Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- CBTĐ chưa tìm hiểu kỹ quan hệ của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác.

- CBTĐ chưa tìm hiểu kỹ quan hệ của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



61



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



17% so với năm 2009 là 540,882 triệu đồng.

Sau đây là một số thành tựu mà VIB Hoàn Kiếm đạt được trong cơng tác

thẩm định tài chính dự án đầu tư :

1.4.2.1.1. Về quy trình thẩm định tài chính dự án:

Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư của ngân hàng trong thời gian qua

có những tiến bộ vượt bậc, không ngừng đổi mới và nâng cao tính rõ ràng các chức

năng nhiệm vụ nhưng đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa các phòng ban. Quy trình

thẩm định rõ ràng là cơ sở cho công tác thẩm định được diễn ra thuận lợi và dễ

dàng. Quy trình này còn được áp dụng thống nhất trong tồn hệ thống và nhìn

chung trong thời gian qua đã được cán bộ thẩm định tuân thủ nghiêm túc. Mặt khác

quy trình thẩm định tài chính dự án được xây dựng dựa trên cơ sở sự phối hợp

thống nhất để đưa ra quyết định. Đó là sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban và

các bộ phận chức năng trong quá trình thẩm định, sự phối hợp này diễn ra khá hiệu

quả, đã phát huy được tính độc lập của mỗi bộ phận đồng thời tạo ra mối quan hệ

thống nhất, khơng chồng chéo lẫn nhau.

Với quy trình thẩm định tài chính như hiện nay, cán bộ thẩm đinh có thể phát

hiện ra những khoản mục đầu tư không hợp lý, cách tính khấu hao cơ bản, khơng

đúng…từ đó đưa ra những đánh giá đúng đắn về dự án .

Nhìn chung chi nhánh ngân hàng VIB Hoàn Kiếm đã đưa ra một quy trình

thẩm định tương đối khoa học và hợp lý.

1.4.2.1.2 Về nội dung thẩm định tài chính dự án

Các nội dung thẩm định tài chính dự án khá đầy đủ và khoa học, phản ánh

đúng thực trạng tài chính dự án đầu tư giúp Ngân hàng có cơ sở để quyết định tài

trợ hay không dự án mà chủ đầu tư xin vay. Dựa trên thực tế, kết hợp các thông tin

thị trường, các thông tin thu thập được do đó kết quả thẩm định tài chính là những

con số khá chính xác, phản ánh đúng khả năng sinh lời, khả năng trả nợ của dự án,

của chủ đầu tư. Các nội dung phân tích dựa trên quy trình biểu mẫu chung nhưng

đồng thời áp dụng vào các dự án khác nhau thì cách phân tích khác nhau do đó nâng

cao được tính chủ động của cán bộ thẩm định.

1.4.2.1.3 Về phương pháp thẩm định tài chính

Phương pháp thẩm định ngày càng được sử dụng một cách linh hoạt hơn. Các



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



62



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



cán bộ thẩm định tại chi nhánh tùy vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể mà vận dụng

những phương pháp khác nhau. Các phương pháp thường được sử dụng để thẩm

định tài chính là: So sánh đối chiếu các chỉ tiêu, phân tích độ nhạy, phân tích rủi ro

và phương pháp dự báo. Đặc biệt là phương pháp phân tích độ nhạy. Trong hầu hết

các dự án, phân tích độ nhạy ln được chú trọng giúp cho việc hạn chế các rủi ro

có thể xảy ra, đây là một ưu điểm mà không phải Ngân hàng nào cũng làm được.

1.4.2.1.4 Về trang thiết bị phục vụ công tác thẩm định

Việc trang bị các thiết bị máy móc hiện đại, các phương tiện làm việc thuận

tiện cho các cán bộ thẩm định đã được VIB Hoàn Kiếm quan tâm một cách đầy đủ

và thường xuyên hơn. Những công việc tính tốn, soạn thảo, lưu trữ ngày càng được

thực hiện chính xác, nhanh chóng và khoa học hơn, các phương tiện thông tin liên

lạc hiện đại, điện thoại, máy fax, mạng nội bộ, mạng Internet… đã và đang được

trang bị và hoàn thiện giúp cán bộ thẩm định thu thập thơng tin, khai thác các nguồn

thơng tin bổ có hiệu quả và chính xác hơn, góp phần vào việc nâng cao chất lương

thẩm định dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng tại VIB.

