Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Phát triển cho vay tiêu dùng của NHTM

3 Phát triển cho vay tiêu dùng của NHTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

khi trừ đi các chi phí sẽ được lợi nhuận, lợi nhuận dùng để chia cổ tức và bổ sung vào

nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng, qua đó làm tăng giá trị vốn chủ sở hữu.

Ngoài mục tiêu cuối cùng là gia tăng giá trị vốn chủ sở hữu, NHTM còn có

những mục tiêu trung gian khi thực hiện chiến lược phát triển cho vay tiêu dùng

Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn

Cho vay tiêu dùng là hoạt động được phát triển sau so với hoạt động cho vay

sản xuất kinh doanh truyền thống khi mà mức sống của người dân đã được nâng

cao, nhu cầu tiêu dùng lớn. Phát triển cho vay tiêu dùng là nhằm đa dạng hóa sản

phẩm, tránh tập trung quá lớn vào cho vay sản xuất kinh doanh, việc này sẽ làm

giảm rủi ro cho ngân hàng. Trong thời kì kinh tế thu hẹp, sản xuất kinh doanh đình

trệ thì việc cho vay đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn, lúc này nguồn thu từ

cho vay tiêu dùng sẽ làm giảm thiệt hại cho ngân hàng so với khi khơng có hoạt

động kinh doanh này.

Sử dụng hiệu quả nguồn vốn là một trong những điều kiện để gia tăng lợi

nhuận cho ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng được huy động chủ yếu từ trong

dân cư, vì thế nó phải được sử dụng đúng mục đích, đem lại thu nhập cho ngân

hàng và cho người gửi tiền. Khi cho vay tiêu dùng, ngân hàng đang thực hiện một

hoạt động sinh lợi, nhuông vốn từ dân cư quay trở lại phục vụ dân cư. Nó sẽ trở nên

hiệu quả khi cân bằng được lợi ích của người gửi tiền là lãi , của ngân hàng là lợi

nhuận và lợi ích tiêu dùng của người tiêu dùng.

Tăng cường năng lực cạnh tranh

Với đặc điểm của các khoản vay tiêu dùng là giá trị nhỏ, lãi suất cao đem lại

thu nhập lớn, cho vay tiêu dùng trở thành một công cụ làm tăng năng lực cạnh tranh

của các NHTM.

Đối với các ngân hàng nhỏ, quy mô vốn bé, gặp hạn chế trong cho vay các

món vay lớn phục vụ các khách hàng doanh nghiệp thì cho vay tiêu dùng trở thành

một hoạt động quan trọng nhất, đem lại nhiều lợi nhuận nhất. Việc tập trung vào

hoạt động cho vay này sẽ tạo ra một sản phẩm chất lượng, làm hài lòng người tiêu

dùng, và tăng thu nhập từ lãi suất cao. Tăng cường hoạt động cho vay đối với các

khách hàng cá nhân, hộ gia đình sẽ trở thành một lợi thế so với các ngân hàng có

quy mơ vốn lớn và giúp các ngân hàng nhỏ tồn tại được trong môi trường cạnh

tranh gay gắt.



25



Do điều kiện sống ngày càng cao, dân số tăng nên thị trường cho vay tiêu

dùng rất lớn, các ngân hàng đã và đang tập trung nguồn lực để phát triển tín dụng

tiêu dùng để gia tăng thu nhập và khả năng cạnh tranh của mình.

Phát triển mối quan hệ với khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân

Khi cá nhân hay hộ gia đình đến ngân hàng vay tiền, ngân hàng sẽ có

thơng tin về họ; hai bên sẽ có sự ràng buộc về lợi ích: ngân hàng thu được lãi,

người tiêu dùng sẽ nâng cao chất lượng đời sống của mình. Nâng cao chất lượng

của sản phẩm cũng như thái độ của nhân viên sẽ giúp ngân hàng tạo được các

mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với khách hàng, khiến họ trở thành các khách hàng

truyền thống của ngân hàng.

