Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NHCT BA ĐÌNH

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NHCT BA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sau khi thống nhất đất nước, năm 1975 đến giai đoạn đổi mới, năm

1988, thời kỳ này nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng, vì

vậy ngày Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Nhà nước Ba Đình nói riêng

gặp rất nhiều khó khăn.

Thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển từ cơ chế kinh tế tập chung

quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết của

Nhà nước, theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT ngày 26/03/1988 về việc thành

lập các ngân hàng chuyên doanh, Ngân hàng Công thương Việt Nam

(NHCT) được thành lập, Chi nhánh Ba Đình trở thành một Chi nhánh trực

thuộc NHCT. Trong năm đầu thực hiện chuyển đổi mơ hình tổ chức và hoạt

động (1988-1993). Giai đoạn này, Nền kinh tế nước ta vẫn đứng trước

thách thức rất lớn, kinh tế còn khủng hoảng, lạm phát cao, cơ chế quản lý

và nề lối làm việc cũ, quan liêu bao cấp vẫn còn. Chi nhánh Ba Đình thực

hiện nhiệm vụ của ngân hàng chuyên doanh với chức năng chủ yếu là huy

đống vốn, cho vay và thực hiện chức năng thanh tốn. Tuy nhiên, quy mơ

hoạt động thì nhỏ, nguồn vốn khoảng 8.874 triệu đồng, dư nợ cho vay

4.980 triệu đồng, nhưng đã sảy ra cho vay bị thất thoát vốn lớn, nợ xấu, nợ

đọng chiếm tỷ trọng lớn trên tổng dư nợ.

Từ năm 1993, sau khi Tổng giám đốc NHCT giải thể Chi nhánh

Ngân hàng Công thương Thành phố Hà Nội, chính thức chuyển thành Chi

nhánh trực thuộc NHCT, Ngân hàng mang tên “Chi nhánh Ngân hàng Công

thương khu vực Ba Đình”. Đây cũng là thời kỳ, Chi nhánh đã có những đổi

mới toàn diện từ tổ chức bộ máy, đổi mới về phương thức tổ chức quản lý

và hoạt động. Với đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên trẻ, dám nghĩ, dám

làm, dám chịu trách nhiệm và quyết tâm đổi mới, nhờ đó hoạt động kinh

doanh đã tạo ra bước ngoặt mới, từ một Ngân hàng kinh doanh thua lỗ, trở

thành một trong những Chi nhánh Ngân hàng có quy mơ lớn, kinh doanh

hiệu quả nhất trong hệ thống NHCT. Liên tục được Nhà nước phong tặng



35



những danh hiệu cao quý như Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm

1998, Huân chương lao động hạng ba năm 2000, Huân chương lao động

hạng nhì năm 2005 và nhiều danh hiệu khác.

2.1.2. Tư cách pháp lý, cơ cấu tổ chức

Tư cách pháp lý

Chi nhánh Ba Đình là một đơn vị hạch toán phụ thuộc NHCT, tổ

chức và hoạt động theo phân cấp, ủy quyền của Tổng giám đốc, được kinh

doanh những ngành nghề trong đăng ký kinh doanh của NHCT, có con dấu

riêng, có trụ sở tại 126 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội.

Cơ cấu tổ chức

Theo Quyết định số 068/QĐ-CNBĐ-TCHC ngày 30/07/2007 của

Giám đốc Chi nhánh NHCT khu vực Ba Đình về việc chuyển đổi, sắp xếp

lại mơ hình tổ chức Chi nhánh: có Ban giám đốc và 14 phòng ban gồm:

Phòng Khách hàng doanh nghiệp lớn, Phòng khách hàng doanh nghiệp vừa

và nhỏ, Phòng khách hàng cá nhân( bao gồm các PGD loại 2,Điểm giao

dịch, quỹ tiết kiệm), Phòng Kế tốn Giao dịch, Phòng Tổng hợp, Phòng

Thanh tốn Xuất nhập khẩu, Phòng Tiền tệ Kho quỹ, Phòng Giao dịch Tây

Hồ, Phòng giao dịch Tây Đơ, Phòng giao dịch Nguyễn Du,Phòng Thơng tin

Điện tốn, Phòng Quản lý rủi ro và nợ có vấn đề, Phòng Tổ chức hành

chính, Tổ thẻ và Dịch vụ Ngân hàng điện tử.