1.4.2.1.5 Về phát triển nhân lực

VIB Hồn Kiếm ln chú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ

cho cán bộ làm công tác thẩm định, giúp đội ngũ cán bộ có trình độ chun mơn

ngày càng cao, đạo đức nghề nghiệp ngày càng vững vàng, có được những phẩm

chất cần thiết của một cán bộ Ngân hàng và đáp ứng những u cầu mà cơng việc

đòi hỏi.

1.4.2.2 Một số hạn chế và nguyên nhân

1.4.2.2.1 Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được thì cơng tác thẩm định dự án nói chung

và cơng tác thẩm định tài chính dự án nói riêng tại VIB Hồn Kiếm còn mắc phải

khơng ít những hạn chế.

-



Về nội dung thẩm định



+ Việc tính tốn các chỉ tiêu NPV, IRR… tuy đã được đề cập nhưng chỉ mang

tính hình thức, khơng được coi là chỉ tiêu trọng yếu. Giá trị theo tiền vay của tiền

vay bước đầu được quan tâm nhưng chưa được đề cập nhiều đến trong dự án.



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



63



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



+ Trong thẩm định tổng vốn đầu tư cũng như cơ cấu tốc độ bỏ vốn đầu tư

Ngân hàng thường chấp nhận những dự toán của chủ đầu tư đưa ra trong dự án mà

chưa cân nhắc đánh giá một cách kỹ lưỡng

+ Việc thẩm định doanh thu của dự án, thông thường cán bộ thẩm định chỉ

phân tích sản phẩm có được chấp nhận trên thị trường hay không, và cho cơng suất

tăng dần theo cảm tính hoặc thụ động theo kế hoạch của Doanh nghiệp. Cán bộ

thẩm định đơn thuần chỉ đặt giả thiết về giá bán sản phẩm theo mức giá hiện tại,

chưa thực sự tiến hành phân tích dựa vào các yếu tố cung cầu trên thị trường. Việc

xác định tổng chi phí và nhiều khoản mục chi phí đơi khi chỉ dựa vào định mức của

chi phí do Doanh nghiệp đưa ra, điều này sẽ gây ảnh hưởng tới chất lượng thẩm

định của dự án, đồng thời sẽ tạo thêm nhiều khó khăn cho cả khách hàng và Ngân

hàng khi thị trường thay đổi theo hướng bất lợi.

-



Về nguồn thông tin phục vụ thẩm định



Nguồn thông tin mà cán bộ thẩm định sử dụng để thẩm định dự án và thẩm

định tài chính dự án còn nhiều hạn chế, độ tin cậy chưa cao. Nguồn dùng trong

thẩm định vẫn chủ yếu là do Doanh nghiệp cung cấp cho Ngân hàng, chính bản thân

cán bộ thẩm định cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xác định lại độ chính xác và

cập nhật của các thơng tin này. Các thơng tin về Doanh nghiệp có thể các cơ quan

độc lập chứng nhận tuy nhiên các thông tin về dự án thì rất khó để các cơ quan này

đưa ra thơng tin chính xác cụ thể, do đó dễ gây ra tình trạng gian lận từ phía khách

hàng để việc vay vốn của mình được thuận lợi hơn, dễ gây ra sai lệch trong quá

trình đánh giá hiệu quả tài chính của sự án và nhầm lẫn trong quyết định cho vay

của Ngân hàng.

-



Về đội ngũ cán bộ



Mặc dù đã có rất nhiều chính sách đào tạo và đầu tư cho CBTĐ nhưng xét một

cách toàn diện đội ngũ cán bộ có năng lực thực sự chưa nhiều và phân bố không

đồng đều.

-



Về công tác tái thẩm định sau khi cho vay



Công tác tái thẩm sau khi Ngân hàng tiến hành giải ngân vốn vay cho Doanh

nghiệp thực hiện đầu tư còn chưa được quan tâm đúng mức. Một số dự án không

phát huy được hiệu quả theo kỳ vọng nhưng chưa được Ngân hàng đánh giá và nhìn



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



64



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



nhận một cách khách quan, độc lập, vì vậy chưa đánh giá đúng mức hiệu quả của

vốn đầu tư. Việc đầu tư có hiệu quả hay khơng sẽ quyết định đến khả năng hoàn trả

vốn vay vủa Doanh nghiệp đối với ngân hàng, Chi nhánh cần xem xét về vấn đề này

để có thể rút ra được những kinh nghiệm trong công tác cho vay vốn để đầu tư.

