng bá thương hiệu hàng

nông sản Việt Nam, đồng thời đẩy mạnh XK.

2.2.4. Hội thảo, thảo luận công tác đào tạo, tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ

XTTM cũng như các hoạt động nghiên cứu khoa học về XTTM

Nhiều DNXK nơng sản đã tích cực tham gia các diễn đàn, hội thảo quốc

gia và quốc tế về các vấn đề liên quan đến nông sản được phối hợp tổ chức

cùng với các cơ quan XTTM có năng lực chun mơn uy tín và chất lượng.

Cơng tác đào tạo nguồn nhân lực ngày càng được quan tâm, là một trong

những công việc quan trọng để thực hiện hoạt động XTTM phục vụ XK. Các cơ

quan, tổ chức XTTM hàng năm đều liên tục tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu

về kiến thức nghiệp vụ như marketing, nghiệp vụ XK và NK, luật quốc tế … để

bồi dưỡng nguồn nhân lực XTTM, ngồi ra còn giao lưu, học hỏi và trao đổi kinh

nghiệm với chuyên gia quốc tế.

Đặc biệt là Cục XTTM đã có nhiều chương trình hợp tác với các trung tâm

XTTM các tỉnh/thành phố thực hiện chương trình hỗ trợ DN đào tạo nguồn nhân

lực XTTM. Bên cạnh đó, số lượng các đề án nghiên cứu về XTTM cũng tăng cả

về lượng và chất. Biểu đồ dưới đây tổng kết các đề án nghiên cứu XTTM năm

2010 qua:

Biểu đồ 2.1: Số lượng đề án XTTM phân theo các cơ quan,

tổ chức, hiệp hội năm 2010



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



36



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Nguồn: Cục xúc tiến thương mại



2.2.5. Vấn đề hợp tác với các tổ chức quốc tế, thực hiện các chương trình hỗ

trợ XK cho các DNXK nông sản Việt Nam

Các tổ chức XTTM của Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình hợp tác

với các tổ chức quốc tế nhằm hỗ trợ các DN Việt Nam đẩy mạnh XK nơng

sản. Các hoạt động có thể kể bao gồm: tổ chức các đồn cơng tác khảo sát,

nghiên cứu thị trường XK, cung cấp thông tin về thị trường, ngành hàng nông

sản XK, các yêu cầu và quy định về nông sản của các thị trường, tổ chức các

cuộc gặp gỡ đàm thoại giữa DNXK nông sản Việt Nam và đối tác nước

ngoài, tổ chức hội thảo, các khóa đào tạo, tập huấn nhằm hỗ trợ các DNXK

nông sản VN hiểu rõ hơn về thị trường XK nông sản trọng điểm cũng như

tiềm năng….

Cục XTTM cũng tiếp tục mở rộng các hoạt động hợp tác trong công tác

XTTM với các tổ chức XTMT của các nước và các tổ chức hổ trợ thương mại

quốc tế. Một số hoạt động nổi bật năm 2010 là: Hợp tác thực hiện các hoạt

động XTTM trong khuôn khổ hoạt động của Trung tâm ASEAN-Nhật Bản

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



37



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2: Thực trạng xúc tiến xuất khẩu nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×