Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 KHÓ KHĂN, TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TECHCOMBANK

2 KHÓ KHĂN, TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TECHCOMBANK

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



46



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



Nhận xét chung về tình hình cho vay tại NH Techcombank:

Năm 2006, dư nợ cho vay đạt 13,867 tỷ đồng tính đến cuối năm, tăng

21,5% so với cuối năm 2005 và chiếm 41,76% tổng nguồn vốn huy động,

vượt kế hoạch đặt ra trong năm 2006.

Năm 2007, dư nợ cho vay đạt 20,188 tỷ đồng, tăng 45.6% so với cuối

năm 2006, đạt 128% kế hoạch năm 2007, chiếm 36,02% tổng nguồn vốn.

Năm 2008, dư nợ cho vay đạt 26,038 tỷ đồng, tăng 29% so với cuối

năm 2007, đạt 88% kế hoạch năm 2008. Sở dĩ tổng dư nợ cho vay năm 2008

không đạt được kế hoạch đã đặt ra là do tình trạng suy thoái kinh tế chung dẫn

đến giảm nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp cũng như tiêu dùng của cá thể,

hộ gia đình.

Cụ thể tình hình cho vay theo từng cách phân loại.

2.2.1.1 Tình hình cho vay theo loại hình doanh nghiệp

Biểu đồ 2.2: Tình hình cho vay theo loại hình doanh nghiệp

Năm 2006



Năm 2007



Năm 2008



Dựa vào biểu đồ cho thấy:



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



47



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



Cho vay quốc doanh: Năm 2006 là 10,291 tỷ đồng (chiếm 74.21 % tổng

dư nợ cho vay). Năm 2007 là 15,242 tỷ đồng (chiếm 70.55 % tổng dư nợ cho

vay). Năm 2008 là 17,641 tỷ đồng (chiếm 67.75% tổng dư nợ cho vay). Tỷ

trọng cho vay loại hình doanh nghiệp quốc doanh giảm dần qua 3 năm.

Cho vay ngoài quốc doanh: Năm 2006 là 3,576 tỷ đồng (chiếm 25.79%

tổng dư nợ cho vay). Năm 2007 là 4,946 tỷ đồng (chiếm 29.45 % tổng dư nợ

cho vay). Năm 2008 là 8,397 tỷ đồng (chiếm 32.25% tổng dư nợ cho vay). Tỷ

trọng cho vay loại hình doanh nghiệp ngồi quốc doanh tăng dần qua 3 năm.

2.2.1.2 Tình hình cho vay theo loại tiền tại NH Techcombank:

Biểu đồ 2.3: Tình hình cho vay theo loại tiền tại NH Techcombank:



Nhận xét về tình hình cho vay theo loại tiền:

Năm 2006, cho vay bằng VND là 6,537 tỷ đồng (chiếm 47.14 % trong

tổng dư nợ cho vay) và cho vay bằng ngoại tệ quy VND là 7,330 tỷ đồng

(chiếm 52.86 % trong tổng dư nợ cho vay).

Năm 2007, cho vay bằng VND là 11,016.16 tỷ đồng (chiếm 54.57 %

trong tổng dư nợ cho vay) và cho vay bằng ngoại tệ quy VND là 9,171.4 tỷ

đồng (chiếm 45.43 % trong tổng dư nợ cho vay).



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



48



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



Năm 2008, cho vay bằng VND là 13,742.86 tỷ đồng (chiếm 52.78 %

trong tổng dư nợ cho vay) và cho vay bằng ngoại tệ quy VND là 12,565.14 tỷ

đồng (chiếm 41.22 % trong tổng dư nợ cho vay).

Năm 2006, năm 2007: Dư nợ cho vay bằng ngoại tệ quy VND chiếm tỷ

trọng cao hơn cho vay bằng VND, kết quả này là do bên cạnh khách hàng có

nhu cầu vay bằng ngoại tệ ở NH cao hơn vay VND thì còn do xu hướng từ

năm 2004 của NH Techcombank có chính sách cho vay bằng ngoại tệ hỗ trợ

hoạt động xuất nhập khẩu.

