Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng

Có thể phân loại tín dụng ngân hàng theo một số tiêu thức phổ biến sau:

 Phân loại theo nghiệp vụ

-



Nghiệp vụ cho vay



Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho

khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất

định theo thỏa thuận với nguyên tắc khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi

cho ngân hàng.

Khách hàng vay vốn phải tuân thủ nguyên tắc là sử dụng vốn vay

đúng mục đích, hoàn trả vốn vay cả gốc và lãi đúng thỏa thuận trong hợp

đồng tín dụng.

Khách hàng phải đáp ứng các điều kiện vay vốn do từng NHTM đưa

ra nhằm kiểm soát mức độ an toàn vốn vay. Điều kiện vay vốn về cơ bản

dựa trên các điều kiện chính là tư cách khách hàng phải tốt, có uy tín trong

quan hệ vay vốn, có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi

dân sự; có khả năng tài chính về vốn và tài sản đảm bảo khả năng trả nợ

theo cam kết; có phương án, dự án về sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời

sống khả thi, đảm bảo nguồn thu để trả nợ ngân hàng; có tài sản đảm bảo

hợp pháp đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ. Các NHTM cũng có thể đưa ra các

điều kiện vay vốn khác để áp dụng cho từng sản phẩm cho vay khác nhau

cũng như những nhóm khách hàng có tính chất khác nhau nhằm đạt được

mục tiêu chiến lược của mình. Ví dụ điều kiện về bảo đảm tiền vay thì ngân

hàng có thể áp dụng điều kiện cho vay có bảo đảm bằng tài sản là cầm cố,

thế chấp tài sản hay bảo lãnh của bên thứ ba, nhưng ngân hàng cũng có thể

cho vay khơng có bảo đảm đối với những khách hàng tốt trong từng trường

hợp cụ thể.

Việc xác định thời hạn cho vay khác nhau thường phụ thuộc vào các

yếu tố như nguồn trả nợ của khách hàng, nguồn vốn cho vay của ngân



10



hàng. Thời hạn cho vay khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau, thời hạn

vay vốn càng dài thì rủi ro càng lớn, để bù đắp rủi ro thời hạn, các NHTM

thường xác định lãi suất cho vay cao hơn đối với các khoản vay có thời hạn

dài hơn và ngược lại.

Để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, các NHTM đưa ra

nhiều sản phẩm vay vốn khác nhau nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu khách

hàng và đem lại hiệu quả cho ngân hàng. Các NHTM đưa ra các sản phẩm

cho vay đa dạng giúp cho khách hàng có cơ hội lựa chọn tốt nhất, khuyến

khích được nhu cầu vay vốn của khách hàng như cho vay trả góp, cho vay

mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn lưu

động cho sản xuất kinh doanh, cho vay trung và dài hạn để đáp ứng nhu

cầu vốn đầu tư cho các dự án …

- Bảo lãnh ngân hàng

Là một hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng thay mặt cho

khách hàng của mình cam kết với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ

tài chính thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đúng nghĩa

vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng còn được gọi là

tín dụng chữ ký.

Các loại bảo lãnh: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh

dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản

phẩm, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo

lãnh, các loại bảo lãnh khác pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệ

quốc tế. Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, bên bảo lãnh có thể cam kết bảo

lãnh một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ.

Để cấp bảo lãnh cho khách hàng, NHTM thường quy định chi tiết về

các vấn đề liên quan tới nghiệp vụ bảo lãnh như: Điều kiện bảo lãnh, hồ sơ

đề nghị bảo lãnh, hợp đồng cấp bảo lãnh, hình thức và nội dung bảo lãnh,

đồng bảo lãnh, bảo lãnh cho một nghĩa vụ mà nhiều khách hàng cùng tham



11



gia thực hiện và cùng chịu trách nhiệm liên đới, thẩm quyền ký phát hành

cam kết bảo lãnh, bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng đối với TCTD bảo

lãnh, phí bảo lãnh, trình tự và thủ tục cấp bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh, miễn

thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt, ngôn ngữ sử

dụng, áp dụng các điều ước và tập quán quốc tế trong giao dịch bảo lãnh

khi có bên nước ngoài tham gia, quyền và nghĩa vụ của các bên, thực hiện

nghĩa vụ bảo lãnh, chế độ kiểm tra, giám sát đối với hoạt động bảo lãnh…

- Tín dụng chứng từ (Documentary letter of credit - L/C):