Cho vay tiêu dùng không những phát triển được mối quan hệ với các cá nhân

mà còn gián tiếp tạo được quan hệ lợi ích với các doanh nghiệp. Người tiêu dùng sẽ

dùng vốn vay được để mua sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp. Như vậy, ngân

hàng đã gián tiếp thúc đẩy số lượng hàng bán ra của các doanh nghiệp. Hơn nữa,

qua việc liên kết với các doanh nghiệp, ngân hàng sẽ đảm bảo được các khoản vay

được sử dụng đúng mục đích giúp giảm rủi ro đạo đức trong tín dụng. Bên cạnh đó,

tạo được mối quan hệ tốt với các doanh nghiệp sẽ giúp ngân hàng nâng cao được vị

thế, hình ảnh của mình và các doanh nghiệp cũng sẽ có thể trở thành khách hàng

của ngân hàng.

Thực hiện vai trò của NHTM trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia

Các tổ chức tài chính đóng góp một vai trò rất quan trọng đối với sự phát

triển kinh tế của mỗi quốc gia. Qua các trung gian tài chính, nguồn vốn của xã hội

sẽ được luân chuyển từ những người dư thừa, nhàn rỗi vốn sang những người cần

vốn để sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Trong các trung gian tài chính thì NHTM

đóng vai trò quan trọng nhất, là kênh dẫn vốn chủ yếu của nền kinh tế. Các ngân

hàng sẽ thu hút các nguồn vốn từ những người gửi tiền và các nguồn khác rồi tiến

hành cho vay phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao mức sống dân cư.

Vai trò của các NHTM càng quan trọng hơn đối với các nước đang phát triển khi

chưa có thị trường chứng khốn hồn thiện. Vì thế, trong chiến lược phát triển kinh

tế của mỗi quốc gia, phát triển thị trường tài chính, trong đó các trung gian tài chính

– ngân hàng thương mại- luôn được đặt ra hàng đầu.

Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng trong các NHTM ngòai mục tiêu tăng

giá trị vốn chủ sở hữu còn là để thực hiện vai trò của một trung gian tài chính trong

26



nền kinh tế thị trường là biến tiết kiệm thành đầu tư. Khác với cho vay sản xuất kinh

doanh, vốn vay sẽ trự tiếp đi vào quá trình sản xuất, cho vay tiêu dùng sẽ làm tăng

tổng mức tiêu dùng của nền kinh tế, qua đó làm cho các doanh nghiệp tăng cường

đầu tư, sản xuất kinh doanh để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Như vậy, vốn

từ người gửi tiền qua ngân hàng đến tay người tiêu dùng, sau đó đi đến các doanh

nghiệp. Q trình này làm tăng tổng tiêu dùng của xã hội, đồng thời làm tăng vốn

đầu tư của nền kinh tế, điều kiện hàng đầu cho sự phát triển kinh tế của quốc gia.

Phát triển cho vay tiêu dùng cũng góp phần hạn chế các hoạt động không

lành mạnh. Các tệ nạn như cầm đồ, cho vay nặng lãi… tồn tại trong các nền kinh tế

mà thị trường tài chính chưa phát triển.

Như vậy, phát triển cho vay tiêu dùng trong các NHTM là một hoạt động có

ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, không những đem

lại lợi nhuận cho chính ngân hàng mà còn góp phần xây dựng và phát triển xã hội

tiêu dùng.



1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển cho vay tiêu dùng tại NHTM

Để đo lường sự phát triển của hoạt động cho vay tiêu dùng trong các NHTM,

chúng ta sử dụng một số chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả hoạt động, mức độ phát

triển của loại hình tín dụng này.



1.3.2.1 Tốc độ tăng doanh số cho vay tiêu dùng

Doanh số cho vay tiêu dùng là tổng lượng tiền mà ngân hàng cho khách hàng

vay trong thời gian nhất định, thường là một năm. Sự phát triển của cho vay tiêu

dùng được đo lường trên quy mô của doanh số cho vay tiêu dùng và sự gia tăng của

nó theo thời gian. Quy mô cho vay tiêu dùng càng lớn, tốc độ tăng doanh số càng

cao thì chứng tỏ hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng càng phát triển. Ngoài

ra, phải xem xét tỷ trọng của doanh số cho vay tiêu dùng trên tổng doanh số cho vay

của cả ngân hàng. Tỷ trọng này cho thấy sự gia tăng tương đối của cho vay tiêu

dùng so với các loại hình tín dụng khác của ngân hàng.