Năm 2008: Dư nợ cho vay bằng VND chiếm tỷ trọng tăng hơn đáng kể

so với cho vay bằng ngoại tệ quy VND. Điều này là do: Nhu cầu vay của

khách hàng vay nhiều VND hơn và do cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng trong

năm 2008: Tỷ trọng nguồn vốn bằng VND cao hơn tỷ trọng nguồn vốn bằng

ngoại tệ: Nguồn vốn bằng VND là 12,346.534 tỷ đồng (chiếm 54,7% trong

tổng nguồn vốn); Nguồn vốn bằng ngoại tệ quy VND là 10,224.38 tỷ đồng

(chiếm 45,3% trong tổng nguồn vốn).



2.2.1.3 Tình hình cho vay theo thời hạn:

Biểu đồ 2.4: Tình hình cho vay theo thời hạn tại NH Techcombank



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



49



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



Nhìn vào biểu đồ cho thấy: Trong 3 năm từ 2006 – 2008, tỷ trọng cho

vay ngắn hạn đều lớn hơn nhiều so với tỷ trọng cho vay trung dài hạn: Năm

2006, cho vay ngắn hạn chiếm 73.19 % và cho vay trung dài hạn chiếm

26.81% trong tổng dư nợ cho vay. Năm 2007, cho vay ngắn hạn chiếm

76.89% và cho vay trung dài hạn chiếm 23.12 % trong tổng dư nợ cho vay.

Năm 2008, cho vay ngắn hạn chiếm 75.67 % và cho vay trung dài hạn chiếm

24.32 % trong tổng dư nợ cho vay. Sự chênh lệch lớn về tỷ trọng cho vay có

thể gây rủi ro cho NH khi tập trung quá nhiều vào cho vay ngắn hạn.

Sở dĩ có điều này là do: Thứ nhất, do nhu cầu vay của khách hàng chủ

yếu là vay ngắn hạn. Thứ hai, do khách hàng của Ngân hàng là những khách

hàng ít làm dự án. Thứ ba, do Ngân hàng cũng chưa đẩy mạnh đầu tư dự án

nên chủ yếu là cho vay ngắn hạn.



2.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại NH Techcombank.

Qua phân tích về tình hình hoạt động tín dụng của NH Techcombank có

thể thấy: Tín dụng tăng trưởng khá tốt qua các năm, cơ cấu cho vay ngày càng

hợp lý hơn. Tuy nhiên, để đánh giá tình hình tăng trưởng tín dụng có thực sự



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



50



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



bền vững khơng và chất lượng tín dụng có thực sự cao hay khơng thì cần phải

xem xét mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của NH được thể hiện đặc các

chỉ tiêu dưới đây:

2.2.2.1 Thực trạng nợ quá hạn

Nợ quá hạn là các khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ gốc và/hoặc lãi

đã quá hạn. Một khách hàng có nhiều khoản vay mà chỉ một khoản vay quá

hạn thì các khoản vay khác mặc dù chưa đến hạn thanh toán cũng bị chuyển

sang nợ quá hạn. Chỉ tiêu nợ quá hạn được xem xét theo bốn tiêu thức đó là:

Nợ quá hạn theo thời hạn, nợ quá hạn theo loại tiền, nợ quá hạn theo loại hình

doanh nghiệp, nợ quá hạn theo loại hình kinh tế.

 Thực trạng nợ quá hạn theo thời hạn

Ngân hàng đã phân loại nợ quá hạn theo thời hạn. Việc phân loại theo

cách này sẽ giúp Ngân hàng thấy được nợ quá hạn chủ yếu tập trung ở cho

vay ngắn hạn hay cho vay trung dài hạn và nguyên nhân là tại sao, từ đó sẽ

tiến hành cân đối được giữa các hình thức cho vay theo thời hạn và có các

biện pháp quản lý nợ cũng như các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro

hiệu quả, có thể xảy ra cho Ngân hàng.



