Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI CHI NHÁNH BA ĐÌNH

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI CHI NHÁNH BA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan

trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích và dành một số

dự án hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực cho các tổ chức tài chính phù

hợp mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đa dạng hóa các

sản phẩm, dịch vụ phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cung cấp các dịch

vụ hỗ trợ về tư vấn tài chính, quản lý đầu tư và các dịch vụ hỗ trợ khác cho

khách hàng là đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Thơng qua các chương trình trợ giúp đào tạo, Nhà nước hỗ trợ các

doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực lập dự án, phương án kinh

doanh nhằm đáp ứng yêu cầu của tổ chức tín dụng khi thẩm định hồ sơ vay

vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

a) Mục đích hoạt động: tài trợ các chương trình giúp nâng cao nâng

lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, chú trọng hỗ trợ hoạt động

đổi mới phát triển sản phẩm có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi

trường; đầu tư, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; phát

triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.

b) Nguồn vốn của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (gọi tắt là

Quỹ): vốn cấp từ ngân sách nhà nước; vốn đóng góp của các tổ chức trong

nước; các khoản viện trợ, tài trợ của các tổ chức nước ngoài, các tổ chức

quốc tế; lợi nhuận từ các hoạt động của Quỹ và các nguồn vốn hợp pháp

khác.

c) Các hoạt động chính

 Tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn tài chính trong và ngoài

nước để thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

theo quy định của pháp luật.



86



 Tài trợ kinh phí cho các chương trình, các dự án trợ giúp nâng

cao năng lực cạnh tranh, năng lực kỹ thuật, công nghệ, năng lực quản trị

doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do các Bộ, ngành, địa phương,

hiệp hội doanh nghiệp triển khai thực hiện sau khi được cấp thẩm quyền

phê duyệt.

 Ủy thác cho các tổ chức tín dụng cho vay ưu đãi các doanh

nghiệp nhỏ và vừa có dự án đầu tư khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến

khích của Nhà nước và phù hợp với mục đích hoạt động của Quỹ.

d) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân

hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan xây dựng đề án thành lập Quỹ

trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt; chịu trách nhiệm bảo đảm

Quỹ hoạt động đúng mục đích.

e) Bộ Tài chính ban hành quy chế quản lý tài chính của Quỹ, kiểm

tra, giám sát hoạt động tài chính của Quỹ.

* Về mặt bằng sản xuất

Trên cơ sở công khai quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố đã được Thủ

tướng Chính phủ phê duyệt, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương dành quỹ đất và thực hiện các biện pháp khuyến khích xây

dựng các khu, cụm công nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuê làm

mặt bằng sản xuất, kinh doanh hoặc di dời ra khỏi nội thành, nội thị để bảo

đảm cảnh quan môi trường.

* Về đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật

- Thơng qua các chương trình trợ giúp, Chính phủ thực hiện chính

sách trợ giúp phù hợp với chiến lược và lĩnh vực ưu tiên phát triển của nền

kinh tế trong từng giai đoạn như sau:



87



a) Khuyến khích đầu tư đổi mới cơng nghệ, đổi mới thiết bị kỹ thuật

theo chiến lược phát triển và mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp nhỏ

và vừa đối với các sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

b) Nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

thơng qua chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ sản xuất

các sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ

thuật vào sản xuất.

c) Giới thiệu, cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị cho các

doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ đánh giá, lựa chọn công nghệ.



 Quỹ phát triển Khoa học công nghệ quốc gia hàng năm dành một

phần kinh phí hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới, nâng cao năng

lực công nghệ.



 Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch và bố trí kinh phí hỗ trợ các doanh

nghiệp nhỏ và vừa thực hiện đăng ký và bảo hộ, chuyển giao quyền sở hữu

trí tuệ đối với các sản phẩm và dịch vụ, áp dụng các hệ thống quản lý chất

lượng theo tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quốc tế khác.

* Về xúc tiến mở rộng thị trường

- Hàng năm, các bộ, ngành và địa phương xây dựng kế hoạch và bố

trí kinh phí thực hiện các hoạt động xúc tiến mở rộng thị trường cho doanh

nghiệp nhỏ và vừa.

