Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 . GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CHI NHÁNH BA ĐÌNH

2 . GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CHI NHÁNH BA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.2.1. Cải tiến quy trình, đơn giản hố thủ tục cho vay đối với các

DNVVN

Để đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, đồng

thời đáp ứng kịp thời nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp, cần phải đơn giản

hoá thủ tục cho vay đối với các DNVVN.

Theo quy định hiện hành của NHCT, bất kỳ khoản vay của khách

hàng doanh nghiệp mới nào cũng phải được thẩm định qua Phòng quản lý

rủi ro và nợ có vấn đề. Như vậy, nếu tính toàn bộ thời gian kể từ khi nhận

hồ sơ từ khách hàng, thẩm định, thơng qua Phòng quản lý rủi ro và nợ có

vấn đề, công chứng chứng thực tài sản, đăng ký giao dịch đảm bảo đến khi

giải ngân sẽ mất khoảng 30 ngày. Đối với nhu cầu tín dụng nhỏ, thời gian

giải quyết như trên là quá dài, làm mất cơ hội kinh doanh của khách hàng.

Tại các Phòng giao dịch loại 1, việc cấp một món bảo lãnh cho khách

hàng mất khá nhiều thời gian cho việc đi lại giữa phòng và Chi nhánh. Do

vậy, đối với các khách hàng đã quan hệ thường xuyên, giám đốc Chi nhánh

có thể phê duyệt hồ sơ khoản tín dụng này thơng qua hệ thống công nghệ

thông tin như: E mail, fax…để đảm bảo kịp thời gian yêu cầu của doanh

nghiệp.

3.2.2. Cơ cấu lại tồn bộ khách hàng DNVVN hiện có, lựa chọn khách

hàng tốt để mở rộng tín dụng

Trên cơ sở cơ cấu lại toàn bộ DNVVN hiện có, sàng lọc nhằm lựa

chọn các khách hàng có quan hệ tốt, khách hàng được đưa vào diện khách

hàng chiến lược, từ đó tập trung nguồn lực hiện có để phục vụ những khách

hàng này.

Chi nhánh cần sàng lọc lại những DNVVN có chất lượng tốt mà biểu

hiện là trong q trình quan hệ ln vay trả sòng phẳng, chưa bao giờ phát

sinh nợ quá hạn, gia hạn nợ, có triển vọng phát triển trong tương lai. Lựa



93



chọn những doanh nghiệp sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng,

mang lại nhiều hiệu quả cho chi nhánh để tiếp tục quan hệ.

Cần phải nhận dạng các khách hàng đang lâm vào tình trạng khó

khăn hoặc được Chi nhánh đánh giá là có thể sẽ gặp khó khăn. Một khoản

nợ có vấn đề thường có dấu hiệu điển hình như : doanh nghiệp khơng thực

hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các cam kết với ngân hàng, đặc biệt

trong thanh toán lãi định kỳ, thanh toán nợ gốc khi đáo hạn, doanh số hoạt

động trên tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp tại ngân hàng giảm hoặc có

những biểu hiện luân chuyển vốn bất thường, các khoản thanh tốn qua

ngân hàng khơng còn thuờng xun, tồn kho hàng hóa hoặc cơng nợ phải

thu gia tăng đột biến…

Khi xuất hiện một trong những dấu hiệu bất thường trên, cán bộ tín

dụng kết hợp với cán bộ quản lý rủi ro phải tiếp cận doanh nghiệp thường

xuyên hơn, trực tiếp trao đổi để tìm hiểu rõ nguyên nhân. Nếu những khó

khăn chỉ mang tính tạm thời xuất phát từ nguyên nhân mở rộng quy mô

hoạt động hoặc đầu tư mới, hoặc thu hồi công nợ chậm hơn so với kế hoạch

thì nên xem xét cấp vốn bổ sung cho doanh nghiệp trên cơ sở bổ sung thêm

tài sản đảm bảo hoặc theo dõi sát các khoản phải thu của khách hàng để thu

hồi gốc và lãi đúng hạn. Mặt khác, phải theo dõi các khoản gốc, lãi đến

hạn, thơng báo sớm để khách hàng có kế hoạch thanh tốn. Trong trường

hợp cần thiết, có thể u cầu doanh nghiệp bổ sung thêm tài sản thế chấp,

cầm cố hoặc nhận thêm sự bảo lãnh và tình huống xấu nhất là khách hàng

khơng còn khả năng chi trả. Khi đó, tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan

chức năng để xử lý nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro. Giảm dần dư nợ và không

mở rộng cho vay đối với những doanh nghiệp có thể trạng xấu.

