Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều

Khi nguồn điện một chiều có cơng śt khơng đủ lớn thì mạch điện phần ứng và mạch

kích từ mắc vào hai nguồn một chiều độc lập với nhau, lúc này động cơ được gọi là động

cơ kích từ độc lập .

Để tiến hành mở máy, đặt mạch kích từ vào nguồn Ukt làm dây cuốn kích từ sinh ra từ

thông Φ . Trong tất cả các trường hợp, khi mở máy bao giờ cũng phải đảm bảo có Φmax

tức là phải giảm điện trở của mạch kích từ Rkt đến nhỏ nhất có thể . Cũng cần đảm bảo

khơng xảy ra đứt mạch kích thích vì khi đó Φ = 0 dẫn tới M = KΦI = 0, động cơ sẽ

khơng quay được, do đó Eư = 0 và theo biểu thức U = Eư + RưIư thì dòng điện Iư sẽ rất

lớn làm cháy động cơ . Nếu mômen do động cơ điện sinh ra lớn hơn mômen cản (M >

Mc) rôto bắt đầu quay và suất điện động Eư sẽ tăng lên tỉ lệ với tốc độ quay n . Do sự xuất

hiện và tăng lên của Eư, dòng điện Iư sẽ giảm theo, M giảm khiến n tăng chậm hơn .

* Cấu tạo chung :

Phần động cơ điện một chiều bao gồm hai phần chính là:

+ Phần tĩnh : Stato .

+ Phần quay : Roto .

* Stato :

Stato gọi là phần cảm gồm lõi thép bằng thép đúc, vừa là mạch từ vừa là vỏ máy . Gắn

với stato là các cực từ chính có dây q́n kích từ . Phần tĩnh bao gồm các bộ phận sau:

cực từ chính, cực từ phụ, gơng từ và các bộ phận khác .



Hình 1.1.2.b - Cấu tạo stato

a. Cực từ chính

Là bộ phận sinh ra từ trường gồm có lõi sắt cực từ và dây quấn kích từ lồng ngồi lõi sắt

cực từ . Lõi sắt cực từ được làm bằng các lá thép kỹ thuật điện hay thép carbon dày 0.5

đến 1 mm ép lại và tán chặt .

Dây quấn kích từ được quấn bằng dây đồng bọc cách điện và mỗi cuộn dây đều được bọc

cách điện thành một khối và tẩm sơn cách điện trước khi đặt lên trên các cực từ . Các

cuộn dây này được nối nối tiếp với nhau .

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 7



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều

b. Cực từ phụ

Cực từ phụ được đặt giữa các cực từ chính và dùng để cải thiện q trình đổi chiều . Lõi

thép của cực tù phụ thường làm bằng thép khối và trên thân cực từ phụ có đặt dây quấn,

mà cấu tạo giống như dây quấn cực từ chính . Cực từ phụ được gắn vào vỏ nhờ các

bulông .

c .Gông từ

Gông từ được dùng để làm mạch từ nối liền các cực từ , đồng thời làm vỏ máy .

d . Các bộ phận khác

Ngoài ba bộ phận chính trên còn có các bộ phận khác như : Nắp máy, cơ cấu chổi than .

-Nắp máy : Để bảo vệ máy khỏi bị những vật ngoài rơi vào làm hỏng dây quấn hay an

toàn cho người khỏi chạm phải điện .

-Cơ cấu chổi than : Để đưa dòng điện từ phần quay ra ngồi . Cơ cấu chổi than gồm có

chổi than đặt trong hộp chổi than và nhờ một lò xo tì chặt lên cổ góp . Hộp chổi than

được cố định lên giá chổi than và cách điện với giá đó . Giá chổi có thể quay được để đưa

vị trí chổi than đúng chỗ .

*Roto :

Roto của động cơ điện một chiều bao gồm các bộ phận sau: lõi sắt phần ứng, dây q́n

phần ứng, cổ góp và các bộ phận khác .



Hình 1.1.2.c - Cấu tạo roto

a. Lõi sắt phần ứng

Dùng để dẫn từ . Thường làm bằng những tấm thép kỹ thuật điện (thép hợp kim silic) dày

0.5 mm bôi cách điện mỏng ở hai mặt rồi ép chặt lại để giảm tổn hao do dòng điện xốy

gây nên .