- Cơ quan quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại quốc gia hàng

năm dành một phần ngân sách xúc tiến thương mại quốc gia cho doanh

nghiệp nhỏ và vừa và thông báo kết quả thực hiện cho cơ quan quản lý nhà

nước về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định tại Điều 15

Nghị định này.



88



* Tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ cơng

- Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương dành tỉ lệ nhất định cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện các

hợp đồng hoặc đơn đặt hàng để cung cấp một số hàng hóa,dịch vụ cơng.

- Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích doanh

nghiệp nhỏ và vừa tham gia cung ứng sản phẩm, dịch vụ công theo đề nghị

của Bộ Tài chính.

* Về thơng tin và tư vấn

- Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố

trực thuộc Trung ương thông qua cổng thông tin điện tử cung cấp thông tin

về các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, các chính

sách, chương trình trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các

thông tin khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Chậm nhất 30 ngày làm việc trước khi triển khai thực hiện các

chính sách, chương trình trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ

quan chủ trì có trách nhiệm gửi thơng tin về chính sách và chương trình đó

tới cổng thơng tin doanh nghiệp của cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp

phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định tại Điều 15 của Nghị định này

để công bố ra công chúng.

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư huy động nguồn lực trong và ngoài nước

để nâng cấp cổng thông tin doanh nghiệp nhằm cung cấp và kết nối thông

tin về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Chính phủ khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước cung

cấp dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

* Trợ giúp phát triển nguồn nhân lực

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên

quan hướng dẫn xây dựng kế hoạch trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho

các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu tập trung vào quản trị doanh nghiệp.



89



- Kế hoạch trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp

nhỏ và vừa của các Bộ, ngành và địa phương được lồng ghép vào kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm của các bộ, ngành và địa

phương.

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, tổng hợp nhu cầu trợ giúp đào tạo

cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm cơ sở để Bộ Tài chính cân đối, bố trí

nguồn kinh phí hỗ trợ trong kế hoạch ngân sách hàng năm của các bộ,

ngành, địa phương.

* Vườn ươm doanh nghiệp

- Nhà nước khuyến khích thành lập vườn ươm doanh nghiệp để

thực hiện hỗ trợ có thời hạn doanh nghiệp trong giai đoạn khởi sự theo quy

trình và có hệ thống thơng qua việc cung cấp cho các doanh nghiệp được

ươm tạo không gian, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh các nguồn lực cần thiết

nhằm giúp các doanh nghiệp hiện thực hóa, thương mại hóa các ý tưởng

kinh doanh và cơng nghệ.

- Bộ Khoa học và Cơng nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên

quan xây dựng chính sách ưu tiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia

các “cơ sở ươm tạo công nghệ” và “cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công

nghệ”.

Việc ban hành Nghị định trên đã cho thấy rõ quan điểm, định hướng

phát triển DNVVN cũng như quyết tâm của Chính phủ trong việc thực thi

những định hướng đó.

3.1.2. Định hướng phát triển tín dụng DNVVN của Chi nhánh Ba Đình

Kinh tế thế giới được dự đốn đang trong q trình khơi phục,

thương mại thế giới sẽ ngày càng sôi động hơn. Kinh Việt Nam mặc dù

chưa hội nhập sâu và liên thông mạnh mẽ với kinh tế thế giới, song với đặc

thù là sự phát triển kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu và

vốn đầu tư nước ngoài nên khi kinh tế có dấu hiệu phục hồi cũng là điều



90



kiện thuận lợi cho kinh tế Việt Nam phát triển.

Theo mục tiêu, định hướng của NHCT và kế hoạch phát triển kinh

doanh năm 2011, Chi nhánh Ba Đình đề ra mục tiêu kinh doanh trong năm

như sau:

- Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2011 đạt: 7.800 tỷ đồng;

- Dư nợ cho vay nền kinh tế đạt: 5.800 tỷ đồng, trong đó:

- Dư nợ VNĐ: 4.255 tỷ đồng;

- Ngoại tệ quy VNĐ: 1.545 tỷ đồng

- (Tỷ lệ cho vay khơng có đảm bảo bằng tài sản: 20% tổng dư nợ)

- Thu phí dịch vụ: đạt 70 tỷ đồng;

- Lợi nhuận: phấn đấu đạt 295.428 triệu đồng.

