Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Cho vay tiêu dùng tại NHTM

2 Cho vay tiêu dùng tại NHTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

quan hệ này, ngân hàng thấy được nhu cầu tín dụng theo hình thức này từ cả phía

người sản xuất lẫn người tiêu dùng. Các nhà sản xuất cần có sự hỗ trợ để gia tăng

tiêu thụ hàng hóa, còn người tiêu dùng cần tìm nguồn tài trợ cho các nhu cầu mà

hiện tại sự tích lũy của họ chưa đáp ứng được.

Ngày nay, cho vay tiêu dùng đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều cơng ty chun

mơn hóa đã tìm kiếm nhiều dạng dịch vụ khác nhau và hiện đang mở rộng dần ra,

phù hợp với việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ. Lĩnh vực này cũng khơng

còn chỉ do ngân hàng và các cơng ty tài chính thực hiện nữa, mà các cơng ty bảo

hiểm, cơng ty chứng khoán… cùng tham gia cung cấp dịch vụ này.

Tại Việt Nam, cho vay tiêu dùng của NHTM đã phát triển vào những năm

1993-1994, thời gian đầu tập trung nhiều vào cho vay trả góp, các sản phẩm cung

ứng còn rất đơn điệu. Tuy nhiên, do chưa có hành lang pháp lí rõ rang nên hoạt

động được một thời gian, các ngân hàng tỏ ra rất lung túng trong việc cấp tín dụng

theo hình thức này.

Hiện nay, khi một số văn bản pháp luật hướng dẫn đã ra đời thì lĩnh vực cho

vay tiêu dùng ở nước ta lại đang trong xu thế rộ lên, nó đang được xem là thị trường

tiềm năng lớn và có nhiều điều kiện phát triển mạnh cho các NHTM tại Việt Nam.

Tuy nhiên, các ngân hàng phải chịu sự cạnh tranh lớn vì đây là một thị trường mang

lại nhiều lợi nhuận thu hút không chỉ tất cả các ngân hàng tham gia mà còn hấp dẫn

các tổ chức tài chính khác. Hoạt động của các tổ chức tài chính này cũng tương tự

như NHTM: huy đông các nguồn vốn dài hạn và ngắn hạn để cho vay. Tuy nhiên,

các NHTM là các tổ chức hoạt động hiệu quả nhất vì tính chun mơn hóa trong

hoạt động tín dụng: nguồn vốn lớn, hoạt động chuyên nghiệp và có lịch sử phát

triển hoạt động cho vay lâu dài.

Hiện nay, đến bất cứ NHTM nào, các cá nhân và hộ gia đình có thể vay tiền

với nhiều mục đích tiêu dùng khác nhau như mua nhà, mua ơ tơ, chi trả các khoản

phí và tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Cho

vay tiêu dùng của NHTM là hoạt động góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống,

thúc đấy sản xuất kinh doanh phát triển, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của

mỗi quốc gia.



1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng



14



1.2.2.1



Khái niệm cho vay tiêu dùng



Cho vay tiêu dùng được định nghĩa như sau: “Cho vay tiêu dùng là sản phẩm

tín dụng hỗ trợ nguồn tài chính cho các nhu cầu mua sắm vật dụng gia đình, sửa

chữa nhà ở, sửa xe cơ giới, làm kinh tế hộ gia đình, thanh tốn học phí, đi du lịch,

chữa bệnh,… và các nhu cầu thiết yếu khác trong cuộc sống”. (Theo

nganhangonline.com).

Cũng có thể định nghĩa: “ Cho vay tiêu dùng là nghiệp vụ trong đó ngân

hàng là người cho vay, người đi vay là các cá nhân, hộ gia đình trên ngun tắc

hồn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định nhằm giúp người tiêu

dùng sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho

họ được hưởng mức sống cao hơn”.

Định nghĩa về cho vay tiêu dùng có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản là

giống nhau, cùng đề cập đến mục đích của loại hình cho vay này: cho vay tiêu dùng

là để phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình, những

người có nhu cầu nâng cao mức sống nhưng chưa có khả năng chi trả trong hiện tại.

Ngân hàng phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu của khách

hàng và thu được gốc cùng lợi nhuận từ khoản vay.