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 8



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều

b. Dây quấn phần ứng

Là phần sinh ra sức điện động và có dòng điện chạy qua . Dây q́n phần ứng thường làm

bằng dây đồng có bọc cách điện . Trong máy điện nhỏ (công suất dưới vài kilowatt)

thường dùng dây có tiết diện tròn . Trong máy điện vừa và lớn thường dùng dây tiết diện

chữ nhật . Dây quấn được cách điện cẩn thận với rãnh của lõi thép .

Để tránh khi bị văng ra do sức li tâm, ở miệng rãnh có dùng nêm để đè chặt hoặc phải đai

chặt dây quấn . Nêm có thể làm bằng tre, gỗ hay ba-ke-lit .

c. Cổ góp

Cổ góp (còn gọi là vành góp hay vành đổi chiều) dùng để đổi chiều dòng điện xoay chiều

thành một chiều . Cổ góp có nhiều phiến đồng có đi nhạn cách điện với nhau bằng lớp

mica dày 0,4 đến 1,2 mm và hợp thành một trụ tròn . Hai đầu trụ tròn dùng hai vành ốp

hình chữ V ép chặt lại . Giữa vành góp có cao hơn một ít để hàn các đầu dây của các phần

tử dây quấn vào các phiến góp được dễ dàng .

d. Các bộ phận khác

Cánh quạt: dùng dể quạt gió làm nguội động cơ . Động cơ điện một chiều thường được

chế tạo theo kiểu bảo vệ . Ở hai đầu nắp động cơ có lỗ thơng gió . Cánh quạt lắp trên trục

động cơ . Khi động cơ quay, cánh quạt hút gió từ ngồi vào động cơ . Gió đi qua vành

góp, cực từ, lõi sắt và dây quấn rồi qua quạt gió ra ngồi làm nguội động cơ .

Trục máy: trên đó đặt lõi sắt phần ứng, cổ góp, cánh quạt và ổ bi . Trục động cơ thường

được làm bằng thép carbon tốt .

1.1.3. Mở máy và điều chỉnh tốc độ động cơ

a. Mở máy động cơ điện một chiều .

Phương trình cân bằng điện áp :

Suy ra :

Khi mở máy, tốc độ :

Suy ra :

Suy ra :

Vì Rư rất nhỏ, dòng điện phần ứng Iư lúc mở máy rất lớn Iư lên tới khoảng 20 đến 25 lần

Iđm , làm hỏng cổ góp, chổi than và ảnh hưởng đến lưới điện .

Để giảm dòng điện mở máy, dùng các biện pháp :







Dùng biến trở mở máy RMở







Giảm điện áp đặt vào phần ứng

* Điều chỉnh tốc độ động cơ một chiều .

Theo lý thuyết máy điện ta có phương trình tính tốc độ động cơ sau:

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 9



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều

với

Hay :

Từ hai phương trình trên ta thấy n (tốc độ của động cơ) phụ thuộc vào Φ (từ thông), Rư

(điện trở phần ứng), Uư (điện áp phần ứng) . Vì vậy để điều chỉnh tốc độ của động cơ

điện một chiều ta có ba phương án .

- Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi từ thông Φ

- Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi bằng cách thay đổi điện trở phụ R f trên mạch

phần ứng

- Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi điện áp phần ứng Uư

Cả 3 phương pháp trên đều điều chỉnh được tốc độ động cơ điện một chiều nhưng chỉ có

phương pháp điều chỉnh tốc độ động cơ một chiều bằng cách thay đổi điện áp đặt vào

phần ứng của động cơ là tốt nhất và hay được sử dụng nhất vì nó thu được đặc tính cơ có

độ cứng khơng đổi và bằng với độ cứng của đặc tính cơ tự nhiên (đặc tính cơ tự nhiên có

độ cứng là lớn nhất), điều chỉnh tốc độ bằng phẳng và khơng bị hao tổn .

Vì vậy trong đồ án này em chỉ giới thiệu phương pháp điều khiển tốc độ động cơ điện

một chiều bằng cách thay đổi điện áp phần ứng .