Tuy nhiên, doanh số cho vay tiêu dùng mới chỉ phản ánh sự phát triển về

lượng, chưa phản ánh được chất lượng của hoạt động này. Mục tiêu của ngân hàng

là phải thu được gốc và lãi của khoản vay, vì thế sự gia tăng của doanh số cho vay

phải đi kèm với sự tăng trưởng của doanh số thu hồi nợ. Doanh số thu hồi nợ phải



27



có tốc độ tăng tương đương hoặc lớn hơn tốc độ tăng của doanh số cho vay mới

đảm bảo được hiệu quả của cho vay tiêu dùng.



1.3.2.2



Tốc độ tăng dư nợ cho vay tiêu dùng



Dư nợ cho vay là số tiền khách hàng nợ ngân hàng tại một thời điểm, nó

phản ánh lượng tiền mà ngân hàng chưa thu hồi được.

Sự phát triển của dư nợ cho vay tiêu dùng có thể được phản ánh theo số

tuyệt đối hoặc tương đối. Tốc độ tăng tuyệt đối là sự gia tăng của dư nợ cho vay

theo thời gian, thường lấy chỉ tiêu dư nợ vào thời điểm cuối năm. Dư nợ cho vay

tiêu dùng càng tăng từ năm này qua năm khác, phản ánh sự phát triển về lượng của

cho vay tiêu dùng. Không chỉ đánh giá sự gia tăng dư nợ cho vay theo thời gian mà

còn phải xem xét nó trong mối tương quan với tổng dư nợ của cả ngân hàng tại thời

điểm phân tích. Nếu tốc độ tăng tổng dư nợ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của dư nợ

cho vay tiêu dùng chứng tỏ sự phát triển của hoạt động cho vay tiêu dùng chưa theo

kịp sự phát triển của các loại hình tín dụng khác. Vì vậy, khi đánh giá sự gia tăng

của dư nợ cho vay tiêu dùng phải đánh giá nó trong mối quan hệ với sự gia tăng của

các hoạt động khác của ngân hàng.



1.3.2.3



Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng



Nợ quá hạn là khoản nợ đến thời điểm hoàn trả của khách hàng mà ngân

hàng vẫn chưa thu hồi được, đây là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của

ngân hàng. Cơng thức:

Tỷ lệ nợ q hạn = Dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ

Khi ngân hàng chuyển nợ quá hạn nghĩa là rủi ro không thu hồi được nợ gốc

và lãi của ngân hàng đã tăng lên và có thể dẫn đến mất vốn. Nợ quá hạn nhiều phản

ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng không tốt, chứa đựng nhiều rủi ro trong hoạt

động kinh doanh. Ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ sự phát triển an toàn và

ổn định của hoạt động này. Sự phát triển cho vay tiêu dùng không chỉ là sự gia tăng

về số lượng mà còn phải đi cùng với chất lượng của các khoản vay, nghĩa là các

khoản vay tiêu dùng phải thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng của người vay và ngân

hàng thu được hết nợ gốc và lãi vào cuối thời hạn trả nợ. Vì thế, các ngân hàng khi

phát triển hoạt động tín dụng này phải ln chú trọng đảm bảo an toàn cho các

khoản vay tiêu dùng để hạn chế tới mức thấp nhất tỷ lệ này.



1.3.2.4



Sự đa dạng trong các sản phẩm cho vay tiêu dùng

28



Đa dạng hóa sản phẩm là một trong những chiến lược Marketing đúng đắn

của bất kì doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường, nhằm tránh rủi ro và đa

dạng hóa lợi nhuận. Các ngân hàng cũng vậy, ln tìm cách tạo ra những sản phẩm

mới nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng và gia tăng lợi nhuận. Một ngân

hàng có hoạt động cho vay tiêu dùng phát triển khi mà sản phẩm cho vay tiêu dùng

phong phú và đa dạng. Càng nhiều sản phẩm có nghĩa là khả năng đáp ứng nhu cầu

tiêu dùng của khách hàng càng cao.



1.3.2.5



Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng



Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp nhất phản ánh sự phát triển cho vay tiêu dùng

trong NHTM. Lợi nhuận của hoạt động cho vay tiêu dùng được tính bằng cách lấy

doanh thu trừ đi chi phí, lợi nhuận này càng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng tiêu

dùng của ngân hàng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. tuy nhiên, ngoài xem

xét sự tăng trưởng theo thời gian của chỉ tiêu lợi nhuận, còn phải đánh giá tỷ trọng

đóng góp từ hoạt động cho vay tiêu dùng vào lợi nhuận của cả ngân hàng. Từ đó

phân tích vai trò quan trọng của phát triển cho vay tiêu dùng đối với NHTM.

