Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: Giới thiệu cơ sở thực tập và kinh nghiệm quốc tế trong xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản

Chương 1: Giới thiệu cơ sở thực tập và kinh nghiệm quốc tế trong xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản

Tải bản đầy đủ - 0trang

Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Cục Xúc tiến Thương mại là cơ quan của Chính Phủ do Thủ tướng ký

quyết định thành lập theo quyết định 78/2000/QĐ-TTg ngày 06/07/2000 với

chức năng quản lý Nhà nước về XTTM, theo đó:

- Cục XTTM tham gia xây dựng chính sách, các văn bản quy phạm pháp

luật về XTTM, trình cấp có thẩm quyền duyệt, cũng như kiểm tra việc thực

hiện các quy định trên sau khi được duyệt.

- Bên cạnh đó, còn thực hiện các hoạt động nghiên cứu về thị trường trong

nước và ngoài nước nhằm mục đích cung cấp thơng tin thương mại nhằm hỗ

trợ DN, cũng như tổ chức tập huấn và bồi dưỡng kỹ năng tác nghiệp trong

XTTM.

- Cục XTTM có nhiệm vụ chỉ đạo và hướng dẫn các Sở Thương mại (nay

là sở Công Thương) về quản lý Nhà nước và nghiệp vụ, các hoạt động

XTTM.

- Ngồi ra, còn tham gia chỉ đạo các đại diện thương mại ở nước ngồi

tiến hành cơng tác XTTM nói chung.

Theo quy định, Cục XTTM được giao thêm một số nhiệm vụ quan trọng,

bao gồm:

- Có trách nhiệm quản lý nguồn ngân sách Nhà nước cấp hàng năm cho

hoạt động XTTM.

- Tham gia công tác chỉ đạo, hướng dẫn về công tác quản lý Nhà nước đối

với hoạt động XTTM.

- Tham gia xây dựng, thực hiện và quản lý Chương trình thương hiệu,

Chương trình truyền hình cơng thương quốc gia phục vụ XTTM cũng như hỗ

trợ các DN Việt Nam xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



10



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



1.1.1. Văn bản pháp lý cơ sở thành lập của VIETTRADE

Cục XTTM được thành lập theo quyết định của thủ tướng Chính phủ số

78/2000/QĐ-TTg ngày 06/07/2000 nhằm mục đích giúp Bộ trưởng BCT thực

hiện chức năng quản lý Nhà nước về XTTM.

Quyết định cũng đã nêu rõ, biên chế của Cục XTTM là do Bộ trưởng BTM

quyết định sau khi thoả thuận với Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ

Chính phủ và Bộ trưởng BTC theo tiêu chí là tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả, nhưng

vẫn đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh hoạt động XTTM trong giai đoạn mới hiện nay.

Về kinh phí hoạt động của Cục XTTM, là do Ngân sách nhà nước cấp và

được tổng hợp trong dự toán ngân sách hàng năm của BTM.

1.1.2. Văn bản pháp lý quy định về quyền hạn

Trên cơ sở Nghị định số 189/2007/NĐ- CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BCT và Quyết

định số 78/2000/QĐ-TTg ngày 06/07/2000 của Thủ tướng Chính phủ về

thành lập Cục XTTM thuộc BTM (nay là BCT); đã quy định rõ:

Cục XTTM là tổ chức có tư cách pháp nhân trực thuộc BCT, có chức năng

là quản lý Nhà nước về XTTM, có tài khoản tại Kho bạc nhà nước, có con

dấu để hoạt động và giao dịch theo quy định của pháp luật hiện hành.

Cũng theo văn bản, Cục XTTM có những nhiệm vụ quyền hạn chính là:

- Tham gia xây dựng và trình Bộ trưởng phê duyệt các chiến lược, chính

sách, chương trình…. thuộc phạm vi XTTM.

- Có quyền ban hành các văn bản thuộc chuyên ngành XTTM và quản lý

Nhà nước về XTTM nói chung.