Là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng thay mặt khách hàng

của mình cam kết với người thụ hưởng về việc thanh toán hoặc chấp nhận

thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá trị L/C nếu người thụ hưởng xuất

trình chứng từ thanh tốn phù hợp với các điều khoản, điều kiện được quy

định trong L/C. Thư tín dụng được sử dụng phổ biến như là một phương

thức thanh toán, nhất là trong thanh toán Quốc tế. Để có cơ sở cam kết với

người thụ hưởng L/C thì ngân hàng phải đảm bảo nguồn vốn thanh toán từ

người đề nghị mở L/C hoặc ngân hàng cấp tín dụng cho người đề nghị mở

L/C đó.

- Chiết khấu thương phiếu:

Thương phiếu là một công cụ thương mại xác nhận cho người thụ

hưởng một trái quyền ngắn hạn về tiền đối với người phải trả. Trên thương

phiếu xác định rõ số tiền và thời gian đến hạn phải thanh tốn. Ngày nay nó

đang trở thành một cơng cụ phổ biến, mang tính thống nhất cao.

Cá nhân hay tổ chức được thụ hưởng thương phiếu có thể giữ đến

ngày đáo hạn hoặc trong hạn mang đến các NHTM xin chiết khấu để lấy

được một số tiền nhỏ hơn số tiền ghi trên thương phiếu. Các NHTM nhận

chiết khấu có thể đem thương phiếu này đến NHNN xin chiết khấu lại (tái

chiết khấu) với chi phí hợp lý.



12



Đây là một nghiệp vụ khá đơn giản của NHTM, không phát sinh

nhiều chi phí khi thực hiện và có độ an toàn cao. Thương phiếu có thời hạn

ngắn và độ an toàn cao nên cũng có tính thanh khoản cao từ đó làm tăng

khả năng luân chuyển vốn của chủ sở hữu thương phiếu cũng như các

NHTM.

- Ngoài ra còn các hình thức tín dụng khác như: cho thuê tài chính…

 Dựa vào thời hạn tín dụng

Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:

- Cho vay ngắn hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn dưới 01

năm. Thông thường, những khoản vốn này tài trợ cho những nhu cầu vốn

lưu động thiếu hụt tạm thời hay theo chu kỳ sản xuất kinh doanh;

- Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 01 năm đến 05

năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài

sản cố định;

- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 05 năm. Mục

đích của loại cho vay này thường là đầu tư nhằm vào các Dự án đầu tư.

 Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng

Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:

- Cho vay khơng có đảm bảo: Là loại cho vay khơng có tài sản cầm

cố, thế chấp hay bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản

thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay

- Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo

cho khoản vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng

Chất lượng tín dụng là phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng

tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng. Để phản ánh về chất lượng tín

dụng, người ta thường quan tâm đến một số chỉ tiêu như: Tỷ lệ nợ quá hạn,



13



tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo. Ngoài ra, để

đánh giá định tính về chất lượng tín dụng, người ta quan tâm đến: cơ cấu

dư nợ vay ngắn- trung và dài hạn trong tương quan cơ cấu nguồn vốn của

tổ chức tín dụng, dư nợ cho vay đối với các ngành, lĩnh vực rủi ro cao tại

thời điểm đó như: bất động sản, chứng khốn, kinh doanh nơng thuỷ sản…

Tại Việt Nam, NHNN VN đã đưa chất lượng tín dụng vào làm một

chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu về chất lượng hoạt động khi xếp hạng các

TCTD. Chất lượng tín dụng của NHTM được phản ánh thơng qua các chỉ

tiêu sau:

