Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Hoạt động tín dụng của NHTM

1 Hoạt động tín dụng của NHTM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cho vay thương mại là hoạt động xuất hiện sớm nhất trong buổi đầu ra đời

các NHTM. Khi ấy, các ngân hàng đã thực hiện chiết khấu thương phiếu và thực tế

là cho vay đối với người bán (người bán phải chuyển các khoản phải thu cho ngân

hàng để lấy tiền trước). Sau này, NHTM đã chuyển từ chiết khấu thương phiếu sang

cho vay trực tiếp đối với khách hàng (người mua), giúp họ thực hiện các kế hoạch

nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.

Sau một thời gian dài phát triển cho vay thương mại, thêm vào đó sự gia tăng

thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh gay gắt đã khiến các NHTM bắt đầu

chú ý tới cho vay tiêu dùng. Thực tế, trong giai đoạn đầu các ngân hàng khơng tích

cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình vì những món vay tiêu dùng này thường

có giá trị nhỏ và độ rủi ro cao. Hiện nay, cho vay tiêu dùng đang ngày càng phát

triển với mức tăng trưởng nhanh, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển.

Bên cạnh hoạt động cho vay thì tài trợ dự án là một trong số các hoạt động

đang ngày càng nhận được sư quan tâm của các NHTM. Họ thực hiện tài trợ cho

các dự án xây dựng, đặc biệt là tài trợ trong các ngành cơng nghệ cao. Một số ngân

hàng còn cho vay đầu tư trong lĩnh vực bất động sản. Tuy nhiên đây là hoạt động tín

dụng có độ rủi ro cao.

Thực tế, cho vay là khoản mục chiếm phần lớn trong tổng tài sản của ngân

hàng, đồng thời cũng là khoản có độ rủi ro lớn hơn cả. Nếu khơng được kiểm soát

chặt chẽ, các khoản vay rất dễ bị thất bại, trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận, thậm

chí đe dọa sự tồn tại của ngân hàng khi những nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng

không được đáp ứng. Vì vậy, cho ai vay như thế nào, quản lí việc sử dụng tiền vay,

thu nợ gốc và lãi ra sao… là những vấn đề mà ngân hàng phải giải quyết trước và

trong q trình cho vay, nhằm có được những khoản cho vay an tồn và hiệu quả.

Chính vì thế, giai đoạn xem xét trước khi cho vay, xem xét người vay tiền và việc

sử dụng tiền vay (hay còn gọi là thẩm định tín dụng) ln chiếm vị trí quan trọng.

Để hiếu đầy đủ hơn về tín dụng NHTM, chúng ta cần đưa ra khái niệm, đặc

trưng, phân loại và quy trình tín dụng.



1.1.1 Khái niệm tín dụng NHTM

Tín dụng xuất phát từ chữ Latinh là Credetium có nghĩa là sự tin tưởng, tín

nhiệm. Tiếng Anh và tiếng Pháp đều lấy từ gốc này, viết là Credit. Theo ngơn ngữ



4



dân gian Việt Nam, tín dụng là sự vay mượn lẫn nhau. Có một số quan niệm như

sau về tín dụng:

Theo Mac: “Tín dụng là sự chuyển nhượng lượng giá trị từ người sở hữu

sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu lại được lượng giá trị lớn

hơn lượng giá trị ban đầu”. Ông cho rằng, tiền chẳng qua chỉ rời tay người sở hữu

trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay

nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải được bỏ ra để thanh tốn cũng khơng

tự đem bán đi, nó chỉ đem cho vay, đem nhượng lại với điều kiện là nó sẽ quay về

điểm xuất phát với một kì hạn nhất định.

Cũng có thể hiểu: “Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn

trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định”.

Hay quan niệm: “ Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng

giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử

dụng với một thời gian nhất định và khi đến hạn, người sử dụng phải thanh toán cho

người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn, phần lớn hơn gọi là lợi tức”.

Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng cũng được hiểu theo nhiều nghĩa

khác nhau tùy theo bối cảnh sử dụng; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng

hồn cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Xét một quan hệ tài

chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hồn trả giữa hai chủ

thể; xét trên khía cạnh chuyển dịch quỹ cho vay: tín dụng được coi là phương pháp

chuyển dịch từ quỹ cho vay sang người đi vay… Trong một số ngữ cảnh cụ thể,

thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay. Ví dụ, tín dụng ngắn hạn có

thể hiểu là cho vay ngắn hạn.

Khi gắn thuật ngữ tín dụng với chủ thể ngân hàng, chúng ta có thể gọi là tín

dụng ngân hàng. Tín dụng được xem như là chức năng cơ bản của ngân hàng nên có

thể hiểu tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay

(ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp

và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử

dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách

nhiệm hồn trả vơ điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh tốn.

Còn Luật các tổ chức tín dụng 2010 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam lại quy định rằng: “ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng

nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng là việc thỏa

5



thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng

một khoản tiền theo ngun tắc có hồn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,

cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín

dụng khác”.

Rõ ràng, dù được định nghĩa như thế nào thì bản chất tín dụng là một giao

dịch về tài sản trên cơ sở hồn trả. Vì vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn

theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa ngân hàng

là bên cho vay với các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và dân

cư là bên đi vay. Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung

cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần đấy nhanh nhịp độ

tích tụ, tập trung vốn và tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tín

dụng ngân hàng được sử dụng như công cụ để phát triển các ngành kinh tế chiến

lược theo yêu cầu của Chính phủ.



1.1.2 Đặc trưng của tín dụng NHTM

Tín dụng ngân hàng có một số đặc trưng cơ bản sau:

Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, tài sản giao dịch có thể theo hình

thức cho vay (bằng tiền) hoặc cho thuê (các loại hàng hóa, động sản, bất động

sản). Trước đây hoạt động tín dụng ngân hàng mới chỉ tồn tại hình thức cho vay

bằng tiền truyền thống. Vì vậy, nhiều khi khái niệm tín dụng được cho là đồng nhất

với việc ngân hàng cho vay (tiền). Nhưng từ năm 1970 đến nay, hoạt động cho thuê

đã được ngân hàng và các tổ chức tài chính khác cung cấp. Thực chất đây cũng là

một sản phẩm kinh doanh của ngân hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực

(nhà cửa, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải…). Ngày nay, hoạt động tín dụng

của ngân hàng còn bao gồm cả bảo lãnh (cho vay uy tín).

Hoạt động tín dụng của ngân hàng xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả đầy

đủ, đúng hạn cả vốn và lãi. Nghĩa là người cho vay (ngân hàng) khi chuyển giao

tài sản cho người đi vay phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả trong một thời

gian xác định. Đây là một yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng.

Ngồi ra, số tiền hoàn trả thường lớn hơn số tiền lúc cho vay. Tức là người

đi vay phải trả thêm phần lãi bên cạnh phần vốn gốc. Đây chính là yếu tố đảm bảo

cho ngân hàng tồn tại và phát triển.



6



Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu

quả. Để đảm bảo ngun tắc hồn trả và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối

thì khi cho vay, cần phải biết người vay sử dụng vào mục đích gì, có khả năng thu

hồi nợ hay khơng, lợi nhuận tạo ra có đủ trang trải nợ gốc và lãi vay hay không,

mức độ mạo hiểm như thế nào. Tính mục đích hướng việc cho vay vào những khâu

mấu chốt nhằm tạo ra hiệu quả.

Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở hồn trả

vơ điều kiện. Về mặt pháp lí, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp

đồng tín dụng, khế ước nhận nợ … hoạt động như những tờ lệnh phiếu, cho thấy

cam kết của bên đi vay sẽ hồn trả vơ điều kiện số tiền đã vay cộng một phần lãi

cho bên cho vay (ngân hàng) khi đến hạn thanh tốn.