Song song với việc duy trì các khách hàng hiện có, Chi nhánh cần

tích cực hơn nữa trong việc thu hút các khách hàng mới về giao dịch với



94



chi nhánh. Đối với các khách hàng hiện tại khơng có quan hệ tín dụng tại

Chi nhánh, cũng cần phải tiếp cận và tiếp thị sản phẩm dịch vụ. Đó có thể

sẽ là những khách hàng tiềm năng cho sản phẩm tín dụng.

3.2.3. Mở rộng mạng lưới kinh doanh đồng thời với việc nghiên cứu

đặc thù kinh tế địa phương để phát triển sản phẩm phù hợp

Với quy mơ bao gồm 02 Phòng khách hàng doanh nghiệp và 03

Phòng giao dịch loại 1, Chi nhánh vẫn chưa thực sự tận dụng được hết

những cơ hội kinh doanh đối với thị trường đầy tiềm năng này. Do vậy, cần

phải có sự mở rộng về mạng lưới các phòng giao dịch loại 1(các phòng

giao dịch có chức năng cho vay khách hàng DN) trên cơ sở nghiên cứu một

cách nghiêm túc về đặc thù kinh tế địa phương nơi đặt phòng giao dịch.

Các phòng giao dịch thường được bố trí gần nơi tập trung dân cư, tập trung

doanh nghiệp, kể cả những nơi xa trung tâm. Do vậy, đây là bộ phận có

nhiều tiềm năng phát triển tín dụng đối với các DNVVN.

Thơng thường, ở Chi nhánh, Phòng Tổng hợp tiếp thị tiến hành

nghiên cứu thị trường, lập Đề án mở Phòng giao dịch. Tuy nhiên, nhiều khi

do hạn chế về thu thập thông tin cũng như chưa ý thức được tầm quan trọng

của việc nghiên cứu địa bàn trước khi thành lập, nên các cán bộ này thường

đưa những thơng tin thiếu tính thực tế, chính xác vào trong Đề án. Việc

nghiên cứu như vậy chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sau

này của Phòng giao dịch. Nhiều phòng được thành lập đã 5 năm nhưng

cũng chỉ tăng trưởng về quy mô so với năm đầu là 45%.

Mặt khác, Chi nhánh cần theo dõi, bám sát diễn biến nền kinh tế và

các văn bản chỉ đạo của NHNN, NHCT để định hướng tín dụng cho phù

hợp với thế mạnh kinh tế địa phương, đặc thù của khách hàng DNVVN tại

Chi nhánh sao cho đảm bảo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đồng thời

với việc đảm bảo tính cân đối, bền vững của toàn hệ thống.



95



3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sốt nội bộ

Kinh doanh ngân hàng nói chung, tín dụng ngân hàng nói riêng ln

đi kèm với rủi ro. Rủi ro trong Ngân hàng có thể bao gồm:

- Rủi ro tín dụng;

- Rủi ro tác nghiệp;

- Rủi ro thị trường.

Chất lượng của việc phòng ngừa, phát hiện rủi ro phụ thuộc rất nhiều

vào chất lượng hoạt động của bộ máy kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại Chi

nhánh. Do vậy, bộ máy này cần thường xuyên kiểm tra, kiểm soát nhằm kịp

thời phát hiện những sai phạm trong hoạt động kinh doanh nói chung và

hoạt động tín dụng nói riêng.

Trong từng thời kỳ, khi kiểm tra cần có những Đề cương cụ thể về:

- Nội dung kiểm tra: Cần chú ý việc cho vay đảo nợ, giải ngân

bằng tiền mặt, nhóm khách hàng liên quan, thế chấp kho hàng;

- Phương thức kiểm tra: Cần kết hợp kiểm tra hồ sơ giấy và kiểm

tra thực tế đối với những khoản vay có nghi ngờ;

- Đồng thời, đề xuất những chế tài xử phạm nghiêm khắc, đích

đáng với những cá nhân, phòng, tổ có vi phạm nhằm nâng cao trách nhiệm

của từng cán bộ trong thẩm định, cho vay.