1.2.2.2



Đặc điểm của cho vay tiêu dùng



Cho vay tiêu dùng của NHTM có nhiều đặc điểm khác nhau . Tuy nhiên, để

phân biệt với các loại hình cho vay khác, chúng ta có thể xét trên một số mặt sau:

Về khách hàng:

- Cho vay tiêu dùng có khách hàng mục tiêu là các cá nhân và hộ gia đình có

nhu cầu mua sắm nhà cửa, hàng hóa, vật dụng … nhằm nâng cao mức sống. Như

vậy, đối tượng vay là các cá nhân. Thường thì khách hàng của cho vay tiêu dùng sử

dụng vốn vay vào mục đích tiêu dùng, tuy nhiên nhiều khách hàng có mục đích sử

dụng vốn vào kinh doanh cá thể, hộ gia đình vẫn được xếp vào cho vay tiêu dùng. Ở

đây, ngân hàng đã xem xét đến tính chất cá nhân của khách hàng và giá trị nhỏ của

khoản vay để xác định đối tượng của cho vay tiêu dùng. Dù vậy, mục đích tiêu dùng

vẫn là căn cứ phân loại khách hàng chủ yếu và nó phản ánh được đặc trưng của hoạt

động cho vay này.

- Cho vay tiêu dùng nhạy cảm theo chu kì: Nhu cầu vay của khách hàng

khơng chỉ phụ thuộc vào tình hình tài chính của họ mà còn phụ thuộc vào tình hình

15



kinh tế trong những giai đoạn cụ thể (chu kì kinh tế). Khi nền kinh tế phát triển,

khách hàng lạc quan hơn về thu nhập thì nhu cầu hưởng thụ cuộc sống cũng cao

hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thối thì cho vay tiêu dùng cũng bị thu hẹp và

giảm sút.

- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất cho

vay tiêu dùng. Thông thường, người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán

hàng tháng hơn là lãi suất mà họ phải chịu.

- Mức thu nhập và trình độ học vấn của khách hàng là hai biến số có quan hệ

rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng và hạn mức vay. Những người có mức thu

nhập cao hơn mức bình qn thường có xu hướng vay một mức cao hơn tổng thu

nhập hàng năm của họ. Ngược lại, những người có trình độ học vấn cao (thơng

thường là những người có nhiều năm đào tạo ở bậc trên phổ thông và đồng thời là

trụ cột trong gia đình) thì lại thường quyết định vay tiền trên cơ sở cân nhắc kĩ

lưỡng thu nhập của mình.

- Chất lượng các thơng tin tài chính về khách hàng thường không cao: Hiện

nay, đơn vị duy nhất theo dõi lịch sử tín dụng của các cá nhân và doanh nghiệp vay

vốn là Trung tâm thơng tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước (CIC). Tuy nhiên khả

năng cập nhật của CIC còn chưa cao. Chính vì vậy, ngân hàng thường thiếu thông

tin khi ra quyết định cho vay, hoặc sẽ dẫn đến cho vay chồng chéo trong khi khách

hàng không đủ khả năng trả nợ. Đây vẫn là một hạn chế khó khắc phục đối với

NHTM cũng như các tổ chức tín dụng khác trong khi tư cách của khách hàng lại là

yếu tố rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay.

Về khoản vay:

- Giá trị khoản vay không lớn nhưng số lượng các khoản vay nhiều: với mục

đích đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình nên quy mơ của mỗi

khoản vay tiêu dùng thường nhỏ so với giá trị các khoản vay sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, số lượng các khoản vay tiêu dùng lại rất nhiều do nhu cầu chi tiêu của

con người ngày càng tăng lên với mức độ thường xuyên hơn. Hiện nay, khi nền kinh

tế tăng trưởng ổn định và đời sống người dân được cải thiện thì nhu cầu cho vay

tiêu dùng để nâng cao chất lượng cuộc sống là điều dễ hiểu.

- Chi phí quản lí món vay tiêu dùng lớn: do giá trị mỗi khoản vay thường

không lớn nhưng ngân hàng vẫn phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để thực hiện

16



đầy đủ một quy trình tín dụng. Hơn nữa, với số lượng lớn các khoản vay thì việc

quản lí của NHTM cũng khơng đơn giản. Đây cũng là lí do khiến lãi suất áp dụng

trong cho vay tiêu dùng thường lớn hơn cho vay thương mại.

- Cho vay tiêu dùng có mức độ rủi ro cao: rủi ro trong cho vay tiêu dùng cao

hơn trong kinh doanh. Rủi ro tiêu dùng bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro từ phía

khách hàng. Trong đó, lãi suất cho vay tiêu dùng là lãi suất cứng nhắc trong khi lãi

suất trong cho vay kinh doanh thường áp dụng hiện nay là lãi suất thả nổi được điều

chỉnh theo kì hạn nên khi thị trường có biến động, lãi suất huy động vốn tăng lên,

các ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất khi cho vay tiêu dùng. Hơn nữa, nguồn trả nợ

của khách hàng cho các khoản vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của họ nên nếu

có những nhân tố tác động làm giảm thu nhập thì điều đó cũng làm gia tăng độ rủi

ro cho ngân hàng .