Theo đó, Phòng Khách hàng cá nhân quản lý trực tiếp các Phòng

giao dịch cấp 2, các quỹ tiết kiệm; Tổ thẻ và ngân hàng điện tử quản lý trực

tiếp hệ thống máy ATM, hệ thống máy cà thẻ EDC. Riêng Phòng khách

hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ có chức năng “ Là phòng nghiệp vụ trực

tiếp giao dịch với khách hàng là các DNVVN theo phân loại quy mô Khách

hàng doanh nghiệp của NHCT và các khách hàng khác, theo sự phân cơng

của Giám đốc Chi nhánh Ba Đình…thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến

tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp…”. Bên cạnh các phòng



36



ban tổ chức trực thuộc Ban giám đốc, Chi nhánh Ba Đình còn có các tổ

chức đoàn thể như Đảng ủy, Công đoàn , Đoàn thanh niên Cơ sở … Để

thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, Chi nhánh Ba Đình thành lập các ban

như: Ban thanh tra nhân dân, hội đồng tín dụng, hội đồng giảm miễn lãi,

hội đồng xử lý và thu hồi nợ xấu …

Có thể tóm tắt cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ba Đình theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1: Mơ hình tổ chức Chi nhánh Ba Đình



Ban giám đốc



Khối kinh

doanh



Điểm mạnh



Khối dịch vụ



Khối hỗ trợ



Khối quản lý

rủi ro



Khối kỹ thuật



Chi nhánh BaTổĐình

có trụ sở chính đóng tạiPhòng

Quận

Hoàn Kiếm, nhưng

thẻ và dịch

quản lý



Phòng khách

hàng doanh

trước

nghiệp

lớn đây



trụ sở



vụ Ngân hàng

chínhđiệnđóng

tử



tại



Phòng Tổ chức

hànhphố

chính Đội

126



rủi ro và nợ có

Cấnvấnthuộc

đề



Quận



Phòng thơng tin

điện tốn

Ba Đình,



trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, so với các địa bàn khác



Phòng khách

hàng

DNdân

vừa

thì

và nhỏ



Phòng kế tốn



Phòng Tổng



cư đơng, cơ sởgiao

hạdịch

tầng tốt, kinhhợptế phát triển, nên có nhiều lợi thế về



huy động vốn, đầu tư cho vay cũng như phát triển đa dạng các dịch vụ ngân

Phòng

KháchĐặc

hàng.

hàng cá nhân



tiềnDNVVN

tệ

biệt, đây là địa bàn có Phòng

nhiều

hoạt động, là lợi thế để

kho quỹ



Chi nhánh Ba Đình mở rộng tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp này.

nhiều

CácTrong

phòng giao

dịch loại II



năm hoạt động, Chi nhánh Ba Đình đã thiết lập mối



quan hệ truyền thống với nhiều khách hàng là các tập đoàn kinh tế, tổng

cơng

Phòng

thanhty và các doanh nghiệp có tiềm lực mạnh,

tốn xuất nhập

khẩu nhọn của Đất nước, trở thành các khách hàng

mũi



thuộc các ngành kinh tế

chiến lược trong quan hệ



tín dụng, huy động vốn, cung cấp các dịch vụ ngân hàng của Chi nhánh Ba



Các phòng giao

dịch

loại I

Đình.