1.4.2.2.2 Nguyên nhân chủ yếu gây ra những hạn chế

- Do môi trường kinh tế vĩ mô chưa ổn định

Cùng với những thành tựu của cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước, hoạt động đầu tư theo dự án của các DN thuộc mọi thành phần kinh tế ở Việt

Nam đang phát triển với tốc độ nhanh. Tuy nhiên, do môi trường kinh tế chưa ổn

định làm cho sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, sức cạnh tranh của các DN

trong nước với các DN nước ngồi còn hạn chế. Hiện nay, khoảng 85% DNVN là

các DN vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu, thị trường nhỏ hẹp, vốn tự có ít, chủ yếu

dựa trên vốn vay ngân hàng, trình độ quản lý kém, chất lượng sản phẩm thấp, khó

cạnh tranh với hàng ngoại nhập. Bên cạnh đó việc cạnh tranh giữa DNNN với

doanh nghiệp ngồi quốc doanh cũng còn nhiều bất cập vì DNNN hầu như được ưu

tiên trong mọi lĩnh vực đầu tư. Hơn nữa, các DNNN ngoài một số đơn vị làm ăn có

hiệu quả thì phần lớn là thua lỗ, cầm chừng, vốn chủ sở hữu thấp khiến nhà nước

phải xóa nợ, khoanh nợ. Cơ chế quản lý nhà nước còn nhiều lỏng lẻo, dẫn đến

những sơ hở tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cá thể có hành vi lừa đảo. Những

điều này đã tạo áp lực rất lớn đối với các ngân hàng trong cơng tác thẩm định dư án

đầu tư.

-



Do cơ chế chính sách, pháp luật của Nhà nước còn nhiều bất cập



Sự ban hành chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật, quy chế của Nhà nước đã

tạo ra những lúng túng dẫn đến việc không thực hiện đúng do hiểu sai của cán bộ

tín dụng. Cơ chế chính sách tín dụng ban hành chậm, khơng đồng bộ và khơng đầy

đủ gây khó khăn cho cán bộ tín dụng. Việc thường xuyên thay đổi các chính sách

của Nhà nước cũng làm cho cán bộ tín dụng khơng dám cho vay với những dự án có

liên quan đến sự thay đổi đó. Cụ thể là :

+ Hệ thống luật pháp thiếu tính cụ thể và đồng bộ: Một số lớn các điều luật

của nước ta nói chung và luật kinh tế nói riêng thường chỉ giới hạn các chế định

mang tính nguyên tắc, thiếu chi tiết cụ thể dẫn đến tình trạng phải chờ nghị quyết để

cụ thể hóa việc thực hiện.



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



65



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



+ Tính hiệu lực của pháp luật kinh tế còn kém, thể hiện ở việc giải quyết tranh

chấp và hoạt động của tồn án còn nhiều bất cập. Thủ tục giải quyết tranhh chấp

quá phức tạp. Hơn nữa các phán quyết chậm được thực hiện dẫn đến việc các lợi ích

hợp pháp bị vi phạm và khơng được bảo vệ.

+ Tính minh bạch và tính ổn định nhìn chung còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu

quả và hiệu lực thực thi luật pháp, gây tiêu cực, nhũng nhiễu và ảnh hưởng đến tâm

lý của nhà đầu tư. Nhiều văn bản chưa được cơng khai rộng rãi, gây khó khăn cho

việc thực hiện thống nhất, điển hình là trong lĩnh vực thuế, hải quan, quản lý thị

trường và ngân hàng. Các văn bản luật, pháp lệnh và nghị định của chính phủ hiện

nay còn thiếu sự tham vấn của các tổ chức và các tầng lớp nhân dân. Nhận thức về

pháp luật của người dân còn hạn chế nhưng cơng tác giải thích pháp luật chính thức

còn ít đượng quan tâm.