Từ những mục tiêu kinh doanh đối với toàn Chi nhánh nêu trên, Ban

lãnh đạo Chi nhánh Ba Đình cũng đưa ra những mục tiêu đối với khách

hàng DNVVN như sau:

- Mở rộng cho vay đối với những doanh nghiệp có tình hình kinh

doanh tốt, khách hàng chiến lược. Thực hiện các chính sách khách hàng

linh hoạt. Khơng ngừng nâng cao chất lượng phục vụ cũng như những tiện

tích đối với DNVVN;

- Nâng tỷ trọng dư nợ cho vay DNVVN lên 40% trên tổng dư nợ

cho vay của Chi nhánh;

- Nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo tăng trưởng đi đôi với an

toàn, hiệu quả;

- Tăng cường cho vay đảm bảo bằng tài sản trên cơ sở mở rộng

danh mục tài sản đảm bảo cũng như đối tượng cho vay. Áp dụng các hình

thức cho vay phù hợp với điều kiện kinh doanh thực tế của DNVVN và

nguồn vốn huy động của Chi nhánh từng thời kỳ;

3.1.3. Tiềm lực mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với



91



DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình

- Triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ là cơ hội

nhằm phát triển tín dụng đối với các DNVVN trong giai đoạn hiện nay. Khi

được Chính phủ hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh

doanh, sẽ có nhiều khách hàng tìm đến với ngân hàng hơn, nhất là các

DNVVN. Cũng nhờ việc hỗ trợ này, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

giảm đáng kể, hiệu quả kinh doanh được cải thiện, khả năng trả nợ ngân

hàng sẽ được đảm bảo. Từ đó, Chi nhánh có nhiều cơ hội để mở rộng quy

mơ tín dụng DNVVN.

- Chi nhánh Ba Đình có một số khách hàng tiền gửi truyền thống

với số dư tiền gửi khơng kỳ hạn bình quân lớn. Do vậy, giá đầu vào sẽ có

cơ hội thấp hơn các Ngân hàng khác. Đây là một lợi thế quan trọng của Chi

nhánh đối với các Ngân hàng là đối thủ cạnh tranh. Đặc biệt trong giai đoạn

hiện nay, khi NHNN ra Thông tư hướng dẫn tổ chức tín dụng về cho vay lãi

suất thoả thuận, một số ngân hàng thương mại thiếu vốn nên đã phải tăng

lãi suất huy động lên cao nhằm thu hút được lượng vốn cần thiết cho hoạt

động kinh doanh. Lãi suất đầu vào tăng, bắt buộc lãi suất cho vay và các

loại phí của các ngân hàng cũng phải đẩy lên rất cao mới đủ bù đắp cho chi

phí đầu vào. Như vậy, nếu Chi nhánh Ba Đình quy định một mức lãi suất

phù hợp sẽ cạnh tranh được với đối thủ trên địa bàn, thu hút được nhiều

khách hàng hơn, nhất là các DNVVN, từ đó nâng cao thị phần của Chi

nhánh trên địa bàn.



3.2. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CHI NHÁNH BA ĐÌNH



92



3.2.1. Cải tiến quy trình, đơn giản hố thủ tục cho vay đối với các

DNVVN

Để đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, đồng

thời đáp ứng kịp thời nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp, cần phải đơn giản

hoá thủ tục cho vay đối với các DNVVN.

Theo quy định hiện hành của NHCT, bất kỳ khoản vay của khách

hàng doanh nghiệp mới nào cũng phải được thẩm định qua Phòng quản lý

rủi ro và nợ có vấn đề. Như vậy, nếu tính toàn bộ thời gian kể từ khi nhận

hồ sơ từ khách hàng, thẩm định, thơng qua Phòng quản lý rủi ro và nợ có

vấn đề, cơng chứng chứng thực tài sản, đăng ký giao dịch đảm bảo đến khi

giải ngân sẽ mất khoảng 30 ngày. Đối với nhu cầu tín dụng nhỏ, thời gian

giải quyết như trên là quá dài, làm mất cơ hội kinh doanh của khách hàng.