Thực tế, tín dụng ngân hàng là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong

cơ cấu tài sản của các NHTM, đem lại rủi ro và thu nhập từ lãi lớn nhất cho

ngân hàng. Nhiều ngân hàng, khoản mục tín dụng chiếm đến hơn 50% tổng tài sản.

Đây cũng là hoạt động đem lại rủi ro nhiều nhất cho các ngân hàng. Có nhiều

nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng của ngân hàng: những nguyên nhân bất khả

kháng (thiên tai, chiến tranh, những nguyên nhân ở tầm vĩ mơ…) vượt qua tầm

kiểm sốt của ngân hàng lẫn người đi vay, làm cho người đi vay mất khả năng thanh

tốn, khơng trả được nợ cho ngân hàng; những nguyên nhân chủ quan thuộc về

người vay (trình độ yếu kém trong quản lí sản xuất kinh doanh, chủ định lừa đảo

ngân hàng, chây ì, khơng muốn trả nợ, cố tình sử dụng vốn vay sai mục đích, kinh

doanh mạo hiểm…) ; hoặc những nguyên nhân thuộc về ngân hàng (chất lượng cán

bộ kém, năng lực đánh giá khách hàng thấp…). Tất cả những nguyên nhân đó đều

gây ra tổn thất, làm giảm thu nhập của ngân hàng, thậm chí để lại nhiều hiệu quả

xấu hơn nữa nếu khơng kịp thời xử lí. Tuy nhiên, chính vì rủi ro nhất, tín dụng được

đánh giá là hoạt động đem lại thu nhập từ lãi lớn nhất cho ngân hàng. Lãi suất cho

vay ngân hàng đặt ra phải bao gồm những chi phí cho vay mà ngân hàng bỏ ra cũng

như những rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu. Ngồi ra, trong hoạt động tín dụng,

ngân hàng cũng tìm cách giảm thiểu rủi ro thơng qua hình thức tài sản đảm bảo, một

điều kiện thúc đẩy người đi vay trả nợ và là nguồn thu nợ thứ hai trong trường hợp

khách hàng khơng hồn lại được gốc vay cho ngân hàng.



7



1.1.3 Phân loại tín dụng NHTM

Hiện nay có khá nhiều loại hình tín dụng khác nhau được NHTM khai thác

triệt để. Tuy nhiên, để quản lí hoạt động tín dụng có hiệu quả, các ngân hàng đã tiến

hành phân loại tín dụng. Hoạt động tín dụng được phân loại dựa trên những căn cứ

khác nhau, mỗi căn cứ khác nhau sẽ có những loại hình tín dụng khác nhau.



1.1.3.1 Căn cứ vào hình thức tín dụng

Dựa vào căn cứ này, tín dụng của NHTM được chia làm bốn loại:

Cho vay: Là hoạt động ngân hàng cho khách hàng vay một khoản tiền với cam

kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là

hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cấp tín dụng.

Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực

hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy

tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh

đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một NHTM không được vượt

quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM.

Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn

hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có tái chiết khấu các thương phiếu và giấy tờ

có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác. Chiết khấu là việc ngân

hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi

phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một

giấy nợ). Chiết khấu được xem như một loại hình tín dụng vì ngân hàng đã bỏ ra ở

hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước.

Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách

hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau đó khách hàng phải hồn trả cả gốc

và lãi cho ngân hàng. NHTM muốn hoạt động cho thuê tài chính phải thành lập

cơng ty tài chính riêng theo nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của

cơng ty cho thuê tài chính.



1.1.3.2



Căn cứ vào mức độ rủi ro



Theo tiêu chí này, tín dụng được phân thành:

Tín dụng lành mạnh: là những khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.

Tín dụng có vấn đề: là những khoản tín dụng có dấu hiệu khơng lành mạnh

như khách hàng chậm tiêu thụ sản phẩm, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách

hàng gặp thiên tai, khách hàng chậm nộp báo cáo tài chính….