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



11



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



- Thực hiện công tác tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện

các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, các chương trình, dự

án, đề án về XTTM.

- Đảm nhiệm công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động và các vấn

đề liên quan đến XTTM.

- Được giao quyền chỉ đạo, hướng dẫn về công tác quản lý Nhà nước đối

với hoạt động XTTM, và về các hoạt động XTTM.

- Nghiên cứu thị trường phục vụ hoạch định chính sách XTTMQG.

- Xây dựng, thực hiện và quản lý chương trình thương hiệu quốc gia,

chương trình truyền hình cơng thương quốc gia phục vụ XTTM cũng như hỗ

trợ các DN Việt Nam xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu.

- Tiến hành tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, về chuyên môn nghiệp vụ cũng

như tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến

hoạt động XTTM.

- Có trách nhiệm quản lý nguồn ngân sách nhà nước cấp hàng năm cho

hoạt động XTTM.

- Cuối cùng, xây dựng và quản lý để thực hiện các hoạt động XTTM.



1.1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức của VIETRADE



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



12



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Theo Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27/12/ 2007 của Chính phủ, cơ

cấu tổ chức của VIETRADE bao gồm : bộ máy lãnh đạo do Cục trưởng đứng

đầu, dưới đó phân ra làm hai nhánh chính là bộ máy giúp việc Cục trưởng và

các tổ chức sự nghiệp có thu. Trong từng phân nhánh, có các văn phòng, các

phòng chun mơn, các ban và các trung tâm ( hình minh họa dưới đây):

Bộ máy lãnh đạo:

1 Cục trưởng

4 Phó Cục trưởng



Bộ máy giúp việc Cục trưởng:



Các tổ chức sự nghiệp có thu:



a) Văn phòng Cục XTTM;



a) Ban Truyền hình cơng thương;



b) Phòng Kế hoạch - Tài chính;



b) Trung tâm Hỗ trợ xuất khẩu;



c ) Phòng Quản lý xúc tiến thương mại;



c) Trung tâm Xúc tiến đầu tư phát triển cơng

thương;



d) Phòng Nghiên cứu phát triển thị trường;

e) Phòng Chính sách phát triển xuất khẩu;



d) Các Trung tâm giới thiệu sản phẩm của

Việt Nam ở nước ngồi.



f) Phòng Thơng tin - Đối ngoại;

g) Phòng Cơng nghệ thơng tin và Thương mại

điện tử;

h) Văn phòng Đại diện Cục Xúc tiến thương

mại tại TPHCM;

k) Văn phòng Đại diện Cục Xúc tiến thương

mại tại Thành phố Đà Nẵng.



Hình 1.1 : Cơ cấu tổ chức của VIETRADE

Nguồn: vietrade.gov.vn



1.2. Kinh nghiệm quốc tế trong xúc tiến xuất khẩu nông sản

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



13



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



1.2.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia

1.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

a. Về những mặt tích cực

Một trong những khâu then chốt quyết định sự tăng trưởng XK hàng hóa

Trung Quốc chính là việc thực hiện và duy trì một chiến lược phát triển,

XTXK đúng đắn. Điều này thể hiện trước hết ở sự chú trọng hoạt động

XTXK.

Định hướng và thông tin thị trường:

Trung Quốc rất coi trọng việc đa dạng hóa thị trường XK, khơng tập trung

đầu tư cho thị trường riêng biệt nào. Những cải cách định hướng thị trường đó

góp phần làm cho hệ thống ngoại thương của Trung Quốc ngày càng có tính

trung lập cao hơn, tạo điều kiện khuyến khích hoạt động XK.