Chi nhánh Ba Đình có lịch sử hình thành và phát triển trên 50 năm,

trải qua những bước thăng trầm, đến nay đã vươn lên trở thành một trong

những chi nhánh ngân hàng hàng đầu trong hệ thống NHCT, trong suốt q



37



trình đó, Ban lãnh đạo Chi nhánh đã rút ra những bài học quan trọng trong

công tác chỉ đạo điều hành, trong tổ chức hoạt động kinh doanh để vượt

qua khó khăn thách thức, đi đến những thành cơng.

Điểm yếu

Chi nhánh Ba Đình có đội ngũ cán bộ, nhân viên đông (293 cán bộ

nhân viên), thuộc nhiều thế hệ, số cán bộ cao tuổi chiếm tỷ trọng khá lớn,

trong đó một bộ phận khơng nhỏ được đào tạo khơng bài bản, trình độ

chun mơn nghiệp vụ hạn chế. Để đáp ứng yêu cầu công việc, trong vài

năm gần đây rất nhiều cán bộ có trình độ cao chuyển về cơng tác tại NHCT,

trong khi yêu cầu công việc ngày càng lớn và phức tạp, vì vậy rất khó khăn

trong triển khai cơng việc.

Hệ thống mạng lưới của chi nhánh chủ yếu là các quỹ tiết kiệm được

lập ra từ nhiều năm trước, mặt bằng, cơ sở vật chất thấp, không đáp ứng

được các tiêu chuẩn màng lưới của NHCT, thực tế cũng không hấp dẫn

khách hàng khi so sánh với các điểm giao dịch mới được thành lập của các

NHTM khác.

Do lịch sử để lại, Chi nhánh Ba Đình đang tồn tại một số khoản nợ

xấu, nợ dưới chuẩn, phần lớn thuộc các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động

trong các ngành xây lắp, giao thơng, vận tải biển, có tỷ trọng cho vay

khơng có tài sản bảo đảm cao, mà khả năng thu hồi gặp nhiều khó khăn,

những năm gần đây thường xuyên phải trích lập dự phòng rủi ro cao, ảnh

hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của Chi nhánh.

2.1.3. Sơ lược tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ba Đình

những năm gần đây

Những năm gần đây, hoạt động ngân hàng trở thành một trong những

lĩnh vực có sự cạnh tranh gay gắt nhất. Cùng với sự có mặt của rất nhiều

NHTM cổ phần ngoài quốc doanh là sự xâm nhập thị trường của các Ngân



38



hàng nước ngoài. Đối thủ cạnh tranh trên gây sức ép khá lớn đến NHCT

nói chung và Chi nhánh Ba Đình nói riêng do họ có khá nhiều lợi thế về

cơng nghệ, con người, trình độ quản lý…

Cùng với khó khăn về cạnh tranh là sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu

làm cho lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng càng trở nên khó khăn hơn. Tuy

nhiên, Chi nhánh Ba Đình đã đạt được một số thành quả nhất định.

2.1.3.1. Về công tác huy động vốn



39



Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh Ba Đình

Chỉ tiêu



Năm

2007

Số dư



Năm 2008

Tỷ lệ

tăng

(%)



Số





+/- so

với

2008



Năm 2010



1. Tổng nguồn



5.141



+/so

với

2007

4.493 -648



vốn

- Tiền gửi VNĐ



4.040



3.411 -629



-15.6 4.190 779



22.8



6.938 2748



65.5



1.082 -19



-1.7



28.3



1.296 -92



-6.6



- Tiền gửi ngoại tệ 1.101



Số





Năm 2009

Tỷ lệ

tăng

(%)



Số





-12.6 5.578 1.085



24.1



8234



2656



47.6



1.388 306



+/- so Tỷ lệ

với

tăng

2009 (%)



quy VNĐ

2. Cơ cấu nguồn

vốn

- Tiền gửi TCKT



2.817



2.188 -629



-22.3 3.047 859



39



4.890 1843



60.4



- Tiền gửi dân cư



2.324



2.305 -19



-0.8



7.6



3.103 622



25



2481



176



(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2007, 2008, 2009,

2010-Chi nhánh Ba Đình)