-



Hệ thống thơng tin kinh tế còn chưa hiệu quả



Hệ thống thơng tin kinh tế thị trường, giá cả nói chung và thơng tin rủi ro trong

hệ thống ngân hàng nói riêng đều ở tình trạng phân tán, kém hiệu quả, chưa cập

nhật và thiếu chính xác, đơi khi thơng tin còn bị nhiễu gây khó khăn cho cơng tác

thẩm định. Một số cơ quan được coi là cung cấp thông tin mang tính chất chuyên

nghiệp như trung tâm tín dụng của Ngâ hàng Nhà nước ( CIC ), tổng cục thống kế...

nhưng nguồn thông tin này do các cơ quan cung cấp thường khơng cập nhật và hầu

như cũng khơng có thơng tin về nghành. Tình trạng thơng tin như vậy khiến cho nội

dung của việc lập và thẩm định dự án bị thiếu hụt đi rất nhiều, dẫn đến kết quả thẩm

định chưa đảm bảo tính chính xác.

Các tổ chức giám định, tư vấn của các nghành tại Việt nam chưa phát triển và

cũng chưa có hành lang pháp lý chặt chẽ cho việc mua bán thơng tin gây khó khăn

cho ngân hàng trong khâu thu thập và xử lý thông tin.

-



Về phía khách hàng



Một thực trạng chung hiện nay ở Việt Nam là rất nhiều doanh nghiệp không

tuân thủ nghiêm chế độ báo cáo tài chính hoặc bản thân họ chưa nhận thấy tầm quan

trọng và ý nghĩa của việc lập báo cáo tài chính một cách bài bản. Do đó hầu hết các

BCTC gửi ngân hàng đều có chất lượng kém, chưa phản ánh đúng thực trạng tài

chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này gây khó khăn cho ngân

hàng trong việc phân tích, đánh giá thực trạng khách hàng và mất thời gian để tìm



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



66



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



hiểu và xác định lại các nội dung trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Thêm nữa, hiện nay rất ít các doanh nghiệp thực hiện kiểm toán báo cáo tài

chính, thường chỉ có các doanh nghiệp nhà nước bị bắt buộc kiểm tốn, còn phần

lớn các doanh nghiệp ngồi quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì

khơng thực hiện kiểm tốn, một phần là do chi phái th kiểm tốn độc lập cao. Đây

chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các báo cáo tài chính doanh nghiệp khi trình

lên ngân hàng khơng đáng tin cậy, khiến cho việc đánh giá một cách chính xác tình

hình tài chính của DN là rất khó khăn.

Nhiều doanh nghiệp có dự án mang tính khả thi cao song do hạn chế trong

phương pháp lập hoặc khơng có tài sản thế chấp hợp pháp nên dẫn đến việc do dự

của ngân hàng trong quyết định cho vay.

-



Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng



Số lượng cán bộ thẩm định còn ít, chất lượng cán bộ khơng đồng đều, chưa

đáp ứng được yêu cầu của công tác thẩm định. Một số cán bộ tín dụng còn thiếu

kiến thức về phân tích tài chính doanh nghiệp mà đây lại là nội dung rất quan trọng

để khẳng định tình hình tài chính thực tế của DN. Đồng thời sự am hiểu về kỹ thuật,

xây dựng cơ bản,... còn hạn chế của CBTD cũng ảnh hưởng đến chất lượng công tác

thẩm định dự án đầu tư.

Như vậy bên cạnh những thành công đã đạt được, cơng tác thẩm định nói riêng

và thẩm định tài chính dự án đầu tư nói chung tại ngân hàng VIB – chi nhánh Hồn

Kiếm nói riêng vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc cần được giải quyết. Trong điều

kiện nền kinh tế ngày càng biến động phức tạp, cạnh tranh giữa các ngân hàng gay

gắt như hiện nay thì việc nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại

chi nhánh là một vấn đề cấp thiết. Trước hết chi nhánh cần nhìn nhận các hạn chế

của mình một cách khách quan, trên cơ sở các hạn chế đó đưa ra những giải pháp

thiết thực, đồng thời có kiến nghị với những bộ nghành liên quan nhằm ngày càng

hồn thiện cơng tác thẩm định.

1.4.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính DADT

tại ngân hàng VIB Hồn Kiếm

1.4.2.3.1 Nhân tố chủ quan:

- Nhân tố con người:



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



67



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



Kết luận thẩm định đối với bất kỳ dự án nào cũng luôn luôn bao hàm yếu tố

chủ quan của người làm công tác thẩm định. Do vậy, trình độ của cán bộ thẩm định

chính là nhân tố ảnh hưởng sâu sắc nhất đến chất lượng công tác thẩm định dự án

đầu tư. Để đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của các kết quả thẩm định, ngồi kiến

thức chun mơn về quy trình thẩm định, CBTĐ cần trang bị cho mình cả những

kiến thức tổng quát về kinh tế, kỹ thuật, luật pháp, quản lý cũng như những thông

tin liên quan đến dự án cần thẩm định.