Từ năm 2002 trở đi, Trung Quốc tiếp tục áp dụng các chính sách nói trên đi

đơi với điều chỉnh linh hoạt phù hợp với thơng lệ quốc tế như miễn, giảm, hồn

thuế, đồng thời áp dụng các chính sách, cơng cụ thúc đẩy XK: cung cấp tín

dụng DNXK, cho vay ưu đãi theo hiệp định cấp chính phủ, bảo hiểm và bảo

lãnh tín dụng XK. Việc cung cấp tín dụng XK do Ngân hàng xuất nhập khẩu

Trung Quốc đảm nhiệm. Có thể nói các chính sách hỗ trợ trên rất có hiệu quả

trong việc thúc đẩy XK, tạo điều kiện để Trung Quốc tiếp cận vững chắc những

thị trường XK chủ yếu, đồng thời thâm nhập được những thị trường XK mới

tiềm năng với nguồn thông tin được cung cấp bởi cơ quan XTTM chuyên trách.

Hàng XK nói chung, cũng như hàng nơng sản XK nói riêng, được Trung

Quốc phân loại và định hướng từng loại thị trường rất khôn khéo, thâm nhập

vào rất mau lẹ và thuận tiện. Từ đó, họ tiến hành xây dựng và thực hiện các

hoạt động xúc tiến rất linh hoạt, chuyên biệt cho từng trường hợp.

Trung Quốc rất chú trọng đẩy mạnh hợp tác kinh tế khu vực, tham gia các

khối liên kết tiểu vực và ký hiệp định thương mại song phương với nhiều



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



14



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



nước. Điều này cũng rất thuận lợi cho hoạt động xúc tiến cả về yếu tố không

gian lẫn thời gian.

Quảng cáo, marketing:

Chiến dịch quảng cáo của Trung Quốc về hàng nông sản được thực hiện

rất rầm rộ, với quy mô và mật độ lớn, phủ rộng trên nhiều phương tiện truyền

thông, công nghệ thông tin. Thương hiệu Made in China là một trong những

thương hiệu phổ biến nhất trên thế giới.

Các hội chợ triển lãm và khuyến mãi:

Các hội chợ thương mại, triển lãm của Trung Quốc là sự kiện mang tính

quốc tế tồn cầu, đã đem lại nhiều động lực thúc đẩy XK nơng sản. Cùng phối

hợp với đó là rất nhiều các ủy ban thương vụ nước ngoài của Trung Quốc, rất

nhanh nhẹn nắm bắt thông tin thị trường ở nước ngồi.

Trong các hội chợ thương mại hàng nơng sản Trung Quốc, các DN Trung

Quốc áp dụng rất nhiều hình thức khuyến mại cho sản phẩm của họ: giá rẻ,

dùng thử hàng mẫu miễn phí, mua nhiều ưu đãi giá, tặng quà, giảm giá, tặng

phiếu mua hàng, phiếu dự thi trúng thưởng, tổ chức chương trình khách hàng

thường xuyên. Ngồi ra , các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí của

Trung Quốc cũng là một thế mạnh thương hiệu độc đáo, qua đó truyền tải

thơng điệp cũng như hỗ trợ xúc tiến cho XK nói chung, và các mặt hàng nơng

sản nói riêng.

b. Về hạn chế

Rõ ràng, hoạt động xúc tiến của Trung Quốc, trong nhiều trường hợp còn

có nhiều điểm tiêu cực, thiếu cơng bằng và minh bạch, chưa phù hợp với

nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng của thương mại quốc tế. Ví dụ như hoạt

động quảng cáo, có rất nhiều trường hợp, DN Trung Quốc lợi dụng các

thương hiệu nổi tiếng tồn cầu, qua đó lợi dụng thực hiện quảng cáo cho sản

phẩm của họ để kiếm lợi, hàng giả và kém chất lượng là một trong những

hình ảnh xấu về hàng hóa Trung Quốc. Hình thức này diễn ra ngày càng phức

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



15



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



tạp, nhất là trong thời đại ứng dụng công nghệ thông tin và Internet như hiện

nay và lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người tiêu dùng, cũng như đánh vào

tâm lý giá rẻ được lợi. Điều này đặc biệt diễn ra khá nghiêm trọng với thị

trường châu Á, với nhu cầu tiêu thụ đang tăng rất cao nhưng về thu nhập bình

quân đầu người lại ở mức trung bình hoặc dưới mức đó.