8



Nợ q hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với thời gian

ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…

Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ đã q hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất

kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…



1.1.3.3



Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng



Cho vay khơng bảo đảm: đây là khoản vay khơng có tài sản cầm cố, thế

chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba. Khoản vay được ngân hàng chấp nhận nhờ

vào uy tín của chính khách hàng đó mà khơng cần nguồn bổ sung nợ thứ hai. Loại

hình tín dụng này được sử dụng đối với khách hàng tốt, trung thực trong kinh

doanh, có khả năng tài chính lành mạnh …

Cho vay có bảo đảm: là loại hình cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như:

thế chấp, cầm cố tài sản hoặc có người thứ ba đồng ý bảo lãnh. Loại hình tín dụng

này giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro vì khi khách hàng khơng trả được nợ, ngân

hàng có thể thu hồi một phần nhờ bán các tài sản đảm bảo hoặc người bảo lãnh sẽ

phải trả hộ.



1.1.3.4



Căn cứ vào mục đích cho vay



Cho vay bất động sản: là loại cho vay nhằm mục đích mua sắm và xây dựng

bất động sản như nhà ở, đất đai hoặc các bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp,

thương mại và dịch vụ.

Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn bổ sung vốn

lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như

phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…

Cho vay các định chế tài chính : là hoạt động cấp tín dụng cho các ngân

hàng, cơng ty tài chính, cơng ty cho th tài chính, cơng ty bảo hiểm…

Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu như

mua sắm các vật dụng đắt tiền, đi du lịch, du học, mua nhà ở…

Cho thuê: bao gồm hai loại là cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài

sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản mà chủ yếu là máy móc, thiết bị.



9



1.1.3.5



Căn cứ vào thời hạn cho vay



Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn dưới 12 tháng, được sử

dụng để bù đắp những thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi

tiêu ngắn hạn của các cá nhân.

Cho vay trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.

Loại tín dụng này chủ yếu được dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến

hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án

mới có quy mơ nhỏ và có thời gian thu hồi vốn nhanh. Ngồi ra, cho vay trung hạn

còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp.

Cho vay dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm. Đây là loại

hình tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở,

các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mơ lớn, hoặc xây dựng các xí nghiệp mới.



1.1.4 Quy trình tín dụng của NHTM

Từ những năm 1970 trở lại đây, hoạt động kinh doanh ngân hàng đã có nhiều

thay đổi. Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học cơng nghệ, ngành ngân

hàng đã có những bước phát triển mới. Bằng việc ứng dụng công nghệ hiện đại,

ngân hàng đã tiếp cận khách hàng của mình với chi phí giao dịch thấp và cung cấp

sản phẩm, dịch vụ đa dạng hơn so với trước. Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng đó,

các hoạt động ngân hàng ln chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn. Thách thức đó buộc

các ngân hàng phải đưa ra những biện pháp nhằm hạn chế và kiểm sốt rủi ro.

Chính vì vậy, ngân hàng thiết lập một quy trình tín dụng chặt chẽ để đạt được hiệu

quả cao nhất trong kinh doanh.

Quy trình tín dụng là tập hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong

việc cấp tín dụng, trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định

kể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng đến khi ngân hàng ra quyết

định cho vay, giải ngân và thanh lí hợp đồng tín dụng. Đây là một quá trình bao

gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hồn, theo một trật tự nhất định, đồng thời

có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau. Việc thiết lập và khơng ngừng hồn thiện

quy trình tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân

hàng. Về mặt hiệu quả, quy trình tín dụng hợp lí góp phần nâng cao chất lượng và

giảm thiểu rủi ro tín dụng. Về mặt quản trị, quy trình tín dụng có tác dụng: Làm cơ

sở cho việc phân định trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận liên quan trong



10



hoạt động tín dụng; làm cơ sở cho việc thiết lập các hồ sơ và thủ tục vay vốn về

mặt hành chính và chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phận liên quan trong hoạt động

tín dụng.

Mỗi ngân hàng, mỗi loại hình cho vay đều có một quy trình tín dụng riêng.