Bên cạnh trình độ chun mơn tốt, đòi hỏi CBTĐ cần phải có đạo đức nghề

nghiệp. Đó là lòng yêu nghề, tinh thầm trách nhiệm cao và trung thực trong công

việc. Nếu không đảm bao yếu tố này thì rủi ro sẽ rất lớn bởi lẽ họ có thể sẵn sàng vì

lợi ích các nhân mà đưa ra nhưng kết luận thiếu chính xác và khơng trung thực

trong q trình thẩm định, từ đó gây ra những thiệt hại lâu dài không những cho chủ

đầu tư mà còn ảnh hưởng tới địa phương, tới tồn nghành và tồn bộ nên kinh tế.

-



Thu thập và xử lý thơng tin:



Thẩm định dự án được tiến hành trên cơ sở phân tích những thơng tin trực tiếp

và gián tiếp liên quan đến dự án. Các thông tin này phải đảm bảo tính chính xác,

chân thực, đầy đủ, cập nhật, có độ tin cậy cao và có nguồn gốc rõ ràng... Bởi lẽ

thơng tin càng cính xác, cụ thể thì càng thuận tiện cho q trình triển khai cơng việc

và kết luận thẩm định càng chính xác.

Để thu thập thơng tin có chất lượng cao thì người thẩm định phải tiến hành thu

thập và xử lý thông tin từ nhiều nguồn độc lập khác nhau. CBTĐ của ngân hàng có

thể khai thác thông tin từ các nguồn như:

+ Thông tin thực tế từ dự án và doanh nghiệp xin vay vốn

+ Thông tin từ các văn bản pháp lý, các quy định, các tiêu chuẩn do Nhà nước

ban hành

+ Thông tin từ cơ quan nghiên cứu, các chuyên gia

+ Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo và các tạp chí

chun nghành

+ Thơng tin tổng hợp từ Internet

+ Thông tin từ người lao động, khách hàng của doanh nghiệp



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



68



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



+ Thơng tin từ các cơ quan có liên quan, cơ quan thuế, công ty tư vấn, công ty

kiểm tốn, UBND tại trụ sở doanh nghiệp

+ Thơng tin từ hệ thống ngân hàng



Như vậy cán bộ thẩm định có thể tiếp cận được rất nhiều các nguồn thơng tin

khác nhau. Vấn đề đặt ra là phải tiếp cận các nguồn thông tin này như thế nào và

khả năng xử lý khối lượng thông tin nhận được cho hiệu quả. Việc lựa chọn các

nguồn thông tin bên cạnh việc chọn ra những thơng tin chính xác, cụ thể, cập nhật,

có độ tin cậy cao còn phải quan tâm đến 2 yếu tố nữa đó là thời gian thu thập thơng

tin là nhanh hay chậm và chi phí để có được các thơng tin đó...

-



Cơ sở vật chất của ngân hàng:



Hoạt động thẩm định là một hoạt động phức tạp, nhất là khâu thẩm định tài

chính của dự án, đòi hỏi phải tiến hành trên những thiết bị máy móc hiện đại. Một

nền tảng kỹ thuật tiên tiến với thiết bị công nghệ hỗ trợ phù hợp sẽ làm cho công

việc thẩm định trở nên dễ dàng hơn và đem lại hiệu quả chính xác hơn. Ngày nay

với sự phát triển cơng nghệ thì điều kiện vật chất ngày càng góp phần quan trọng

trong việc nâng cao chất lượng thẩm định dự án. Để có được chất lượng tốt, ngồi

việc trang bị máy móc làm việc cho CBTĐ, chi nhánh còn phải cập nhật những

phần mềm chun dụng cho cơng tác thẩm định ở các nước trên thế giới.

-



Tổ chức công tác thẩm định



Tổ chức thẩm định là việc bố trí, phân cơng trách nhiệm, quyền hạn cho từng

cán bộ tham gia vào hoạt động thẩm định tại ngân hàng. Việc phân công hợp lý sẽ

tạo điều kiện để CBTĐ phát huy hết khả năng của mình trong cơng việc.