Năm 2008 nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói

riêng phải đối mặt với những khó khăn thách thức lớn nhất trong hơn một

thập kỷ qua do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thối kinh

tế toàn cầu. Chi nhánh Ba Đình cũng khơng tránh khỏi vòng xốy của cuộc

khủng hoảng đó. Do vậy, nguồn vốn huy động của Chi nhánh có sự sụt

giảm đáng kể:

- Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2008 đạt 4.493 tỷ đồng,

giảm 648 tỷ đồng so với 31/12/2007, tương ứng với tỷ lệ giảm 12,6%.

Trong đó:

o Tiền gửi VNĐ: 3.410 tỷ đồng, giảm 629 tỷ đồng so với năm 2007.

o Tiền gửi ngoại tệ qui VNĐ: 1.082 tỷ đồng, giảm 19 tỷ đồng so

với năm 2007.



40



- Về cơ cấu nguồn vốn huy động:

o Tiền gửi của các Tổ chức kinh tế đạt: 2.188 tỷ đồng, chiếm tỷ

trọng 48,7% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 629 tỷ đồng so với

31/12/2007 tương đương 22,3%.

o Tiền gửi dân cư đạt: 2.305 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 51,3% trong

tổng nguồn vốn huy động, giảm 19 tỷ đồng so với 31/12/2007 tương

đương 0,8%.

- Tổng nguồn vốn huy động bình quân năm 2008 của Chi nhánh Ba

Đình đạt 4.535 tỷ đồng, giảm 8,3% so với vốn huy động bình quân năm

trước.

Năm 2009, tuy không dồn dập với những sự kiện bất thường như

năm 2008 nhưng năm qua cũng là một năm kinh doanh không mấy thuận

lợi đối với các DN nói chung và hệ thống NHTM nói riêng, đặc biệt là

trong những tháng đầu năm.

Nền kinh tế có nhiều biến động, nguồn vốn luôn căng thẳng, cạnh

tranh lãi suất giữa các Ngân hàng diễn ra quyết liệt. Mặc dù NHCT có

mạng lưới rộng hoạt động rộng khắp đất nước nhưng lãi suất huy động thấp

hơn so với các NHTM trên địa bàn, nên việc thu hút tiền gửi khó khăn hơn,

đặc biệt là tiền gửi dân cư. Hơn nữa, trên thị trường cũng có nhiều kênh

đầu tư sinh lời khác như: chứng khoán, vàng, bất động sản, nên nguồn vốn

bị san sẻ. Nhưng với sự nỗ lực, quyết tâm cao của Ban Giám đốc và toàn

thể CBNV Chi nhánh nên kết thúc năm 2009, nguồn vốn huy động của Chi

nhánh vẫn đạt tỷ lệ tăng trưởng 24,1%

- Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2009 đạt 5.578 tỷ đồng,

tăng 1.085 tỷ đồng, tương đương tốc độ tăng 24,1% so với 31/12/2008.

Trong đó:



41



o Tiền gửi VNĐ: 4.190 tỷ đồng, tăng 779 tỷ đồng;

o Tiền gửi ngoại tệ qui VNĐ: 1.388 tỷ đồng, tăng 306 tỷ đồng.

- Về cơ cấu nguồn vốn huy động:

o Tiền gửi của các Tổ chức kinh tế đạt: 3.047 tỷ đồng, chiếm tỷ

trọng 54,6% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 859 tỷ đồng so với

31/12/2008 tương đương 39%.

o Tiền gửi dân cư đạt: 2.481 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 44,4% trong

tổng nguồn vốn huy động, tăng 176 tỷ đồng so với 31/12/2008 tương

đương 7,6%.

- Tổng nguồn vốn huy động bình quân năm 2009 của Chi nhánh Ba

Đình đạt 4.912 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 8,3% so với vốn huy động

bình quân năm trước.