Phát triển cho vay tiêu dùng có thể trong ngắn hạn khơng vì mục đích lợi

nhuận như giữ thị trường, tăng cạnh tranh; nhưng trong dài hạn, nó phải mang lại

lợi nhuận cho ngân hàng. Một lợi nhuận cao là minh chứng rõ ràng nhất để đánh giá

sự phát triển của cho vay tiêu dùng cả về số lượng và chất lượng.



1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay tiêu dùng của NHTM

Cũng như các hoạt động khác, cho vay tiêu dùng luôn chịu sự chi phối của

các nhân tố khách quan lẫn chủ quan. Do đó, NHTM muốn phát triển nghiệp vụ này

thì cần phải nghiên cứu kĩ các nhân tố ảnh hưởng nhằm xây dựng các chiến lược

phù hợp cho ngân hàng mình.



1.3.3.1 Nhân tố khách quan

Thị trường cho vay tiêu dùng

Thị trường cho vay tiêu dùng tổng hợp từ nhiều yếu tố, bao gồm: quy mô

dân số, sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, sự cạnh tranh và các yếu tố khác.

Mỗi yếu tố khác nhau sẽ có tác động khác nhau tới hoạt động cho vay tiêu dùng

của các NHTM.

Quy mô dân cư càng lớn thì tổng nhu cầu tiêu dùng càng cao, số người tìm

đến ngân hàng để thỏa mãn nhu cầu đó càng nhiều. Ngân hàng sẽ dễ dàng phát triển



29



cho vay tiêu dùng tại các địa điểm dân cư sinh sống. Tuy nhiên, quy mô dân cư lớn

mới chỉ phản ánh nhu cầu tiêu dùng tiềm năng, chưa phản ánh được nhu cầu tiêu

dùng có thể thanh tốn, đó chính là mức sống của dân cư, hay là sự phát triển kinh

tế. Người tiêu dùng phải có mức sống khá mới có thể có khả năng chi trả các khoản

nợ và lãi cho ngân hàng. Vì vậy, điều kiện đủ để phát triển cho vay tiêu dùng là khi

nền kinh tế phát triển, mức sống người dân cao, người dân sẵn sàng vay và có khả

năng trả nợ.

Các yếu tố thuộc văn hóa – xã hội như: tập quán xã hội, tâm lí tiêu dùng,

trình độ dân cư… cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới cho vay tiêu dùng của

NHTM, nó là yếu tố vơ hình đẩy nhanh hay hạn chế sự phát triển hoạt động này

trong nền kinh tế. Trong đó, yếu tố tâm lí của các cá nhân và hộ gia đình là yếu tố

đặc biệt quan trọng. Nếu họ có tâm lí thích tiêu dùng và thường chi tiêu vượt quá

khả năng chi trả hiện tại thì họ sẽ có thói quen tìm đến ngân hàng để vay tiền thỏa

mãn nhu cầu tiêu dùng của mình. Ngược lại, nếu các cá nhân và hộ gia đình khơng

sẵn sang chi trả nhiều cho nhu cầu tiêu dùng thì việc phát triển hoạt động này sẽ gặp

nhiều khó khăn. Ngân hàng phải tính đến những rào cản về văn hóa, xã hội để có

những chiến lược phát triển cho vay tiêu dùng phù hợp và hiệu quả.

Bên cạnh đó, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng lớn. Các ngân

hàng luôn cố gắng nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của

khách hàng. Cho vay tiêu dùng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nên các ngân

hàng hiện nay rất chú trọng phát triển hoạt động này khiến sự cạnh tranh trên thị

trường trở nên gay gắt. Trong môi trường cạnh tranh cao như vậy, mỗi ngân hàng

đều cần có chiến lược Marketing hiệu quả; đồng thời đem lại những khác biệt trong

sản phẩm, dịch vụ so với các đối thủ.