Tuy nhiên, một quy trình tín dụng hợp lí phải bao gồm các giai đoạn cơ bản sau:

Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng, phân tích tín dụng, giải ngân, giám sát, thu nợ và

thanh lí tín dụng. Mỗi giai đoạn của quy trình tín dụng đều có các phương pháp

quản trị, các thủ tục, chứng từ thích ứng với loại cho vay và điều kiện cụ thể của

mỗi ngân hàng. Quy trình tín dụng tổng qt được mơ tả qua bảng sau:



Bảng 1.1 Quy trình tín dụng tổng qt

Các giai

đoạn của

quy trình tín

dụng.



Nguồn và nơi cung

cấp thơng tin.



1. Lập hồ sơ -Khách hàng đi vay

đề nghị cấp cung cấp thông tin về

tín dụng.

năng lực pháp lí, năng

lực hành vi; khả năng

sử dụng và hồn trả

vốn của mình; thơng

tin về bảo đảm tín

dụng.



Nhiệm vụ của ngân

hàng ở mỗi giai đoạn.



Kết quả sau khi kết

thúc một giai đoạn.



-Tiếp xúc, phổ biến và -Hoàn thành bộ hồ

hướng dẫn lập hồ sơ cho sơ để chuyển sang

khách hàng (giấy đề nghị bộ phận phân tích.

vay vốn, giấy tờ chứng

minh tư cách pháp nhân,

phương án sản xuất kinh

doanh, kế hoạch trả nợ,

các báo cáo tài chính và

các giấy tờ liên quan

khác…)



2. Phân tích -Hồ sơ đề nghị vay từ -Tổ chức thẩm định về

tín dụng.

giai đoạn 1 chuyển các mặt tài chính và phi

sang.

tài chính do các cá nhân

-Các thông tin bổ sung hoặc bộ phận thẩm định

từ phỏng vấn, hồ sơ thực hiện.

lưu trữ…



11



-Báo cáo kết quả

thẩm

định

để

chuyển sang bộ

phận có thẩm quyền

và quyết định cho

vay.



3.

Quyết -Các tài liệu và thơng

định

tín tin từ giai đoạn 2

dụng.

chuyển sang và báo

cáo kết quả thẩm định.



-Quyết định cho vay hoặc

từ chối của cá nhân hoặc

hộ được giao quyền phân

quyết.



-Quyết định cho vay

hoặc từ chối.



-Quyết định cho vay và -Thẩm định các chứng từ

các hợp đồng liên theo các điều kiện của

quan.

hợp đồng tín dụng trước

-Các chứng từ làm cơ khi phát tiền vay.



-Chuyển tiền vào tài

khoản tiền gửi cho

khách hàng hoặc

chuyển trả cho đơn

vị cung cấp theo

yêu cầu của khách

hàng.



-Các thông tin bổ sung.



4. Giải ngân.



sở giải ngân.



5. Giám sát -Các thông tin từ nội

và thanh lý bộ ngân hàng.

tín dụng

-Các báo cáo tài chính

theo định kỳ của khách

hàng.

-Các thơng tin khác.



- Giám sát tín dụng: giám

sát hoạt động tài khoản

tại ngân hàng; phân tích

báo cáo tài chính theo

định kì; giám sát việc trả

lãi định kì; kiểm tra các

hình thức bảo đảm tiền

vay và giám sát qua các

thông tin thu thập khác…



-Tiến hành các thủ

tục pháp lý như ký

hợp đồng tín dụng,

hợp đồng cơng

chứng và các hợp

đồng khác.



-Báo cáo kết quả

giám sát và đưa ra

các giải pháp xử lý.

-Lập các thủ tục để

thanh lý tín dụng.



- Tái xét và xếp hạng.

- Thanh lý tín dụng: thu

nợ gốc và lãi; tái xét hợp

đồng tín dụng và thanh lí

hợp đồng tín dụng



Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy rằng, năm giai đoạn của q trình tín dụng có

mối tương quan mật thiết với nhau, giai đoạn trước là tiền đề để thực hiện các công

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Hoạt động tín dụng của NHTM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x