Tại các Phòng giao dịch loại 1, việc cấp một món bảo lãnh cho khách

hàng mất khá nhiều thời gian cho việc đi lại giữa phòng và Chi nhánh. Do

vậy, đối với các khách hàng đã quan hệ thường xuyên, giám đốc Chi nhánh

có thể phê duyệt hồ sơ khoản tín dụng này thơng qua hệ thống công nghệ

thông tin như: E mail, fax…để đảm bảo kịp thời gian yêu cầu của doanh

nghiệp.

3.2.2. Cơ cấu lại tồn bộ khách hàng DNVVN hiện có, lựa chọn khách

hàng tốt để mở rộng tín dụng

Trên cơ sở cơ cấu lại toàn bộ DNVVN hiện có, sàng lọc nhằm lựa

chọn các khách hàng có quan hệ tốt, khách hàng được đưa vào diện khách

hàng chiến lược, từ đó tập trung nguồn lực hiện có để phục vụ những khách

hàng này.

Chi nhánh cần sàng lọc lại những DNVVN có chất lượng tốt mà biểu

hiện là trong quá trình quan hệ ln vay trả sòng phẳng, chưa bao giờ phát

sinh nợ quá hạn, gia hạn nợ, có triển vọng phát triển trong tương lai. Lựa



93



chọn những doanh nghiệp sử dụng nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng,

mang lại nhiều hiệu quả cho chi nhánh để tiếp tục quan hệ.

Cần phải nhận dạng các khách hàng đang lâm vào tình trạng khó

khăn hoặc được Chi nhánh đánh giá là có thể sẽ gặp khó khăn. Một khoản

nợ có vấn đề thường có dấu hiệu điển hình như : doanh nghiệp khơng thực

hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các cam kết với ngân hàng, đặc biệt

trong thanh toán lãi định kỳ, thanh toán nợ gốc khi đáo hạn, doanh số hoạt

động trên tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp tại ngân hàng giảm hoặc có

những biểu hiện luân chuyển vốn bất thường, các khoản thanh tốn qua

ngân hàng khơng còn thuờng xun, tồn kho hàng hóa hoặc cơng nợ phải

thu gia tăng đột biến…

Khi xuất hiện một trong những dấu hiệu bất thường trên, cán bộ tín

dụng kết hợp với cán bộ quản lý rủi ro phải tiếp cận doanh nghiệp thường

xuyên hơn, trực tiếp trao đổi để tìm hiểu rõ nguyên nhân. Nếu những khó

khăn chỉ mang tính tạm thời xuất phát từ nguyên nhân mở rộng quy mô

hoạt động hoặc đầu tư mới, hoặc thu hồi công nợ chậm hơn so với kế hoạch

thì nên xem xét cấp vốn bổ sung cho doanh nghiệp trên cơ sở bổ sung thêm

tài sản đảm bảo hoặc theo dõi sát các khoản phải thu của khách hàng để thu

hồi gốc và lãi đúng hạn. Mặt khác, phải theo dõi các khoản gốc, lãi đến

hạn, thơng báo sớm để khách hàng có kế hoạch thanh tốn. Trong trường

hợp cần thiết, có thể u cầu doanh nghiệp bổ sung thêm tài sản thế chấp,

cầm cố hoặc nhận thêm sự bảo lãnh và tình huống xấu nhất là khách hàng

khơng còn khả năng chi trả. Khi đó, tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan

chức năng để xử lý nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro. Giảm dần dư nợ và không

mở rộng cho vay đối với những doanh nghiệp có thể trạng xấu.

Song song với việc duy trì các khách hàng hiện có, Chi nhánh cần

tích cực hơn nữa trong việc thu hút các khách hàng mới về giao dịch với



94



chi nhánh. Đối với các khách hàng hiện tại khơng có quan hệ tín dụng tại

Chi nhánh, cũng cần phải tiếp cận và tiếp thị sản phẩm dịch vụ. Đó có thể

sẽ là những khách hàng tiềm năng cho sản phẩm tín dụng.