Bảng 2.4 : Tình hình nợ quá hạn theo thời hạn

Năm 2006



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Năm 2007



Năm 2008



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



Chỉ tiêu



Số tiền

(tỷ đồng)



51



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



Tỷ lệ

NQH



Số tiền

(tỷ đồng)



Tỷ lệ

NQH



Số tiền

(tỷ đồng)



Tỷ lệ

NQH



Nợ quá hạn



105



2.46%



19.9



0.78%



20.15



0.75%



Nợ quá hạn



89.67



2.87%



2.997



0.15%



6.34



0.21%



15.33



1.33%



16.903



2.86%



13.81



2.18%



(ngắn hạn)

Nợ quá hạn

(trung, dài

hạn)



(Nguồn:Báo cáo kết quả hoạt động thường niên của NH Techcombank các

năm 2006-2008)

Năm 2006, NQH là 105 tỷ đồng, tăng 4.5 tỷ đồng so với năm 2005 về số

tuyệt đối, nhưng tỷ lệ NQH giảm xuống còn 2.46%. Năm 2007, NQH giảm

xuống còn 19.9 tỷ đồng, giảm 85.1 tỷ đồng so với năm 2006 và tỷ lệ NQH

giảm xuống rất nhiều còn 0.78%. Năm 2008, NQH là 20.15 tỷ đồng, tỷ lệ

NQH là 0.75 %. Tỷ lệ NQH giảm dần qua các năm, điều này chứng tỏ chất

lượng tín dụng nói chung ngày càng tăng, công tác quản lý nợ tại Ngân hàng

ngày càng tốt. Đạt được kết quả như vậy là do bộ phận tín dụng đã thực hiện

nghiêm túc quy trình cho vay đối với từng loại khách hàng, phân tách rõ ràng

chức năng, trách nhiệm của từng phòng ban trong bộ phận tín dụng, đảm bảo

các bước trong quy trình tín dụng được khách quan, hạn chế được sự thơng

đồng giữa cán bộ tín dụng và khách hàng vay. Ngồi ra đây còn là kết quả của

việc thực hiện kiểm tra, giám sát trước, trong và sau khi cho vay của bộ phận

tín dụng và bộ phận kiểm tốn nội bộ. Bên cạnh đó là sự nỗ lực rất lớn của

Ngân hàng trong việc chủ động tìm kiếm khách hàng có hoạt động kinh doanh

tốt để hỗ trợ vốn. Tìm kiếm các dự án kinh doanh khả thi.



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



52



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



Biểu đồ 2.5: Tình hình nợ qúa hạn theo thời hạn của NH Techcombank

Năm 2006



Năm 2007



Năm 2008



NQH ngắn hạn trong tổng NQH ở năm 2006, 2007 chiếm tỷ trọng rất lớn

(thể hiện rõ trên biểu đồ), NQH ngắn hạn chủ yếu tập trung ở ngành công

nghiệp chế biến, xây dựng, thương nghiệp, nông lâm nghiệp... Chứng tỏ chất

lượng một số khoản cho vay ngắn hạn còn chưa tốt. Nguyên nhân của sự gia

tăng NQH ngắn hạn: Thứ nhất là do các khách hàng vay gặp nhiều khó khăn:

Sức ép cạnh tranh từ hàng hố ngoại nhập do thực hiện các cam kết hội nhập

quốc tế, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, điều kiện tự nhiên bất lợi, tình trạng

tăng giá phổ biến nhất là giá vật tư, nguyên liệu, hàng tiêu dùng... Điều đó đã

ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của các ngành công nghiệp chế

biến, xây dựng... Thứ hai là theo việc phân loại nợ thì khi một khoản nợ của

khách hàng khi bị chuyển sang nhóm nợ q hạn thì các khoản vay khác chưa

đến hạn thanh toán cũng bị chuyển sang nhóm nợ có độ rủi ro cao hơn.

Nhưng năm 2008, NQH ngắn hạn chỉ có 6.34 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng rất nhỏ

trong tổng NQH. Điều này chứng tỏ chất lượng các khoản cho vay ngắn hạn

tốt lên. Tỷ lệ giữa nợ quá hạn ngắn hạn trong tổng dư nợ cho vay ngắn hạn

qua 3 năm có xu hướng giảm dần: 2.87% (năm 2006), 0.15% (năm 2007),



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



53



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



0,21% (năm 2008) chứng tỏ công tác cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng ngày

càng tốt.