Mặt khác, phòng kiểm tra kiểm sốt nằm tại Chi nhánh, nhưng

khơng chỉ kiểm tra kiểm soát hoạt động tại Chi nhánh Ba Đình mà còn

thường xun có các đợt kiểm tra chéo các Chi nhánh khác. Trong q

trình kiểm tra đó, chắc chắn sẽ phát hiện nhiều sai phạm khác nhau. Chi

nhánh nên đề xuất phòng này phổ biến những sai phạm đã thấy ở những

Chi nhánh Vietinbank khác làm bài học kinh nghiệm cho cán bộ tại chi

nhánh mình. Điều này sẽ giúp các cán bộ tín dụng tại Chi nhánh không vấp

phải những sai phạm tương tự.



96



3.2.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

* Đối với cán bộ tín dụng

Hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân

hàng. Do vậy, chất lượng của Cán bộ tín dụng- những người trực tiếp thực

thi nghiệp vụ cho vay đó quyết định rất nhiều đến chất lượng dư nợ và

đương nhiên đến số lượng thu nhập khách hàng mang lại cho Ngân hàng.

Trước tiên, Chi nhánh cần tiêu chuẩn hố đội ngũ cán bộ tín dụng.

Căn cứ vào chiến lược tăng trưởng quy mơ tín dụng của Chi nhánh, đề xuất

chỉ tiêu cán bộ đồng thời với việc đưa ra những quy chuẩn nhất định đối

với từng vị trí. Có thể xem việc tuyển dụng, đào tạo, đào tạo lại và tiêu

chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tín dụng là một trong những công tác được ưu

tiên hàng đầu.

Yêu cầu đối với một cán bộ tín dụng cần phải được đặt vào yêu cầu

công việc thực tế tại Chi nhánh và có thể dựa trên một số tiêu chuẩn sau:

- Có đạo đức nghề nghiệp và có tinh thần trách nhiệm đối với

công việc.

- Hiểu biết đầy đủ về các mặt hoạt động của ngân hàng và có chiều

sâu về chun mơn nghiệp vụ.

- Có sự hiểu biết tổng quát về cơ chế thị trường, môi trường kinh tế

- xã hội, địa bàn cho vay cũng như thực trạng và xu thế phát triển của

ngành nghề cho vay.

- Biết cách tập hợp và xử lý thơng tin, có kỹ năng phân tích tài

chính, phân tích tính khả thi của phương án kinh doanh và thẩm định các

dự án đầu tư.

- Có kỹ năng giao tiếp tốt, nghệ thuật thương lượng.

- Có khả năng làm việc độc lập và làm việc theo nhóm.

- Có tinh thần học hỏi và hỗ trợ đồng nghiệp trong cơng việc…

Ngoài việc tiêu chuẩn hố đội ngũ cán bộ, chi nhánh cần nâng cao



97



trình độ, năng lực và trách nhiệm của cán bộ tín dụng gắn liền với chính

sách khuyến khích bằng lợi ích vật chất. Cụ thể:

- Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật các kiến thức chuyên môn

và các kỹ năng hỗ trợ cho cán bộ tín dụng theo những tiêu chuẩn đã đặt ra.

- Cần quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi vật chất cũng như tinh thần

của cán bộ tín dụng. Có chế độ đãi ngộ thưởng phạt cụ thể đảm bảo tương

xứng với trách nhiệm và quyền lợi của họ. Nên áp dụng hình thức thưởng

theo doanh số nhằm đẩy mạnh hiệu qủa làm việc của mỗi nhân viên.

- Đề bạt, bổ nhiệm vị trí cao hơn đối với những cán bộ nhân viên

có sự gắn bó và đóng góp lớn đối với ngân hàng, có sáng kiến trong công

việc và biết tạo ra những đột phá so với kế hoạch được giao. Ngược lại, có

biện pháp xử lý đích đáng đối với những cán bộ kém phẩm chất và không

đủ năng lực.