Phân chia rõ nhiệm vụ, trách nhiệm sẽ giúp cho công tác thẩm định khơng bị

chồng chéo, CBTĐ làm việc có trách nhiệm cao hơn. Đồng thời, nó giúp cho việc

theo giõi, đánh giá kết quả làm việc của mỗi CBTĐ dễ dàng hơn. Sự phối hợp nhịp

nhàng giữa những người làm công tác thẩm định trong ngân hàng sẽ làm cho công

việc thẩm định trở nên hiệu quả hơn.

1.4.2.3.2 Nhân tố khách quan:

-



Từ phía khách hàng



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



69



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



Hồ sơ mà khách hàng trình lên ngân hàng là cơ sở quan trọng để ngân hàng

thẩm định, do đó trình độ lập, thẩm định, thực hiện dự án của chủ đầu tư yếu kém sẽ

ảnh hưởng xấu đến chất lượng thẩm định của ngân hàng như: làm ngân hàng phải

kéo dài thời gian phân tích, tính tốn, thu thập thêm thơng tin...Đặc biệt đối với các

doanh nghiệp VN, khả năng quản lý cũng như tiềm lực về tài chính rất hạn chế, rủi

ro dự án khi đi vào hoạt động không hiệu quả là một trong những nguyên nhân làm

giảm chất lượng thẩm định của ngân hàng.

Ngồi ra, tính trung thực của thơng tin do chủ đầu tư cung cấp cũng là một vấn

đề gây khó khăn đối với CBTĐ của ngân hàng.

-



Mơi trường kinh tế



Mức độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia quy định kinh nghiệm,

năng lực của các chủ thể trong nền kinh tế, quy định độ tin cậy của các thơng tin, do

đó ảnh hưởng đến chất lượng công tác thẩm định. Nền kinh tế chưa phát triển, cơ

chế thiếu đồng bộ cùng với sự bất ổn của các điều kiện vĩ mô...hạn chế việc cung

cấp thông tin xác thực, phản ảnh đúng diễn biến mối quan hệ thị trường, những

thông tin dự báo về tình trạng của nên kinh tế...

-



Mơi trường pháp lý



Trong nội dung thẩm định có nhiều khâu liên quan và chịu sự điều tiết của các

văn bản luật hiện hành, ví dụ xác minh năng lực pháp lý của đơn vị vay, vấn đề

quản lý dự án đầu tư, các thủ tục pháp lý về quyền sở hữu tài sản...Để chất lượng

thẩm định được đảm bảo cần có một hệ thống văn bản pháp quy đồng bộ, chặt chẽ,

thống nhất làm cơ sở cho CBTĐ xem xét, đánh giá khách hàng theo đúng chuẩn

mực quy định

-



Các nhân tố khác



Các yếu tố tự nhiên cũng có ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu

tư. Phần lớn các dự án đều liên quan đến các cơng trình xây dựng ngồi trời, do vậy

ít nhiều chịu tác động của yếu tố tự nhiên. Nếu cơng tác thẩm định khơng tính đến

sự thay đổi của thời tiết, khí hậu thì rất có thể tính tốn sai tiến độ thi cơng và xây

lắp cơng trình so với thực tế, từ đó ảnh hưởng đến thời gian hoàn vốn và hiệu quả

của dự án.



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



70



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



CHƯƠNG II : MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

NHẰM HOÀN THIỆN CƠNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH

DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG VIB HOÀN KIẾM



2.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của VIB Hoàn Kiếm giai đoạn

2011-2015

2.1.1 Định hướng chung cho ngân hàng VIB Hoàn Kiếm

Hoạt động kinh doanh năm 2010 có nhiều thuận lợi, nền kinh tế đã lấy lại đà

tăng trưởng với tốc độ năm sau cao hơn năm trước, chủ trương kích cầu thơng qua

đầu tư đã có hiệu quả. Với việc Đảng và Nhà nước đánh giá cao đóng góp của chi

nhánh ngân hàng VIB Hoàn Kiếm đối với nền kinh tế trong sự nghiệp đổi mới và

trao tặng danh hiệu cao quý, uy tín của chi nhánh ngân hàng VIB Hồn Kiếm được

nâng cao cả trong nước và quốc tế.