Về lợi nhuận:

Vì cho vay tiêu dùng có lãi suất cao nên đem lại lợi nhuận lớn cho các

NHTM. Đặc biệt là khi nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng, chi tiêu cho tiêu dùng của

người dân ngày càng cao như hiện nay. Các ngân hàng đã xem xét hoạt động cho

vay tiêu dùng là một hoạt động quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao lợi nhuận và

tăng khả năng cạnh tranh của mình.



1.2.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng là hoạt động mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Vai

trò và lợi ích của nó cũng khác nhau ứng với mỗi chủ thể kinh tế khác nhau.

Về phía NHTM:

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, chất lượng cuộc sống ngày

càng được nâng cao khiến con người muốn thỏa mãn cao hơn những nhu cầu của

mình. Điều này khiến cho vay tiêu dùng trở thành một thị trường tiềm năng. Hiện

nay, các ngân hàng đang hưởng tới thị trường này nhờ những lợi ích mà nó mang

lại. Mặc dù các khoản tài trợ theo hình thức cho vay tiêu dùng là nhỏ nhưng với số

lượng các khoản này lại rất lớn (đối tượng của cho vay tiêu dùng là tất cả mọi thành

phần trong xã hội), vì thế, tổng quy mơ là rất lớn. Bên cạnh đó, lãi suất của các

khoản tài trợ theo hình thức này rất cao (do người đi vay theo hình thức này thường

ít quan tâm đến lãi suất mà chỉ quan tâm đến nhu cầu trước mắt) nên mang lại cho

ngân hàng một tỷ suất lợi nhuận tương đối lớn. Đặc biệt, với những ngân hàng có



17



quy mơ nhỏ, uy tín chưa cao hoặc khơng thể đáp ứng được những khoản vay lớn thì

cho vay tiêu dùng là một loại hình rất quan trọng. Tuy còn có nhược điểm là rủi ro

và chi phí cao, nhưng cho vay tiêu dùng mang lại những lợi ích quan trọng là: Giúp

mở rộng mối quan hệ với khách hàng từ đó làm tăng khả năng huy động các loại

tiền gửi cho ngân hàng; Tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh nhờ vậy

nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.

Về phía người đi vay:

Cho vay tiêu dùng đặc biệt có tác dụng với người có thu nhập thấp và trung

bình. Thơng qua nghiệp vụ này, họ sẽ được hưởng các dịch vụ, tiện ích trước khi có

đủ khả năng về tài chính như mua sắm các hàng hóa thiết yếu có giá trị cao (nhà, xe

hơi…) hay trong trường hợp cần chi tiêu cấp bách như nhu cầu y tế, giáo dục… Bất

cứ ai cũng mong muốn được thỏa mãn những nhu cầu của mình từ hàng hóa tất yếu

đến những hàng hóa xa xỉ hơn. Nhưng, với những người trẻ, họ chưa có đủ khả

năng chi trả cho những nhu cầu đó mà phải cần thời gian để tích lũy. Với cho vay

tiêu dùng, người tiêu dùng có thể phối hợp giữa thỏa mãn ở hiện tại và khả năng

thanh toán ở hiện tại và tương lai. Do vậy, người tiêu dùng là người được hưởng

trực tiếp và nhiều nhất lợi ích mà hình thức cho vay này mang lại. Tuy nhiên, cũng

khơng nên lạm dụng cho vay tiêu dùng vì nó có thể làm cho người đi vay chi tiêu

vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai.

Về phía nền kinh tế- xã hội:

Nếu cho vay tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng hóa,

dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế. Tuy nhiên, nếu không được dùng đúng như vậy thì có thể làm giảm khả

năng tiết kiệm trong nước. Cho vay tiêu dùng mang lại những lợi ích sau:

- Đối với doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng kéo nhu cầu tương lai về hiện tại

khiến quy mô sản xuất tăng nhanh; mức độ đổi mới và phong phú về chất lượng

ngày càng lớn. Chính điều này đã làm cho tồn bộ q trình sản xuất, trao đổi, phân

phối, tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, đó chính là nền tảng của tăng

trưởng kinh tế.

- Cho vay tiêu dùng thúc đẩy thành phần tiêu dùng và do đó gia tăng cầu

trong nước, trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội; hạn chế sự phụ thuộc vào cầu

nước ngồi, do đó thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững hơn.