NQH trung dài hạn: Xét về tỷ trọng NQH trung dài hạn: Năm 2006,

2007 NQH trung dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều so với tỷ trọng NQH

ngắn hạn (thể hiện ở biểu đồ). Kết quả như vậy là do NH chưa đẩy mạnh cho

vay dài hạn nên dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng dư

nợ cho vay. Mặt khác, tỷ trọng NQH trung dài hạn trên tổng NQH tăng dần

qua 3 năm từ chỗ chỉ chiếm 14.6 % (năm 2006), 84.94 % (năm 2007) lên đến

85.02 % (năm 2008) và tỷ lệ giữa nợ quá hạn trung dài hạn trong tổng dư nợ

cho vay trung dài hạn tăng lên từ 1.17% (năm 2005) lên đến 2.18% (năm

2008). Điều này cho thấy chất lượng các khoản cho vay trung dài hạn không

cao. NQH trung dài hạn tập trung ở một số ngành như ngành công nghiệp

khai thác mỏ, xây dựng cầu đường và giao thông... Những ngành này gặp khó

khăn trong hoạt động kinh doanh do chịu ảnh hưởng của sự biến động thị

trường như giá cả các nguyên vật liệu đầu vào tăng lên và sự bất lợi của điều

kiện tự nhiên..

 Thực trạng nợ q hạn theo loại hình kinh tế

Phân tích tình hình cho vay theo loại hình kinh tế sẽ cho thấy được tình

hình nợ quá hạn tập trung chủ yếu ở ngành nghề nào, nguyên nhân nào và từ

đó sẽ giúp NH phân bổ vốn tín dụng vào các ngành hợp lý hơn để vừa tối đa

hoá lợi nhuận vừa đảm bảo an tồn trong hoạt động cho vay.



Bảng 2.5: Tình hình nợ quá hạn theo ngành kinh tế



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



54



Năm 2006

Nợ quá hạn



Số tiền

(tỷ đồng)



Tỷ lệ

NQH



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



Năm 2007

Số tiền

(tỷ đồng)



Tỷ lệ

NQH



Năm 2008

Số tiền

(tỷ đồng)



Tỷ lệ

NQH



Nông lâm



0



0



0



0



0



0



CN chế biến



38.059



19.6%



15,126



1.01%



0



0



Xây dựng



2.142



1.18%



65.193



20.42%



0



0



Thương

nghiệp



9.12



0.84%



24.107



1.2%



3.847



0.22%



Vận tải kho



0



0



0



0



0



0



Loại hình KT

khác



47.179



2.48%



0.174



0.08%



16.053



8.38%



Tổng dư nợ



965



2.74%



105



2.46%



19.9



0.78%



(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động thường niên của NH Techcombank các

năm 2006-2008)

Nhìn vào bảng trên thấy:

Năm 2006 và năm 2007, tỷ trọng NQH trên tổng NQH ở bộ phận quốc

doanh chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với bộ phận ngoài quốc doanh bởi dư

nợ cho vay bộ phận quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với dư nợ

cho vay ngoài quốc doanh, khách hàng của NH chủ yếu là các doanh nghiệp

quốc doanh. Mặt khác, đối với khối doanh nghiệp quốc doanh thì việc cho

vay chủ yếu dựa trên uy tín chứ khơng phải là dựa trên TSBĐ. Mặc dù nợ quá

hạn ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ quá hạn nhưng xét tỷ

lệ giữa NQH quốc doanh với tổng dư nợ cho vay quốc doanh qua các năm

giảm dần: 3% (năm 2006), 2.41% (năm 2007), 0.11% (năm 2008). Điều này

cũng chứng tỏ bên cạnh thực hiện theo chủ trương hạn chế cho vay quốc



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



55



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



doanh và chất lượng các khoản cho vay quốc doanh nói chung cũng tăng lên

qua các năm.