 Tỷ lệ nợ quá hạn = (Nợ quá hạn / tổng dư nợ) x 100%

 Tỷ lệ nợ nhóm 2 = (Dư nợ của các khoản nợ nhóm 2/ tổng dư nợ)

x100%

 Tỷ lệ nợ xấu = (Dư nợ của các khoản nợ nhóm 3 trở lên / tổng dư

nợ) x 100%

 Tỷ lệ cho vay có tài sản bảo đảm = (Dư nợ cho vay có bảo đảm /

tổng dư nợ) x 100%

Theo Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử

lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng ban hành

kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống

đốc NHNN VN và Quyết định sửa đổi bổ sung số 18/2007/QĐ-NHNN

ngày 25/04/2007, các TCTD phân loại nợ thành 05 nhóm như sau:

 Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi

đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;

- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả

năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng

thời hạn còn lại;



14



- Các khoản nợ quá hạn nhưng đã trả nợ gốc và lãi quá hạn và nợ

gốc và lãi của các kỳ hạn tiếp theo (tối thiểu 06 tháng đối với khoản vay

trung dài hạn và 03 tháng đối với nợ ngắn hạn) kể từ ngày bắt đầu trả nợ

gốc và lãi bị quá hạn.

 Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;

- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.

 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ

điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;

- Các khoản nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả

năng trả lãi đầy đủ theo Hợp đồng tín dụng.

 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90

ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.

 Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90

ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo

thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ 2;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả

chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.



15



Nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm sốt rủi ro cũng như để bù

đắp tổn thất đối với những khoản nợ của tổ chức tín dụng, tương ứng với

mỗi nhóm nợ nêu trên, NHNN quy định một tỷ lệ trích lập dự phòng lần lượt

là 0%, 5%, 20%, 50%, 100% ( có tính đến tỷ lệ khấu trừ tài sản đảm bảo).

Như vậy, việc duy trì một tỷ lệ tối đa nợ nhóm 1 ln là mục tiêu đặt

ra đối với các NHTM nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả

cao nhất

1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHO

1.2.1. Khái niệm

Hiện nay, trên thế giới chưa có một khái niệm chung về loại hình

DNVVN mà tuỳ thuộc đặc điểm của từng Quốc gia, từng giai đoạn phát

triển kinh tế mà đưa ra những quy định về DNVVN. Khi định nghĩa về

DNVVN, các nước thường căn cứ vào quy mô về vốn của doanh nghiệp, số

lao động thường xuyên tại doanh nghiệp, tổng doanh thu, tổng tài sản…

của doanh nghiệp. Chung quy lại mỗi quốc gia sử dụng những tiêu thức hay

có cách kết hợp các tiêu thức trên khác nhau mà đưa ra định nghĩa riêng về

DNVVN.

Trên thế giới, không chỉ tiêu chuẩn để phân loại các doanh nghiệp

khác nhau mà ngay cả cách phân loại doanh nghiệp cũng khác nhau. Có

nước phân ra bốn loại doanh nghiệp như: Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp

vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn. Có nước phân loại doanh

nghiệp thành: Doanh nghiệp siêu nhỏ (thường là kinh tế hộ gia đình),

doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp

cực lớn. Có nước (như Mỹ), chỉ những DNVVN độc lập thì mới là

DNVVN, nhưng cũng có nước tính cả DNVVN là thành viên của các cơng

ty lớn cũng là DNVVN.

Nhìn chung trên thế giới, hai tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến để

phân loại doanh nghiệp là số lao động sử dụng và số vốn. Trong hai tiêu



16



chuẩn ấy, khá nhiều nước coi tiêu chuẩn về số lao động sử dụng là quan

trọng hơn. Theo Liên minh Châu Âu, DNVVN là doanh nghiệp có số lượng

cơng nhân khơng vượt q 250. Tại Úc, DNVVN là doanh nghiệp có số

lượng cơng nhân tối đa khơng vượt q 300, còn tại Mỹ là khơng quá 1000.