Môi trường pháp luật

Môi trường phát luật bao gồm hệ thống luật, hệ thống các biện pháp bảo đảm

cho luật được thực thi và sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể tham

gia hoạt động kinh doanh. Ngân hàng là chủ thể khá đặc biệt của nền kinh tế và có

tầm ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế. Chính vì vậy, tại hầu hết các quốc gia, hoạt động

kinh doanh ngân hàng được Chính phủ đặt dưới một hệ thống các quy định hết sức

chặt chẽ vận hành bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để giảm thiểu rủi ro và

ổn định nền kinh tế. Thông qua các quy định pháp lí của mình, NHNN và Chính

phủ có thể khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động cho vay nói chung và hoạt động



30



cho vay tiêu dùng nói riêng, như: thay đổi chính sách lãi suất, quy chế cho vay,

khuyến khích hay hạn chế mở rộng dư nợ tín dụng, mở rộng hay thắt chặt cho vay

tiêu dùng… Khi mơi trường pháp lí ổn định, hệ thống luật hồn thiện, thống nhất thì

hoạt động cho vay tiêu dùng có cơ hội mở rộng, phát triển. Ngược lại, mơi trường

pháp lí bất ổn, quy định chồng chéo sẽ kìm hãm sự phát triển của cho vay tiêu dùng.



1.3.3.2 Nhân tố chủ quan

Qui mơ vốn tự có và tổng nguồn vốn của NHTM

Vốn tự có là một trong những tiêu chia quan trọng nhất khi đánh giá năng lực

của một NHTM. Vốn tự có càng lớn thì chứng tỏ tiềm lực của ngân hàng càng

mạnh, càng có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển hoạt động kinh doanh, đặc

biệt là trong hoạt động kinh doanh tín dụng. Vốn tự có lớn sẽ dễ dàng xây dựng các

trụ sở, mua sắm trang thiết bị hiện đại và có khả năng tạo ưu thế so với các đối thủ

cạnh tranh. Tuy nhiên, các ngân hàng nhỏ với quy mô vốn bé cũng có thể tập trung

vào phát triển cho vay tiêu dùng vì với lượng vốn điều lệ ít ỏi sẽ không cạnh tranh

được với các ngân hàng lớn khi cho vay các khoản vay lớn. Vốn tự có của ngân

hàng phải đảm bảo theo hệ số CAR (tỷ lệ an tồn vốn tự có tối thiểu trên tổng tài

sản có rủi ro là 9%). Vì thế, khi mở rộng hoạt động kinh doanh, tài sản của ngân

hàng tăng lên thì ngân hàng phải đồng thời tăng vốn tự có của mình một mức tương

ứng. Mở rộng và phát triển cho vay tiêu dùng phải tính đến vốn tự có để đảm bảo

được tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu. Vì thế, muốn phát triển cho vay tiêu dùng, các

NHTM phải luôn chú trọng tới gia tăng vốn điều lệ hay vốn tự có của mình.

Ngồi yếu tố vốn tự có, khi phát triển cho vay tiêu dùng của NHTM còn phải

xem xét đến quy mô tổng nguồn vốn của ngân hàng. Với quy mơ nguồn vốn lớn,

ngân hàng sẽ có thể cho vay với số lượng lớn, đáp ứng được bất kì nhu cầu nào của

khách hàng giúp ngân hàng tạo được danh mục các sản phẩm, dịch vụ cho vay đa

dạng, phong phú. Khả năng huy động vốn cũng là một yếu tố quan trọng, nó phải

đáp ứng được nhu cầu cho vay với quy mô lớn tại bất kì thời điểm nào. Ngân hàng

nào có khả năng huy động nguồn vốn rẻ, nhanh, lớn sẽ dễ dàng mở rộng hoạt động

cho vay tiêu dùng, tạo nên các lợi thế cạnh tranh so với các ngân hàng khác.

Như vậy, ngân hàng nào có quy mơ vốn tự có và tổng nguồn vốn lớn, ngân

hàng đó sẽ có nhiều thuận lợi trong việc đề ra và thực hiện các chiến lược phát triển

hoạt động cho vay tiêu dùng so với các ngân hàng khác.