* Đối với cán bộ quản lý rủi ro

Thực tế việc bố chí sắp xếp cán bộ tại Chi nhánh vẫn còn bất cập. Bộ

phận quản lý rủi ro chưa được quan tâm đúng mức về số lượng cũng như

chất lượng. Trình độ của nhiều cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu để thực hiện

nhiệm vụ.

Do vậy, Chi nhánh cần rà soát, đánh giá việc triển khai thực hiện

nhiệm vụ của bộ phận quản lý rủi ro. Tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ thẩm định

rủi ro cần phải tương đương cán bộ tín dụng thậm trí còn cao hơn mới đảm

bảo đảm đương tốt chức năng của mình. Thường xuyên đào tạo, đào tạo lại,

hướng dẫn thực hiện nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ phận này.

3.2.6. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành và đức nghề nghiệp của

lãnh đạo phòng khách hàng

Các Trưởng, phó phòng khách hàng cần là những người vừa có đức

vừa có tài. Họ khơng những phải giỏi về chun mơn nghiệp vụ mà còn

phải có những kỹ năng cần thiết của một người quản lý. Do vậy, sau khi bổ



98



nhiệm cán bộ, Chi nhánh cần có những khố học về kỹ năng lãnh đạo, quản

lý điều hành trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đồng thời, trong quá

trình tác nghiệp, các lãnh đạo phòng cũng cần tự trau dồi và tích luỹ cho

mình những kinh nghiệm về kỹ năng phân tích, đánh giá và nhận định tình

hình khách hàng. Từ đó đưa ra được những giải pháp cũng như định hướng

phát triển phù hợp nhất đối với từng khách hàng.

Một điều đáng để bất kỳ một Ngân hàng nào cũng cần phải quan tâm

đó là vấn đề đạo đức nghề nghiệp của các lãnh đạo phòng khách hàng. Như

đã nêu trên, đây là đội ngũ cán bộ đã có nhiều kinh nghiệp và giỏi trong

chun mơn nghiệp vụ. Do vậy, cũng rất dễ xảy ra việc “lách luật” nhằm

thu lợi cá nhân. Cơng việc của bộ phận tín dụng thường xuyên phải tiếp

xúc với khách hàng, trong đó có cả khách hàng tốt, khách hàng xấu. Nếu

lãnh đạo phòng tín dụng- những người có ý kiến quan trọng đối với việc

quyết định một khoản vay- mà không giữ được sự tỉnh táo, đạo đức nghề

nghiệp sẽ rất dễ xảy ra tiêu cực. Với một khối lượng công việc khổng lồ

của cả Chi nhánh, ban giám đốc không thể kiểm sốt một cách tường tận

từng khoản vay. Do đó, khi bộ máy giúp việc phía dưới cố tình vi phạm đạo

đức nghề nghiệp thì Ban giám đốc cũng khó mà phát hiện ngay.

Để hạn chế việc trên, Chi nhánh cần thường xuyên giáo dục về đạo

đức, tác phong, lối sống cho cán bộ nhất là những vị trí lãnh đạo cấp dưới.

Đồng thời, quy định rõ những chế tài xử phạt khi cán bộ vi phạm với những

mức xử phạt cao, thậm chí nhờ sự can thiệp của pháp luật trong những

trường hợp cần thiết.

3.2.7. Thẩm định và quản lý chặt chẽ hồ sơ vay vốn

Về cơ bản, một quy trình tín dụng hoàn chỉnh cần phải có những

bước cơ bản sau: Tiếp thị, khai thác tìm kiếm khách hàng; lập hồ sơ tín

dụng; thẩm định tín dụng, ra quyết định tín dụng; quản lý tín dụng. Trong



99



đó, thẩm định và quản lý tín dụng là những bước quan trọng nhất quyết

định đến chất lượng của một khoản tín dụng.

Để làm tốt khâu thẩm định tín dụng cần lưu ý:

- Khi tiến hành thẩm định tín dụng đối với mỗi doanh nghiệp phải

phối hợp nhiều chỉ tiêu để đánh giá. Khơng chỉ phân tích để đánh giá doanh

nghiệp trong hiện tại mà còn phải phân tích để đánh giá doanh nghiệp trong

tương lai dựa vào kế hoạch tài chính của doanh nghiệp cũng như định

hướng phát triển kinh tế ngành liên quan.