18



AD = C + G + I + X – M

-



Cho vay tiêu dùng góp phần xóa bỏ vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp- tiết



kiệm ít- sản lượng thấp.

-



Cho vay tiêu dùng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và từ đó



lại làm tăng thu nhập, tạo khả năng tăng tiết kiệm, mở rộng cơ hội huy động vốn và

phát triển các dịch vụ ngân hàng của các tổ chức tín dụng.

Như vậy, cho vay tiêu dùng là hoạt động có lợi cho cả người cho vay, người

đi vay và nền kinh tế, hay nói cách khác là có lợi ích, vai trò quan trọng cho xã hội.

Chính vì vậy, phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng là một hướng đi đúng đắn của

các NHTM.



1.2.4 Phân loại cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng được phân loại theo một số căn cứ sau:



1.2.4.1



Căn cứ vào mục đích vay



Theo tiêu chí này, cho vay tiêu dùng được phân thành:

Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu

mua sắm, xây dựng, cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình.

Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải

các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch.



1.2.4.2



Căn cứ vào phương thức hồn trả



Theo căn cứ này, cho vay tiêu dùng bao gồm:

Cho vay tiêu dùng trả góp:

Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gốc và lãi)

cho ngân hàng nhiều lần, theo những thời hạn nhất định trong thời hạn cho vay.

Phương thức này thường áp dụng với các khoản vay có giá trị lớn, hoặc thu nhập

từng định kì của khách hàng vay khơng đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ

vay. Đối với loại vay này, ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề có tính ngun

tắc sau:



19



- Loại tài sản được tài trợ: Thiện chí trả nợ của người vay sẽ tốt hơn nếu

tài sản hình thành từ vốn vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu với họ một cách lâu dài

trong tương lai. Do đó, ngân hàng nên tài trợ cho những tài sản có thời gian sử

dụng lâu bền.

- Số tiền phải trả trước: thông thường ngân hàng yêu cầu khách hàng vay

phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm. Số tiền này gọi là số

tiền trả trước, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước này phải đủ lớn

để: Đủ cho người đi vay có động lực nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu của tài sản

nhằm tăng thiện chí trả nợ; Giúp ngân hàng hạn chế rủi ro trong trường hợp phải

phát mại tài sản vay . Số tiền trả trước là cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

Loại tài sản (tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều và ngược

lại); Thị trường tiêu thụ tài sản đã qua sử dụng (nếu tài sản sau khi sử dụng vẫn dễ

dàng được mua bán, chuyển nhượng thì số tiền trả trước thấp và ngược lại); Năng

lực của người đi vay và Mơi trường kinh tế.

- Chi phí tài trợ: là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc

sử dụng vốn. Chi phí tài trợ phải bù đắp được chi phí huy động vốn, chi phí hoạt

động, bù đắp rủi ro và mang lại lợi nhuận tương xứng cho ngân hàng.

- Điều khoản thanh toán: Khi xác định điều khoản thanh toán cho khoản

vay, ngân hàng cần lưu ý các yếu tố sau: Số tiền thanh tốn mỗi định kì phải phù

hợp với khả năng thu nhập của khách hàng và trong mối tương quan với các

khoản chi tiêu khác của khách hàng; Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp

hơn số tiền tài trợ chưa được thu hồi; Kì hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ

của khách hàng; Thời hạn tài trợ không nên quá dài bởi vì thời hạn tài trợ quá dài

dễ làm giá trị tài sản tài trợ bị giảm mạnh, hơn thế nữa, động lực trả nợ của

khách hàng cũng bị suy giảm.

- Vấn đề phân bổ lãi vay theo thời gian: việc phân bổ có thể được thực hiện

theo định kì gắn liền với các kì thanh tốn, hoặc cũng có thể thực hiện theo quý

hoặc năm tài chính. Tuy nhiên, phân bổ lãi vay theo năm tài chính thường được các

ngân hàng áp dụng hơn.

- Vấn đề trả nợ trước hạn.



20



Cho vay tiêu dùng phi trả góp: tiền vay được khách hàng thanh toán cho

ngân hàng một lần khi đáo hạn. Hình thức cho vay này chỉ phù hợp với những

khoản cho vay có giá trị nhỏ và thời gian ngắn.

Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân

hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại sec được phép

thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng

được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kì,

khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kì một

cách tuần hồn theo một hạn mức tín dụng.



1.2.4.3 Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ

Theo căn cứ này, cho vay tiêu dùng được phân thành:

Tín dụng tiêu dùng trực tiếp: gồm các phương thức:

- Tín dụng trả theo định kì: là phương thức trong đó khách hàng vay và trả

trực tiếp ngân hàng với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được quy định cụ thể khi

cho vay. Hình thức này tạo cho ngân hàng khả năng thanh khoản đều đặn và thích

hợp với cá nhân có thu nhập ổn định và đều đặn.