Năm 2010, hoạt động kinh doanh của ngành Ngân hàng đã trải qua

một giai đoạn hết sức khó khăn do việc thực hiện các chính sách tiền tệ, tín

dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm hạn chế những biến động phức tạp

của thị trường, ổn định thị trường ngoại hối, vàng và lãi suất. Hàng loạt các

biện pháp được Ngân hàng Nhà nước áp dụng như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt

buộc, phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc, liên tục điều

chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn...đã làm cho

hoạt động kinh doanh tiền tệ – tín dụng của các ngân hàng thương mại gặp

rất nhiều khó khăn. Theo đó, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại

càng trở nên gay gắt và bùng nổ, cuộc đua lãi suất tiền gửi tiết kiệm, lãi

suất cho vay và kể cả việc giành giật các khách hàng là tổ chức có nguồn

tiền gửi đã được các ngân hàng áp dụng triệt để. Hoạt động sản xuất kinh

doanh của nền kinh tế nói chung chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng kinh

tế Thế giới đã tác động lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tuy



42



nhiên, với việc điều chỉnh lãi suất tiền gửi tiết kiệm linh hoạt cùng với sự

mở rộng quy mơ tín dụng nên Chi nhánh Ba Đình vẫn có được tỷ lệ tăng

47% trong tổng nguồn vốn, cụ thể:

- Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2010 đạt 8.234 tỷ đồng,

tăng 1.085 tỷ đồng, tương đương tốc độ tăng 47% so với 31/12/2009. Trong

đó:

o Tiền gửi VNĐ: 6.938 tỷ đồng, tăng 2.748 tỷ đồng;

o Tiền gửi ngoại tệ qui VNĐ: 1.294 tỷ đồng, giảm 92 tỷ đồng.

- Về cơ cấu nguồn vốn huy động:

o Tiền gửi của các Tổ chức kinh tế đạt: 4.890 tỷ đồng, chiếm tỷ

trọng 59.38% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 1.843 tỷ đồng so với

31/12/2009 tương đương 60.48%.

o Tiền gửi dân cư đạt: 3.103 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 40,62% trong

tổng nguồn vốn huy động, tăng 622 tỷ đồng so với 31/12/2009 tương

đương 25%.

- Tổng nguồn vốn huy động bình quân năm 2010 của Chi nhánh Ba

Đình đạt 6.906 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 40,59% so với vốn huy

động bình quân năm trước.

2.1.3.2. Về cơng tác tín dụng



43



Bảng 2.2: Tình hình cho vay tại Chi nhánh Ba Đình

Đơn vị: Tỷ đồng

2007



2008



Chỉ tiêu

Số dư



Số dư



2.643



3.201



1.844

799

2.643

2.195

448

2.643



đảm bảo.

- Cho vay có đảm bảo

bằng tài sản.

- Cho vay khơng có đảm



DƯ NỢ

1. Dư nợ theo loại tiền.

- Cho vay bằng VNĐ

- Cho vay bằng ngoại tệ

2. Dư nợ theo thời gian.

- Cho vay ngắn hạn

- Cho vay trung, dài hạn

3. Dư nợ theo tài sản



bảo bằng tài sản.

CHẤT LƯỢNG



+/-so



2009

Tỷ lệ

tăng



Số dư



558



(%)

21,1



3.734



2.213

988

3.201

2.087

1.114

3.201



369

189

558

-108

666

558



20

23,7

21,1

-4,9

148,7

21,1



1.068



1.793



725



1.575



1.408



114

5,4

21

0,79

8

0,3

11

0,4



38

1,18

75

2,3

26

0,8

0,14

0,004



+/-so



2010

Tỷ lệ

tăng



Số dư



553



(%)