31



Chính sách tín dụng của ngân hàng

Chính sách tín dụng là những nguyên tắc, phương pháp chỉ đạo được ngân

hàng thiết lập để cụ thể hóa mục tiêu, chiến lược nhằm thúc đấy công việc theo mục

tiêu đề ra. Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố như hạn mức tín dụng, kì hạn,

lãi suất, mức phí, các loại cho vay, phương thức cho vay, chính sách đảm bảo khả

năng thanh toán của khách hàng, … Tất cả các yếu tố này đều tác động trực tiếp tới

việc thực thi chiến lược của ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lí,

linh hoạt sẽ đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng. Ngược lại, nếu chính

sách tín dụng ngân hàng đưa ra cứng nhắc, áp đặt, không đáp ứng được nhu cầu đa

dạng về vốn của khách hàng thì nó sẽ là rào cản trong quá trình thực thi chiến lược

của ngân hàng.

Nguồn nhân lực

Đặc điểm của hoạt động cho vay tiêu dùng là đòi hỏi nguồn nhân lực lớn cả

về số lượng lẫn chất lượng. Do vậy, đây là một yếu tố không thể thiếu trong chiến

lược phát triển cho vay tiêu dùng đối với các ngân hàng. Nguồn nhân lực có trình độ

cao là lợi thế trong cạnh tranh của mỗi ngân hàng vì nó có thể tăng cường khả năng

thu hút khách hàng, nâng cao vị thế của ngân hàng, giảm rủi ro trong cho vay tiêu

dùng. Nếu ngân hàng có một nguồn nhân lực yếu kém sẽ gặp rất nhiều khó khăn

trong việc mở rộng cho vay đối với người tiêu dùng. Bằng việc tuyển những nhân

viên giỏi và tổ chức những chương trình đào tạo, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ cho

các nhân viên thường xuyên, liên tục, NHTM sẽ tạo ra được một nền tảng vững

chắc để phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng.

Trình độ cơng nghệ và quản lí

Trong hoạt động ngân hàng, cơng nghệ và trình độ quản lí đóng vai trò quan

trọng. Công nghệ của ngân hàng là các phần mềm và phần cứng của thiết bị thông

tin được dùng trong ngân hàng như máy tính, máy ATM,POS giúp cho các ngân

hàng đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, bảo mật thơng tin cho khách

hàng tốt hơn. Trình độ quản lí thể hiện trong việc điều hành, kiểm tra, kiểm soát các

hoạt động của ngân hàng; khả năng quản lí tốt sẽ giúp các ngân hàng hoạt động có

hiệu quả, đạt được các mục tiêu về lợi nhuận.

Khi đặt ra chiến lược phát triển cho vay tiêu dùng, các ngân hàng phải quan

tâm tới cơng nghệ và trình độ quản lí của mình. Ngân hàng có trình độ cơng nghệ và

quản lí hiện đại là yếu tố thúc đẩy phát triển cho vay tiêu dùng: rút ngắn thời gian

32



cho vay đối với các cá nhân, tạo được uy tín, sự tin tưởng đối với khách hàng… qua

đó làm tăng doanh số cho vay, gia tăng lợi nhuận. Khi đề ra chiến lược phát triển,

ngân hàng phải đánh giá lại trình độ cơng nghệ và quản lí của mình ở mức nào khi

so sánh với các ngân hàng cạnh tranh và trình độ phát triển cơng nghệ ngân hàng

trên thế giới. Các ngân hàng phải phát triển công nghệ và nâng cao năng lực quản lí

để có thể dành chiến thắng trong thị trường đem lại nhiều lợi nhuận, thị trường cho

vay đối với người tiêu dùng.

Địa điểm và uy tín của ngân hàng

Ngày nay, khi các ngân hàng thành lập ngày càng nhiều thì vấn đề tiện lợi

trong quá trình sử dụng dịch vụ được khách hàng đặc biệt quan tâm. Khách hàng

ln muốn tìm sự thuận lợi nhất cho mình, vì thế họ sẽ tìm đến ngân hàng nào gần

nhất có thể. Bởi vậy, các chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng được đặt ở

trung tâm, đông dân cư sẽ là lợi thế lớn để ngân hàng thu hút nguồn tiền gửi tiết

kiệm và phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng.