- Đối với cho vay DNVVN, ngoài việc tn thủ quy trình trong

cơng tác thẩm định một cách chặt chẽ, khoa học, nên đặc biệt chú trọng

nhân thân, tư cách khách hàng, quy mô sản xuất cũng như kinh nghiệm của

chủ doanh nghiệp và người lao động trong q trình hoạt động sản xuất

kinh doanh.

-Phải phân tích kỹ lưỡng về yếu tố thị trường đầu vào và đầu ra của

hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN. Đánh giá nghiêm túc, khách

quan về tính hiệu quả và khả thi của phương án kinh doanh. Ngoài báo cáo

tài chính mà khách hàng cung cấp, cần cập nhật thêm thông tin thông tin về

khách hàng từ những kênh khác để có kết luận chính xác về tình hình tài

chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng.

Mặt khác, để làm tốt công tác thẩm định cần phải xây dựng thống

thông tin về doanh nghiệp và thị trường sản phẩm dịch vụ và phải có các

cơng cụ hỗ trợ hiệu quả như chương trình phân tích tín dụng trên máy tính

nhằm rút ngắn thời gian xử lý dữ liệu. Ngoài ra, Chi nhánh nên thường

xuyên tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn về nghiệp vụ kế tốn doanh nghiệp,

phân tích tài chính doanh nghiệp, thẩm định phương án, dự án đầu tư…

Nên có những buổi gặp mặt định kỳ giữa các quản lý cấp cao trong khối tín

dụng và nhân viên nhằm trao đổi về nghiệp vụ chuyên môn và rút kinh

nghiệm từ những kết quả đã đạt được và những mặt chế thường gặp phải.



100



Trong bước ra quyết định cho vay, Chi nhánh cũng cần quan tâm

đến một số vấn đề sau

- Cho vay đúng nhu cầu và phù hợp với điều kiện sản xuất kinh

doanh của từng doanh nghiệp. Nên mở rộng cho vay theo hạn mức tín dụng

đối với những DNVVN có tình hình tài chính lành mạnh, có uy tín và có

nhu cầu ln chuyển vốn thường xuyên. Theo đó, thời hạn khoản vay phải

được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh.

- Định kỳ hạn nợ, xác định thời điểm và số tiền thu nợ phải phù hợp

khả năng thu hồi vốn và tốc độ luân chuyển dòng tiền của doanh nghiệp.

Đối với việc quản lý, theo dõi khoản vay

- Rà soát, đánh giá khách hàng định kỳ và đột xuất, nhằm cập nhật

thơng tin phản ánh tình hình kinh doanh của khách hàng một cách thường

xuyên. Đảm bảo nắm bắt được những biểu hiện của khách hàng liên quan

đến việc sản xuất kinh doanh của khách hàng cũng như tình hình trả nợ vay

đối với ngân hàng. Từ đó, có những giải pháp kịp thời ngăn chặn rủi ro có

thể xảy ra.

- Đầu tháng, cán bộ tín dụng phải lập kế hoạch thu nợ cho toàn bộ

dư nợ đến hạn và thông báo cho khách hàng. Việc này sẽ giúp khách hàng

chủ động hơn trong việc tập trung nguồn trả nợ

3.2.8. Thực hiện tốt công tác bảo đảm tiền vay

Tuy tài sản đảm bảo không phải là yếu tố quan tâm hàng đầu khi

quyết định cho vay. Nhưng đây là một trong số những nguồn xử lý nợ chắc

chắn khi khoản vay xảy ra rủi ro. Do vậy, việc thẩm định, theo dõi, quản lý

tài sản đảm bảo đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tín dụng của các

ngân hàng nói chung cũng như Chi nhánh Ba Đình nói riêng.

Để làm tốt công tác bảo đảm tiền vay, Chi nhánh cần thực hiện tốt

trong cả khâu thẩm định, quyết định và quản lý tài sản đảm bảo:



101



Trong quá trình thẩm định tài sản đảm bảo: Cần thu thập thông tin từ

nhiều kênh như: các tạp chí, trang thơng tin điện tử, cơ quan thẩm định giá

chuyên nghiệp…Việc thẩm định tài sản phải được dựa trên những đánh giá

thực tế, hiện trạng của tài sản. Từ đó đưa ra nhận định tài sản có đủ điều

kiện nhận làm tài sản thế chấp theo quy định hiện hành hay không? Liệu tài

sản có xảy ra rủi ro trong tương lai hay khơng.