16,7



5.660



2.782

952

3.734

2.426

1.308

3.734



569

-36

553

339

194

553



25,7

-3,6

16,7

16,2

17,4

16,7



67,9



2.520



727



40



-167



-10,6



1.214



-194



-13,8



28,4



-76



-52,7



530



1.394



54



257



-69



-92



18



225



-14



-53,8



-10,86



-99



568

15,2

6

0,16

12

0,32

11

0,29



0



0



784.9

13.86

580.3

10.25

21.3

0.37

0

0



2007



2008



+/-so

2009



3.963

1.697

3,517

2,143







NỢ

1. Nợ nhóm II

Tỷ trọng/tổng dư nợ(%)

2. Nợ nhóm III

Tỷ trọng/tổng dư nợ(%)

3. Nợ nhóm IV

Tỷ trọng/tổng dư nợ(%)

4. Nợ nhóm V

Tỷ trọng/tổng dư nợ(%)



Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2007, 2008, 2009,

2010-Chi nhánh Ba Đình)

Dư nợ đến 31/12/2008 của Chi nhánh Ba Đình đạt 3.201 tỷ

đồng( trong đó cho vay bằng ngoại tệ là 988 tỷ đồng), tăng 588 tỷ đồng so với

năm 2007.

Năm 2008 là một năm khó khăn đối với nhiều doanh nghiệp cũng

như các Ngân hàng thương mại. Tình hình sản xuất kinh doanh của nhiều

doanh nghiệp lâm vào tình trạng bế tắc do ảnh hưởng của cuộc khủng

hoảng kinh tế toàn cầu và khu vực. Tại Chi nhánh Ba Đình, khối các doanh

nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao thơng vận tải vốn đã khó khăn từ



44



Tỷ lệ

tăng

(%)



những năm trước nay tiếp tục bộc lộ nhiều yếu kém, nợ xấu khơng có dấu

hiệu được cải thiện. Thêm vào đó, khối các doanh nghiệp vận tải biển rơi

vào tình trạng hết sức khó khăn do doanh thu giảm mạnh, chi phí đầu vào

tăng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng.

Trước tình hình đó, Ban Giám đốc đã chỉ đạo sát sao, nắm bắt kịp

thời hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp để đưa ra

biện pháp xử lý. Do vậy nợ nhóm II giảm 76 tỷ đồng so với năm 2007

( tương ứng với tỷ lệ giảm 52,7%), nợ nhóm V giảm 10,86 tỷ đồng ( tương

ứng với tỷ lệ giảm 99%).

Đứng trước tình hình đó, Chi nhánh đã xác định hướng đi cho hoạt

động tín dụng năm 2009 là tăng trưởng luôn phải gắn liền với việc nâng

cao chất lượng tín dụng; tập trung thu hồi nợ xấu, nợ ngoại bảng. Kết quả

là:

- Dư nợ cho vay nền kinh tế đến 31/12/2009 đạt 3.734 tỷ đồng,

tăng 553 tỷ, đạt tốc độ tăng 17,5%;

- Thu hồi 69 tỷ đồng nợ nhóm III và 14 tỷ đồng nợ nhóm IV, làm

giảm tỷ trọng nợ nhóm III và IV trên tổng dư nợ còn 0,16% và 0,32%;

- Số tiền trích lập dự phòng rủi ro là 35,5 tỷ đồng, giảm 18,6 tỷ

đồng so với số phải trích năm 2008.

Năm 2010, thực hiện mục tiêu của Ngân hàng thương mại cổ

phần Công thương Việt Nam về việc nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế

tăng trưởng dư nợ, do đó kết quả tín dụng của chi nhánh như sau:

Tổng dư nợ đầu tư cho vay nền kinh tế đến 31/12/2010 đạt 5660 tỷ

đồng, đạt 94,5% kế hoạch NHTMCP CTVN giao

Trong đó:

Dư nợ cho vay VNĐ: 3.963 tỷ

Dư nợ cho vay ngoại tệ quy VNĐ: 1.697 tỷ



45



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NHCT BA ĐÌNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×