Định hướng trọng tâm của Ngân Hàng VIB Hoàn Kiếm trong thời gian tới là

tiếp tục nâng cao chất lượng, mở rộng vốn đầu tư, đẩy mạnh huy đông vốn và phát

triển dịch vụ ngân hàng. Với mục tiêu tăng tổng nguồn vốn huy động lên 30%, tổng

dư nợ cho vay nền kinh tế tăng 35%, cho vay trung và dài hạn tối đa tăng 58%, tỷ lệ

cho vay khơng có tài sản bảo đảm chiếm 8% tổng dư nợ. Phấn đấu nguồn thu từ

dịch vụ đạt 2,500 triệu đồng. Cụ thể là:

-



Trong công tác huy động vốn



Trong công tác huy động vốn, Ngân hàng TMCP VIB chi nhánh Hoàn Kiếm

phải chú trọng vào các hoạt động sau:

+ Tập trung đẩy mạnh huy động vốn, nâng cao tỷ trọng trung dài hạn đáp ứng

nhu cầu cho vay đầu tư phát triển.

+ Đa dạng hóa sản phẩm huy động, đáp ứng cao nhất nhu cầu tiền gửi của khách hàng.

+ Chuyển dịch cơ cấu nguồn đảm bảo, tự chủ về nguồn vốn, đảm bảo khả năng

thanh tốn và đáp ứng hồn tồn nhu cầu cho vay và đầu tư.

+ Nâng cao tỷ trọng tiền gửi thanh tốn trên nguồn vốn huy động góp phần

giảm chi phí huy động đầu vào.



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



71



GVHD : Th.s Phan Thị Thu Hiền



+ Điều hành lãi suất theo sát biến động thị trường, đảm bảo giữ vững và tăng

trưởng nguồn vốn.

-



Trong công tác dịch vụ khách hàng



Trong công tác dịch vụ khách hàng, Ngân hàng VIB chi nhánh Hoàn Kiếm phải

chú trọng vào các hoạt động sau:

+ Từng bước đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ

khách hàng, thể hiện phong cách giao dịch văn minh, đa dạng hóa các dịch vụ

thanh toán.

+ Phát huy thế mạnh trong các lĩnh vực bảo lãnh, thanh toán trong nước, quốc tế

và kinh doanh tiền tệ.

+ Phát triển các hoạt động dịch vụ, tập trung vào các sản phẩm dịch vụ đầu tư

dự án trên nền công nghệ hiện đại. Mở rộng dịch vụ trên cơ sở phát triển các phần

mềm như: Home banking, Internet banking…Nghiên cứu, triển khai các ứng dụng

mới, hỗ trợ các phòng ban trong cơng tác quản lý điều hành.

-



Về tổ chức hoạt động



+ Cơng tác tổ chức hoạt động còn nhiều bất cập, do đó cần có những biện pháp

tăng cường hoàn thiện bộ máy tổ chức, khâu quản lý phải làm tốt thì các hoạt động

khác mới tốt lên được. Công tác tổ chức quản lý phải dựa trên những hướng dẫn từ

TW áp dụng cho trường hợp cụ thể của Chi nhánh, việc áp dụng những điều này

không được quá áp đặt, phải tùy vào điều kiện cụ thể để áp dụng. Trong một số

trường hợp phải xin ý kiến chỉ đạo của TW về những công tác mà Chi nhánh không

đủ sức tự quyết định hoặc việc quyết định không thuộc thẩm quyền.

+ Đào tạo cán bộ trẻ có năng lực là một nhiệm vụ mà Chi nhánh cần làm trong

thời gian tới, nhất là đội ngũ các trưởng phòng ban. Đồng thời với điều đó là khả

năng học hỏi của cán bộ. Trong một số lĩnh vực, cần tham khảo các mơ hình, các kinh

nghiệm từ các Chi nhánh khác, tăng cường giao lưu giữa các Chi nhánh để đúc rút

kinh nghiệm của nhau cũng là một phương án tốt. Để có đội ngũ cán bộ chủ chốt vừa

trẻ vừa có năng lực thì việc đào tạo là cần thiết, tạo mọi điều kiện trong điều kiện cho

phép để cán bộ nhân viên tiếp xúc với cách quản lý tốt, khoa học, đạt hiệu quả cao

nhất có thể. Tạo nên một mơi trường làm việc thân thiện nhưng hiệu quả, mỗi nhân

viên đều có thể đóng góp ý kiến của mình vào hoạt động quản lý của Chi nhánh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- CBTĐ chưa tìm hiểu kỹ quan hệ của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×