Trong cùng một khu vực, khái niệm DNVVN cũng có sự khác nhau. Tại

Nam Phi, DNVVN là doanh nghiệp có từ 1đến 500 cơng nhân. Tại Chilê và

Colombia con số này là 11 đến 200. Trong khi đó tại Mexico thì một doanh

nghiệp có 500 cơng nhân vẫn được coi là DNVVN.

Riêng ở Việt Nam hiện nay, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế

của đất nước cùng với yêu cầu bức thiết trong vần đề hỗ trợ phát triển đối

với các DNVVN, ngày 30/06/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số

56/2009/NĐ- CP ( thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ- CP ngày

23/11/2001) về “ Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Theo đó,

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo

quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô

tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định

trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân

năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Quy mơ

Khu vực



I. Nơng, lâm

nghiệp và thủy

sản

II. Công

nghiệp và xây

dựng

III. Thương

mại và dịch vụ



Doanh

nghiệp

siêu nhỏ

Số lao

động



Doanh nghiệp nhỏ



Tổng

nguồn vốn



Số lao

động



Tổng

nguồn vốn



10 người

trở xuống



20 tỷ đồng

trở xuống



10 người

trở xuống



20 tỷ đồng

trở xuống



10 người

trở xuống



10 tỷ đồng

trở xuống



từ trên 10

người đến

200 người

từ trên 10

người đến

200 người

từ trên 10

người đến



từ trên 20 tỷ

đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 20 tỷ

đồng đến

100 tỷ đồng

từ trên 10 tỷ

đồng đến 50



17



Doanh nghiệp vừa



Số lao động

từ trên 200

người đến

300 người

từ trên 200

người đến

300 người

từ trên 50

người đến



50 người



tỷ đồng



100 người



So với Nghị định 90/2001/NĐ-CP, khái niệm về DNVVN đã được cụ

thể hoá hơn rất nhiều. Điều này cũng phù hợp với thực tiễn và đỡ “thiệt

thòi” hơn cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành Thương mại, dịch vụ.

1.2.2. Đặc điểm của các DNVVN

DNVVN có những đặc điểm khá đặc thù so với các loại hình doanh

nghiệp khác trong nền kinh tế. Chúng ta có thể nhận ra những đặc điểm nổi

bật của các DNVVN mang lại cho các doanh nghiệp này những ưu thế

cũng như những hạn chế như sau:

 Ưu thế

- Thứ nhất, DNVVN dễ dàng khởi sự và linh hoạt, năng động nhạy

bén, dễ thích ứng với thị trường

DNVVN chỉ cần có một số vốn hạn chế, một mặt bằng nhỏ hẹp là đã

có thể khởi sự kinh doanh được. Với vòng quay sản phẩm nhanh, quy mơ

nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ các doanh nghiệp có thể chuyển đổi hướng

sản xuất kinh doanh, và phản ứng nhanh nhạy trước thị trường khi có

những biến đổi bất lợi cho doanh nghiệp. DNVVN thường có mối liên hệ

trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ, có thể nắm bắt được cả những

yêu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương. Vì vậy DNVVN vó thể

khai thác hết sức mạnh và khả năng của mình đạt hiệu quả kinh tế cao

- Thứ hai, DNVVN dễ quản lý

DNVVN có quy mơ vừa và nhỏ, với số lượng vốn, lao động không

nhiều, việc tổ chức tương đối gọn nhẹ và khơng có q nhiều khâu trung

gian nên việc quản lý tài chính cũng như quản lý nhân sự được thực hiện dễ

dàng hơn.