Bên cạnh đó, uy tín của ngân hàng cũng là yếu tố quan trọng. Uy tín là hình

ảnh, là tài sản vơ hình của ngân hàng. Dù là ngân hàng lớn hay nhỏ thì uy tín của

ngân hàng cũng là một trong những tiêu chí cho khách hàng lựa chọn nơi đầu tư và

vay vốn. Ảnh hưởng của uy tín có thể thấy qua ví dụ sau: Trong lĩnh vực ngân hàng,

ACB được đánh giá là ngân hàng có chất lượng dịch vụ tốt nhất tại Việt Nam năm

2008.Sau khi xảy ra sự cố năm 2004, ACB đã có một cuộc cải tổ về cơ cấu tổ chức

hoạt động, xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu, hình ảnh thương hiệu thể

hiện được sự tín nhiệm đối với khách hàng. Nhờ đó, lợi nhuận trước thuế của tập

đoàn ACB năm 2008 đạt 2556 tỷ đồng, vượt 56 tỷ đồng so với kế hoạch. Năm 2008

cũng là năm ACB được Chủ tịch nước trao tặng huân chương lao động hạng II,

nhận cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ và được tạp chí Euromoney (tạp chí tài

chính hàng đầu thế giới) bình chọn là Ngân hàng tốt nhất Việt Nam.



CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG

CHI NHÁNH HÀ NỘI



33



2.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh

Hà Nội (VPBank – Hà Nội)

2.1.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của VPBank – Hà nội

2.1.1.1 Lịch sử hình thành VPBank – Hà nội

Căn cứ vào tình hình phát triển của các ngân hàng và chiến lược mở rộng

quy mô mạng lưới chi nhánh hoạt động của tập thể Ban lãnh đạo điều hành

VPBank, Tổng giám đốc đã kí quyết định thành lập chi nhánh Hà Nội theo công văn

chấp thuận số 1128/NHNN-CNH ngày 06/10/2004 và chi nhánh chính thức đi vào

hoạt động từ ngày 04/01/2005.

Chi nhánh hoạt động dựaBAN

trên sự

kế thừa

toàn bộ bộ máy, cơ cấu hoạt động

GIÁM

ĐỐC

cũng như thị trường từ Hội sở trước đây vì chi nhánh được tách trực tiếp từ bộ phận

kinh doanh của Hội sở. Điều này tạo ra những thuận lợi cho chi nhánh trong quá

trình hoạt động so với các chi nhánh thành lập mới khác trong cùng hệ thống. Sau

một năm hoạt động, chi nhánh đã kinh doanh có hiệu quả và có lợi nhuận cao nhất

CN Trần H ưng Đ ạo

PHỊNG GIAO DỊCH

trong tồn hệ thống, ln dẫn đầu về vốn huy động và cho vay. Với

kếtQUỸ

quả kinh

KHO

doanh đó, chi nhánh Hà Nội ngày càng vững bước đi lên, quyết tâm hoàn thành các

kế hoạchCN

kinh

Cátdoanh

Linh đề ra trong ngắn hạn và thực hiện chiến lược dài hạn của cả hệ

thống VPBank là trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu cả nước.



2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của VPBank – Hà Nội

PGD Tràng An



Sơ đồ tổ chức:



PHÒNG A/O DOANH NGHIỆP



Chi nhánh Hà Nội là chi nhánh cấp 1 của VPBank, có cơ cấu như sau:



PGD Trần Xuân Soạn



-



4 phòng ban trực thuộc và 1 ban quản lí tín dụng; 10 chi nhánh và phòng

giao dịch trực thuộc



PGD n Phụ



-



Tồn bộ chi nhánh có trên 300 nhân viên, đa số trình độ PHỊNG

là đại học

và trên

A/O



NHÂN

đại học.



PGD Đội Cấn



Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức VPBANK – Hà Nội

PGD Tôn Đức Thắng

BAN QUẢN LÍ TÍN DỤNG



PGD Khâm Thiên



PGD Thuỵ Kh



34

PGD Linh Đàm



PHỊNG HÀNH CHÍNH TỔ

CHỨC



Chức năng của các phòng ban:

Ban giám đốc: gồm một giám đốc và hai phó giám đốc,có nhiệm vụ điều

hành hoạt động hàng ngày của cả chi nhánh, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc

và Hội đồng quản trị. Ban giám đốc phải kiểm tra, đơn đốc, xử lí các hoạt động của

các phòng ban và các phòng giao dịch để đảm bảo chi nhánh hoạt động hiệu quả.

Đồng thời, xây dựng các chính sách, quy chế, quy trình, các chỉ tiêu, kế hoạch áp



35



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Phát triển cho vay tiêu dùng của NHTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x