Việc phát tiền vay có thể phát một lần bằng tiền mặt hoặc chuyển vào tài

khoản tiền gửi cá nhân.

Việc thu nợ có thể thực hiện theo hai phương pháp:

(1) Phương pháp thu nợ gốc đều đặn theo kì hạn, lãi vay được tính theo nợ

gốc còn lại ở đầu mỗi kì hạn.

(2) Phương pháp thu nợ trong số tiền lãi và vốn gốc được thu đều đặn mỗi kì.

- Thẻ tín dụng: là nghiệp vụ tín dụng, trong đó ngân hàng phát hành thẻ cho

những người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mức giới hạn

tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng.

Mỗi thẻ tín dụng có một mức tín dụng nhất định và mức này có thể thay đổi

tùy thuộc nhu cầu và mức độ tín nhiệm của khách hàng.

Thẻ tín dụng có ưu điểm: sử dụng trong thanh tốn tiện lợi và an tồn; Có thể

dùng để rút tiền mặt hoặc chuyển khoản sang tài khoản của ngân hàng khác; Lệ phí

giao dịch thấp và phạm vi hoạt động rộng.



21



Nhược điểm của thẻ tín dụng: chỉ sử dụng phổ biến cho tín dụng tiêu dùng

mà khơng phù hợp với các hoạt động mua bán lớn ( xe hơi…); sử dụng thẻ cũng có

thể có rủi ro nếu bị mất cắp, đánh rơi và đồng thời lộ mã thẻ tín dụng mà khơng kịp

thời báo cho ngân hàng.

Tín dụng tiêu dùng gián tiếp

Đây được hiểu là các hoạt động tín dụng tiêu dùng qua việc ngân hàng mua

các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ

cho người tiêu dùng và như vậy, nó chính là hình thức tài trợ bán trả góp của các

NHTM.

Tín dụng trả góp của các ngân hàng được thực hiện bằng một trong hai cách sau:

- Cách 1: Ngân hàng, người bán hàng và người mua hàng phải thỏa thuận với

nhau về số tiền vay, mức và thời hạn trả dần, sau đó ngân hàng cho người mua hàng

vay phần tiền chưa trả đủ cho người bán hàng để thanh toán cho người bán hàng và

giữ lại quyền sở hữu tài sản cho đến khi người mua trả góp đủ.



Mơ hình 1.1 Tín dụng tiêu dùng gián tiếp (cách 1)



(1)



Ngân hàng



Cơng ty bán lẻ



(4)

(5)



(6)



(2)



(3)



Người tiêu dùng



Trong đó:

(1) Cơng ty bán lẻ kí hợp đồng mua bán nợ với ngân hàng.

(2) Khách hàng kí hợp đồng mua tài sản với ngân hàng (người mua trả trước

20-30% giá trị tài sản).

(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người mua đồng thời giữ lại quyền sở hữu

tài sản.

22



(4) Công ty bán lẻ giao quyền sở hữu tài sản cho ngân hàng thế chấp.

(5) Ngân hàng trả số tiền còn thiếu cho người bán (70-80%).

(6) Người mua trả góp cho ngân hàng theo mức và kì hạn được xác định.

- Cách 2: được thực hiện với thời hạn và mức trả dần tương tự như cách 1

nhưng khác ở một số điểm: người bán giao tài sản và giao sở hữu, người bán và

người mua thực hiện mua bán chịu nên xuất hiện kì phiếu, ngân hàng thực hiện việc

chiết khấu kì phiếu như sau:



Mơ hình 1.2 Tín dụng tiêu dùng gián tiếp (cách 2)



Người mua



(1)



Người bán



(4)

(5)

(2)



(3)



Ngân hàng



Trong đó:

(1) Người mua mua chịu hàng hóa và có kì phiếu cho người bán .

(2) Người mua kí quỹ 20- 30% giá trị tài sản và cam kết thế chấp tài sản.

(3) Ngân hàng chiết khấu kì phiếu từ người bán hàng.

(4) Người bán giao tài sản và quyền sở hữu cho người mua.

(5) Người mua tiến hành trả góp cho ngân hàng theo mức và kì hạn xác định.

Tín dụng trả góp đem lại những ưu điểm lớn, đó là:

-



Việc mua phiếu bán hàng sẽ ít tốn kém hơn so với chi phí xét duyệt cho



vay trực tiếp.



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Cho vay tiêu dùng tại NHTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x