- Thứ ba, chi phí cố định thấp, linh hoạt trong việc sử dụng và thay

đổi công nghệ

DNVVN chỉ cần đầu tư nhỏ về tài sản cố định, có thể sử dụng máy



18



móc thiết bị trong nước, dễ dàng thay đổi công nghệ đổi mới trang thiết bị

kỹ thuật mà khơng tốn kém nhiều chi phí, có thể kết hợp cả công nghệ

truyền thống và công nghệ hiện đại, sản xuất chất lượng cao trong điều kiện

sản xuất khơng thuận lợi. DNVVN có lợi thế hơn doanh nghiệp lớn khi mà

việc thay đổi theo kịp công nghệ mới sẽ đồng nghĩa với việc thay đổi đồng

loạt hoặc toàn bộ một số lượng lớn các trang thiết bị máy móc với số vốn

đầu tư khơng nhỏ.

- Thứ tư, DNVVN có thể phát huy được tiềm lực trong nước

Do việc sản xuất của doanh nghiệp lớn thường cần trữ lượng nguyên

vật liệu lớn nên nhiều khi việc sử dụng nguyên liếu sẵn có tại các địa

phương thường gặp khó khăn do lượng dự trữ thấp không đảm bảo cho sản

xuất. Trong khi đó DNVVN có thể tận dụng được những lợi thế này.

- Cuối cùng, DNVVN còn có những ưu thế như: Dễ phát huy bản

chất hợp tác, đa dạng về lĩnh vực hoạt động, có mặt ở khắp các vùng lãnh

thổ…

 Hạn chế của DNVVN

- Khả năng tài chính của DNVVN hạn chế

Quy mơ vốn nhỏ là một đặc điểm mang tính chất hai mặt. Nó vừa

mang lại ưu thế như đã nêu trên cho các DNVVN, nhưng đồng thời cũng

đem lại khơng ít khó khăn cho họ. Khả năng tài chính là vấn đề quan ngại

của ngân hàng khi quyết định cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này,

vì vốn chủ sở hữu nhỏ và thường không đảm bảo về tài sản thế chấp và các

điều kiện khác cũng như báo cáo tài chính thường khơng rõ ràng, minh

bạch. Do vậy, các DNVVN khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng

chính thức của ngân hàng cũng như của các tổ chức tài chính khác… Chính

vì thế phần lớn các doanh nghiệp thường ở trong tình trạng thiếu vốn, dẫn

đến có thể bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh.



19



- Môi trường kinh doanh không thuận lợi, thị trường tiêu thụ sản

phẩm nhỏ và bấp bênh

Do có những hạn chế về vốn nên khả năng quảng bá và tiếp cận thị

trường trong nước cũng như nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn. Vốn ít,

cơng nghệ kém cũng đồng nghĩa với việc chất lượng về sản phẩm, dịch vụ

khơng đảm bảo và khó cạnh tranh với những sản phẩm của các doanh

nghiệp lớn cùng ngành.

- Thiếu thông tin

Cập nhật thơng tin, phân tích và đánh giá thị trường là một trong

những yếu tố rất quan trọng trong quản trị kinh doanh. Tuy nhiên, hầu hết

các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ không quan tâm đến vấn đề này. Do

khơng nắm bắt kịp thời tình hình về thị trường đầu vào, đầu ra cũng như

các quy định pháp luật liên quan nên các doanh nghiệp này thường dễ mất

tính chủ động.

- Trình độ quản lý và đội ngũ lao động còn nhiều hạn chế

Do phần lớn các DNVVN có không gian hoạt động tương đối nhỏ và

kĩ năng sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc gia đình vì

vậy trình độ quản lý và khả năng lập kế hoạch kinh doanh, tổ chức và triển

khai sản xuất kinh doanh còn mang tính tự phát.

Qua những đặc điểm của DNVVN, Chúng ta có thể thấy được vì sao

hầu hết các nước đều có những chiến lược nhằm hỗ trợ phát triển DNVVN.

Một trong những chính sách hỗ trợ của các nước nói chung và của Việt

Nam nói riêng đối với các doanh nghiệp này là chính sách trợ giúp tài

chính.

1.2.3. Vai trò của DNVVN đối với nền kinh tế

Ở mỗi quốc gia, vai trò của DNVVN được thể hiện khác nhau,

nhưng nhìn chung DNVVN thường có những vai trò chủ yếu sau:



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×