Hàng nơng sản Trung Quốc tràn ngập thế giới, đó là điều đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, với nhiều thông tin xấu về chất lượng VSATTP, nó ảnh hưởng

nhiều đến quá trình XTXK hàng nơng sản của Trung Quốc, bắt nguồn từ việc

muốn giảm chi phí hàng nơng sản, kéo theo vấn đề chất lượng thực sự của sản

phẩm không tương xứng với những gì được quảng cáo, giới thiệu.

Hoạt động xúc tiến của Trung Quốc cũng chưa được thực hiện hoàn thiện,

mất cân đối ở chỗ trước khi bán sản phẩm thì tổ chức khá thành cơng và

chun nghiệp, nhưng sau khi tiêu thụ được sản phẩm thì dịch vụ hậu khách

hàng cũng như vấn đề chất lượng còn gây nhiều tranh cãi. Rất nhiều vụ kiện

thương mại hàng nông sản Trung Quốc liên quan đến vấn đề chất lượng và

VSATTP đã xảy ra. Điều này có những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động XK

cũng như gây khó khăn cho hoạt động XTXK của Trung Quốc, nhất là trong

thời đại cạnh tranh thương mại gay gắt như hiện nay.

1.2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản

a. Về những mặt tích cực

Tiêu biểu nhất trong lĩnh vực XTTM của Nhật Bản phải kể đến là JETRO,

được thành lập năm 1958 với các hoạt động hỗ trợ XK như: thứ nhất là điều

tra, theo dõi những thay đổi về chính sách thuế quan, thị hiếu tiêu dùng và

tình hình cạnh tranh của các nước trên thị trường sở tại, sau đó báo cáo về

nước để phục vụ cho cơng tác hoạch định chính sách song phương và các DN

có nhu cầu tìm hiểu. Hai là, tổ chức xây dựng các phòng giới thiệu sản phẩm,

triển lãm hàng của Nhật Bản ở nước ngoài ...Ba là, thăm dò và tìm kiến những

bạn hàng tương lai của Nhật Bản để giới thiệu với các đối tác trong nước.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



16



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



Hội chợ xúc tiến của Nhật Bản:

Được đánh giá là hội chợ tầm quốc tế, hàng hóa nông sản của Nhật Bản

được quảng bá rất chuyên nghiệp với sự tham gia đồng thuận của các bên:

DNXK, cơ quan XTTM, các cơ quan khác.

Hoạt động hỗ trợ liên quan đến tổ chức hội chợ, thuê gian hàng và chi phí,

cũng như sự giúp đỡ tương trợ lẫn nhau giữa các DNXK Nhật Bản và các cơ

quan XTTM được thực hiện tốt.

Bên cạnh các biện pháp nghiệp vụ truyền thống của hoạt động XTTM tại

hội chợ, Nhật Bản còn rất sáng tạo trong việc tìm ra những hướng đi mới cho

hoạt động XK. Ví dụ như việc Nhật Bản sử dụng các giá trị văn hóa truyền

thống của họ vào trong các hoạt động xúc tiến của hội chợ một cách rất thành

công, tạo được thị hiếu và ấn tượng tốt về hàng nông sản của Nhật Bản, một

điển hình là văn hóa ẩm thực của Nhật Bản.

Các biện pháp hỗ trợ về tín dụng và tư vấn XK cho DNXK:

Chính phủ Nhật Bản thành lập ngân hàng XK, nay là EXIMBANK để hỗ

trợ tín dụng cho cho những dự án XK có kim ngạch lớn...Hàng năm, hội nghị

tham vấn cấp cao bàn về XK (gồm đại diện của chính phủ và giới kinh doanh,

giới học giả...) được tổ chức bàn về mục tiêu XK cho năm tới và thảo luận các

biện pháp hỗ trợ DNXK cụ thể.