2.2.2.2 Thực trạng nợ xấu

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, thì nợ xấu là các khoản nợ các

khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5. Tình hình nợ xấu của NHNTHN trong 3 năm

gần đây thể hiện như sau:

Bảng 2.6: Tình hình nợ xấu tại NH Techcombank

(Đơn vị: tỷ đồng)



Chỉ tiêu



Năm 2006



Năm 2007



Năm 2008



Tổng dư nợ cho vay



4,274



2,553



3,245



Tổng nợ xấu



64.208



19.792



21.346



Nhóm 3



10.268



2.645



1.358



Nhóm 5



53.94



17.147



16.732



Tỷ lệ nợ xấu



1.50%



0.77%



0.68%



(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động thường niên của NH Techcombank các năm

2006-2008)

Năm 2006, tổng nợ xấu là 4,274 tỷ đồng, chiếm 98.8% tổng NQH và

chiếm 1.50% tổng dư nợ cho vay. Nợ xấu chủ yếu tập trung ở ngành: Công

nghiệp chế biến là 38.057 tỷ đồng, chiếm 39.91% tổng nợ xấu. Ngành kinh tế

khác (kinh tế cá thể, doanh nghiệp tư nhân...) là 46.795 tỷ đồng, chiếm

49.08% tổng nợ xấu. Một phần nợ xấu rải rác ở ngành xây dựng, thương

nghiệp...

Năm 2007, tổng nợ xấu là 64.208 tỷ đồng, chiếm 61.15% tổng NQH và

chiếm 0.77% tổng dư nợ cho vay. Nợ xấu chủ yếu tập trung ở các ngành: Xây

SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



56



GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức



dựng với là 43.66 tỷ đồng, chiếm 45.24% tổng nợ xấu. Thương nghiệp là

16.99 tỷ đồng, chiếm 17.6% tổng nợ xấu. Một phần khác rải rác ở ngành công

nghiệp chế biến, kinh tế cá thể...

Năm 2008, tổng nợ xấu là 19.792 tỷ đồng, chiếm 99.46% tổng NQH và

chiếm 0.68% tổng dư nợ cho vay. Nợ xấu chỉ tập trung ở hai ngành là: Công

nghiệp khai thác mỏ là 16.053 tỷ đồng, chiếm 81.11% tổng nợ quá hạn,

Thương nghiệp là 3.739 tỷ đồng chiếm 18.89% tổng nợ q hạn. Còn các

ngành khác khơng có nợ xấu.

Xét về tỷ lệ giữa dư nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay thì ta thấy tỷ lệ giảm

dần qua 3 năm, từ 1.50% năm 2006 xuống còn 0.68 % năm 2008. Tỷ lệ nợ

xấu giảm được như thế là do sự nỗ lực rất lớn của Ngân hàng trong việc nâng

cao chất lượng tín dụng, quản lý nợ tốt và ngồi ra Ngân hàng còn triệt để xử

lý nợ xấu bằng cách thành lập Tổ xử lý nợ xấu.

2.2.2.3 Thực trạng trích lập và sử dụng dự phòng

Để chủ động trong việc hạn chế những hậu quả do rủi ro tín dụng có thể

gây ra, một trong những biện pháp hiện nay các ngân hàng đang thực hiện là

trích lập dự phòng rủi ro.

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, dự phòng rủi ro là khoản tiền

được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng

không thực hiện được nghĩa vụ theo cam kết. Đây là một chỉ tiêu để đánh giá

chất lượng tín dụng và khả năng quản lý nợ của Ngân hàng. NH

Techcombank đã tiến hành phân loại nợ và trích lập dự phòng theo Quyết

định này. Dù việc trích lập dự phòng tăng lên sẽ làm tăng chi phí và từ đó sẽ

làm ảnh hưởng đến lợi nhuận nhưng Techcombank vẫn quyết tâm thực hiện

trích lập dự phòng theo đúng và đủ theo mức độ rủi ro thực tế của các khoản



SVTH: Phạm Thị Hương Giang



Lớp: KTPT 47B_QN



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 KHÓ KHĂN, TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TECHCOMBANK

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×