3.2.3. Mở rộng mạng lưới kinh doanh đồng thời với việc nghiên cứu

đặc thù kinh tế địa phương để phát triển sản phẩm phù hợp

Với quy mơ bao gồm 02 Phòng khách hàng doanh nghiệp và 03

Phòng giao dịch loại 1, Chi nhánh vẫn chưa thực sự tận dụng được hết

những cơ hội kinh doanh đối với thị trường đầy tiềm năng này. Do vậy, cần

phải có sự mở rộng về mạng lưới các phòng giao dịch loại 1(các phòng

giao dịch có chức năng cho vay khách hàng DN) trên cơ sở nghiên cứu một

cách nghiêm túc về đặc thù kinh tế địa phương nơi đặt phòng giao dịch.

Các phòng giao dịch thường được bố trí gần nơi tập trung dân cư, tập trung

doanh nghiệp, kể cả những nơi xa trung tâm. Do vậy, đây là bộ phận có

nhiều tiềm năng phát triển tín dụng đối với các DNVVN.

Thơng thường, ở Chi nhánh, Phòng Tổng hợp tiếp thị tiến hành

nghiên cứu thị trường, lập Đề án mở Phòng giao dịch. Tuy nhiên, nhiều khi

do hạn chế về thu thập thông tin cũng như chưa ý thức được tầm quan trọng

của việc nghiên cứu địa bàn trước khi thành lập, nên các cán bộ này thường

đưa những thơng tin thiếu tính thực tế, chính xác vào trong Đề án. Việc

nghiên cứu như vậy chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sau

này của Phòng giao dịch. Nhiều phòng được thành lập đã 5 năm nhưng

cũng chỉ tăng trưởng về quy mô so với năm đầu là 45%.

Mặt khác, Chi nhánh cần theo dõi, bám sát diễn biến nền kinh tế và

các văn bản chỉ đạo của NHNN, NHCT để định hướng tín dụng cho phù

hợp với thế mạnh kinh tế địa phương, đặc thù của khách hàng DNVVN tại

Chi nhánh sao cho đảm bảo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đồng thời

với việc đảm bảo tính cân đối, bền vững của toàn hệ thống.



95



3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sốt nội bộ

Kinh doanh ngân hàng nói chung, tín dụng ngân hàng nói riêng ln

đi kèm với rủi ro. Rủi ro trong Ngân hàng có thể bao gồm:

- Rủi ro tín dụng;

- Rủi ro tác nghiệp;

- Rủi ro thị trường.

Chất lượng của việc phòng ngừa, phát hiện rủi ro phụ thuộc rất nhiều

vào chất lượng hoạt động của bộ máy kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại Chi

nhánh. Do vậy, bộ máy này cần thường xuyên kiểm tra, kiểm soát nhằm kịp

thời phát hiện những sai phạm trong hoạt động kinh doanh nói chung và

hoạt động tín dụng nói riêng.

Trong từng thời kỳ, khi kiểm tra cần có những Đề cương cụ thể về:

- Nội dung kiểm tra: Cần chú ý việc cho vay đảo nợ, giải ngân

bằng tiền mặt, nhóm khách hàng liên quan, thế chấp kho hàng;

- Phương thức kiểm tra: Cần kết hợp kiểm tra hồ sơ giấy và kiểm

tra thực tế đối với những khoản vay có nghi ngờ;

- Đồng thời, đề xuất những chế tài xử phạm nghiêm khắc, đích

đáng với những cá nhân, phòng, tổ có vi phạm nhằm nâng cao trách nhiệm

của từng cán bộ trong thẩm định, cho vay.

Mặt khác, phòng kiểm tra kiểm sốt nằm tại Chi nhánh, nhưng

khơng chỉ kiểm tra kiểm soát hoạt động tại Chi nhánh Ba Đình mà còn

thường xun có các đợt kiểm tra chéo các Chi nhánh khác. Trong q

trình kiểm tra đó, chắc chắn sẽ phát hiện nhiều sai phạm khác nhau. Chi

nhánh nên đề xuất phòng này phổ biến những sai phạm đã thấy ở những

Chi nhánh Vietinbank khác làm bài học kinh nghiệm cho cán bộ tại chi

nhánh mình. Điều này sẽ giúp các cán bộ tín dụng tại Chi nhánh không vấp

phải những sai phạm tương tự.



96



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI CHI NHÁNH BA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×