Từng thời kỳ, Chi nhánh cũng cần có những định hướng cũng như

cảnh báo về rủi ro đối với từng loại tài sản đảm bảo nhằm giúp cho cán bộ

tín dụng có những thơng tin cần thiết trong quyết định nhận tài sản.

Quá trình quản lý hồ sơ tài sản: Cán bộ phải đánh giá thường xuyên

hiện trạng tài sản, quá trình hình thành hình thái vật chất của tài sản( đối

với tài sản hình thành trong tương lai) và những biểu hiện bất thường của

doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản. Để đảm bảo cho quyền lợi của

ngân hàng, việc đăng ký giao dịch đảm bảo và mua bảo hiểm cho tài sản là

bắt buộc đối với 100% tài sản theo quy định của pháp luật.

3.2.9. Chú trọng công tác tiếp thị và thực hiện tốt chính sách khách hàng

Trong cuộc chạy đua giành thị phần, công tác tiếp thị đóng vai trò

quan trọng và là vũ khí khơng thể thiếu góp phần nâng cao hiệu quả và tính

cạnh tranh của ngân hàng. Để thực hiện tốt công tác này, cần thành lập bộ

phận Marketing chuyên nghiệp. Trong quá trình thực hiện, cần phối hợp

chặt chẽ với phòng tín dụng và các phòng ban khác nhằm quảng cáo, giới

thiệu về ngân hàng và các dịch vụ của ngân hàng, đồng thời nghiên cứu về

những chiến lược của các ngân hàng cạnh tranh. Cần lập ra danh sách

khách hàng mục tiêu, chủ động tiếp cận, tìm hiểu nhu cầu và đề xuất việc

thiết lập quan hệ tín dụng, thanh tốn với doanh nghiệp. Đặc biệt quan tâm

đến những khách hàng tiềm năng hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Trong mối quan hệ với khách hàng, Chi nhánh nên quan tâm đến tình



102



hình tài chính của doanh nghiệp, tính khả thi của phương án kinh doanh và

lợi nhuận mà doanh nghiệp đó mang lại để thực hiện chính sách khách

hàng chiến lược, không nên chú trọng ưu tiên những doanh nghiệp lớn vì

chưa chắc quy mơ doanh nghiệp lớn đã mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng.

Cần duy trì mối quan hệ mật thiết với khách hàng truyền thống hoạt

động tốt và có uy tín, xem xét nâng hạn mức tín dụng tương ứng với nhu

cầu thực tế. Đối với những khách hàng truyền thống được đánh giá cao về

mức độ tín nhiệm, có phương án kinh doanh khả thi, hiệu quả và hoạt động

trong những ngành có mức độ rủi ro thấp, có thể tăng tỷ lệ cho vay trên tài

sản đảm bảo. Mặt khác, nên áp dụng một chính sách lãi suất linh hoạt dựa

trên cơ sở tính tốn tổng thể lợi ích mà doanh nghiệp mang lại cho ngân

hàng và lịch sử quan hệ của khách hàng với Chi nhánh Ba Đình.

Nâng cao hiệu quả của việc tổ chức hội nghị khách hàng thường

niên.Một mặt tạo ra sự gắn bó giữa ngân hàng và khách hàng, mặt khác

thơng qua đó có thể thu thập ý kiến đóng góp từ phía khách hàng để thấy

được những mặt mạnh cần phát huy và mặt yếu cần khắc phục, cải tiến.

Bên cạnh đó, tích cực khai thác, tìm kiếm khách hàng tiềm năng

thông qua những khách hàng đang giao dịch tại Chi nhánh Ba Đình. Trong

quá trình hợp tác, giữa các doanh nghiệp thường có mối quan hệ khá mật

thiết và bản thân các doanh nghiệp hoạt động trong cùng lĩnh vực thường

hiểu nhau khá rõ. Do đó, có thể tìm hiểu thơng tin về một doanh nghiệp

thơng qua một doanh nghiệp khác.



3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1. Kiến nghị với NHCT Việt Nam

- NHCT cần có quy trình, quy chế, quy định riêng đối với cho vay



103



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 . GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CHI NHÁNH BA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×