Nhật Bản còn áp dụng biện pháp khuyến khích XK bằng cách đưa ra các

tiêu chuẩn cơng nhận các DN có nhiều cống hiến cho XK. Hàng năm kiểm

điểm, đánh giá kết quả XK để biểu dương, tặng thưởng bằng biện pháp cấp tín

dụng với lãi suất thấp và miễn giảm thuế đặc biệt cho các DN này.

Nhật Bản tăng cường viện trợ kinh tế cho Đông Nam Á và là nước viện trợ

chính cho Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan vượt xa cả Mỹ. Viện

trợ của Nhật Bản đã tạo thuận lợi cho việc XK của Nhật Bản và thúc đẩy

mạnh việc buôn bán của Nhật Bản với khu vực này, cũng như nhiều khu vực



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



17



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



khác trên thế giới, đây là những hoạt động nằm trong khuôn khổ XTXK của

Nhật Bản.

Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực:

Nhật Bản có một hệ thống chương trình đào tạo XTTM rất bài bản, theo

đúng tiêu chuẩn quốc tế. Các DNXK cũng như các cơ quan XTTM chuyên

trách của Nhật Bản đa số đều hiểu và nắm rõ những kiến thức kinh nghiệm về

XTTM thu thập được, từ đó áp dụng hiệu quả vào thực tế.

Thực hiện tốt đạo đức kinh doanh đi liền với xúc tiến xuất khẩu:

Nhật Bản có một chính sách kiểm tra chất lượng hàng XK rất khắt khe

nhằm không cho hàng kém phẩm chất lọt ra thị trường bên ngoài để giữ uy

tín. Chính việc kiểm tra chặt chẽ chất lượng hàng XK cũng như những cam

kết của Nhật Bản đã làm cho những nhà NK tin tưởng vào hàng của Nhật và

góp phần thúc đẩy việc tăng XK của nước này.

Cơng tác và chương trình khách hàng được thực hiện nghiêm túc, trách

nhiệm, trước, trong và sau khi bán hàng XK với nhiều ưu đãi về giá cả và giao

dịch lâu dài.

b. Về hạn chế

Nền kinh tế Nhật trong hai thập kỷ gần đây chững lại, thậm chí có dấu hiệu

đi xuống, hoạt động thương mại xúc tiến cũng theo đó, tuy vẫn duy trì, nhưng

chưa có nhiều sáng kiến hay đột biến mới như trước đây. Việc đồng Yên liên

tục tăng giá, đặc biệt là so với đồng USD cũng là một điều khơng có lợi cho

XK của Nhật Bản, vì khi đó giá hàng hóa XK của hàng hóa Nhật Bản sẽ trở

nên đắt tương đối, do bắt nguồn một phần từ chi phí cho quảng bá, xúc tiến và

dịch vụ ban đầu tăng.

Nhật đang mắc phải sự cạnh tranh của nhiều quốc gia ở nhiều lĩnh vực

hàng nơng sản của họ, đó là Trung Quốc, Hàn Quốc. Rõ ràng, hàng nông sản

của Nhật đắt và chất lượng hơn, nhưng chính điều đó có thể khiến họ bị mất

thị trường ở các nước nghèo, hoặc trong các bối cảnh khủng hoảng, lạm phát

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



18



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



và giá dầu leo thang càng làm cho chi phí sản xuất tăng cao như hiện nay, đi

kèm với đó là cắt giảm nhu cầu chi tiêu. Chi phí phục vụ cho xúc tiến, quảng

bá, đặc biệt ở những nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản vốn đã cao,

nay lại tăng thêm.

Hoạt động xúc tiến, như con dao hai lưỡi, nó có thể đem lại cho hàng XK

những mối lợi nhuận lớn, quảng bá sản phẩm và đưa đến với công chúng,

nhưng cùng với đó là nguy cơ bị lợi dụng thương hiệu và bị làm giả, chịu thiệt

hại vô cùng to lớn. Hàng hóa XK của Nhật cũng là một trong những hàng hóa

bị làm giả nhiều nhất trên thế giới. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến doanh

thu và lợi nhuận, mà nguy hiểm hơn còn ảnh hưởng đến uy tín trên thương

trường quốc tế.

Ngoài ra hoạt động XTTM của Nhật Bản tuy vẫn duy trì hiệu quả ở các thị

trường truyền thống, thì ở những thị trường mới tiềm năng, lại chưa thấy được

sự đột phá đáng kể nào, về khoản này Nhật Bản đã bị Trung Quốc vượt mặt.

1.2.1.3. Thái Lan

a. Về những thành tựu:

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống, với 60% tham gia

vào lao động trong nông nghiệp cả nước. Nền nông nghiệp Thái Lan và cả bộ

máy thương mại vận hành theo đó vẫn ln qua giữ vai trò quan trọng, góp

phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản XK trên

quốc tế.

Tập trung phát triển các ngành, mặt hàng mũi nhọn:

Cụ thể, Thái lan đã tập trung phát triển lĩnh vực như sản xuất và XK hàng

nông sản( gạo, hoa quả), thủy hải sản phục vụ XK, Công nghiệp chế biến

nông sản cho XK.

Tiêu biểu là ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan, đã và

đang phát triển rất mạnh. Chính phủ Thái Lan khuyến khích và XT đầu tư, thu

hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất



Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



19



Xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sau khi gia nhập WTO



trong nước để phát triển ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua

việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh.

Tái cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu và nâng cao chất lượng:

Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội thời kỳ 2000 - 2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ

Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của

12 mặt hàng nơng sản chính, trong đó có tập trung vào các các mặt hàng: gạo,

hoa quả, hải sản. Những lĩnh vực này được ngày càng được tập trung thực

hiện, đi đơi với đó là sự trợ giúp hồn thiện của ngành Công nghiệp chế biến

được đầu tư mạnh của Thái Lan, đã tạo nên sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng

nông sản Thái Lan.

Công tác đảm bảo vệ sinh an tồn thực phẩm được chú trọng:

Chính phủ Thái Lan thường xuyên tổ chức thực hiện và trợ giúp cho các

chương trình quảng bá VSATTP. Ví dụ như chương trình “Năm an toàn thực

phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới”. Mục đích chương trình này là

khuyến khích các nhà chế biến và nơng dân có hành động kiểm soát chất

lượng vệ sinh thực phẩm để đảm bảo an tồn cho người tiêu dùng. Bên cạnh

đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng

VSATTP. Và đặc biệt là, những hoạt động, công tác tổ chức thực hiện này

được đầu tư quảng bá rộng rãi trên nhiều phương diện: truyền thông, công

nghệ thông tin, quảng cáo văn hóa, du lịch…..Do đó, ngày nay, thực phẩm

chế biến của Thái Lan đã thành công ở các thị trường khó tính như: Hoa Kỳ,

Nhật Bản và EU.

Các hoạt động trợ giúp tích cực từ Chính phủ Thái Lan:

Bên cạnh ký FTA với các nước, Chính phủ Thái Lan còn là người đại diện

thương lượng với Chính phủ các nước để tiếp cận các thị trường XK này,

nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp tận dụng lợi thế cũng như đạt được lợi thế

cạnh tranh trong XK hàng nông sản.

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng

Sinh viên thực hiện: Phan Duy Hùng

Lớp: Kinh tế quốc tế 49A



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: Giới thiệu cơ sở thực tập và kinh nghiệm quốc tế trong xúc tiến xuất khẩu hàng nông sản

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×