Điều chỉnh tốc độ bằng cách thay đổi điện áp phần ứng



Hình 1.1.3.a – Sơ đồ khối

Phương pháp này cho phép điều chỉnh tốc độ cả trên và dưới định mức . Tuy nhiên do

cách điện của thiết bị thường chỉ tính tốn cho điện áp định mức nên thường giảm điện áp

phần ứng Uư . Khi Uư giảm thì n0 giảm nhưng ∆n là không đổi nên tốc độ n giảm . Vì vậy

thường chỉ điều chỉnh tốc độ nhỏ hơn tốc độ định mức . Còn nếu lớn hơn thì chỉ điều

chỉnh trong phạm vi rất nhỏ .

Đặc điểm quan trọng của phương pháp là khi điều chỉnh tốc độ thì mơ men khơng đổi vì

từ thơng và dòng điện phần ứng đều không thay đổi :

Phương pháp cho phép điều chỉnh tốc độ trong giới hạn 1:10, thậm chí cao hơn nữa có

thể đến 1:25 . Phương pháp này có từ thơng khơng đổi nên đặc tính cơ có độ cứng khơng

đổi, bằng với độ cứng đặc tính cơ tự nhiên .

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 10



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều

Tốc độ không tải lý tưởng phụ thuộc vào giá trị điện áp Uđk của hệ thống, do đó có thể nói

phương pháp này điều khiển là triệt để .

Dải điều chỉnh tốc độ của hệ thống bị chặn bởi đặc tính cơ bản, là đặc tính ứng với điện

áp định mức và từ thông định mức . Tốc độ nhỏ nhất của dải điều khiển bị giới hạn bởi

yêu cầu về sai số tốc độ và mômen khởi động . Khi mơmen tải là định mức thì các giá trị

lớn nhất và nhỏ nhất của tốc độ là:



Để thoả mãn khả năng q tải thì đặc tính thấp nhất của dải điều chỉnh phải có mơmen

ngắn mạch là :

Trong đó KM là hệ số quá tải về mơmen .Vì họ đặc tính cơ là các đường thẳng song song

nhau, nên theo định nghĩa về độ cứng đặc tính cơ ta có thể viết :



Với xác định ở mỗi máy, vì vậy phạm vi điều chỉnh D phụ thuộc tuyến tính vào giá trị

của độ cứng β . Khi điều chỉnh điện áp phần ứng của động cơ điện một chiều bằng các

thiết bị nguồn điều chỉnh thì điện trở tổng mạch phần ứng gấp khoảng 2 lần điện trở phần

ứng động cơ . Do đó có thể tính sơ bộ được :

Do đó phạm vi điều chỉnh tốc độ động cơ không vượt quá 10 khi tải có đặc tính mơmen

khơng đổi .

Phương pháp chỉ dùng cho động cơ điện một chiều kích từ độc lập hoặc song song làm

việc ở chế độ kích từ độc lập .

Điều chỉnh động cơ điện một chiều chính là sử dụng phương pháp này .



Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 11



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều



Hình 1.1.3.b - Đồ thị đặc tính cơ của động cơ điện một chiều khi thay đổi điện áp

Kết luận : Trong đồ án này em sử dụng phương pháp điều chỉnh tốc độ động cơ một

chiều bằng cách thay đổi điện áp đặt vào phần ứng của động cơ vì nó thu được đặc tính

cơ có độ cứng khơng đổi (và là đặc tính cơ có độ cứng lớn nhất), điều chỉnh tốc độ bằng

phẳng và không bị hao tổn .

* Lưu ý : So với động cơ điện xoay chiều thì động cơ điện một chiều có ưu thế tuyệt đối

trong việc điều chỉnh tốc độ . Sự tỉ lệ giữa điện áp phần ứng và tốc độ của động cơ điện

một chiều mang tính tuyến tính cao còn trong động cơ điện xoay chiều thì tốc độ khơng

chỉ phụ thuộc điện áp mà còn phụ thuộc vào tần số và sự phụ thuộc đó gần như hồn tồn

là phi tuyến, hơn nữa nếu muốn điều khiển hoàn toàn động cơ điện xoay chiều cần có bộ

biến tần đi kèm (tăng điện áp phần ứng không làm cho tốc độ vượt qua tốc độ khơng tải

lý tưởng). Vì thế trong những hệ thống yêu cầu tính chính xác cao người ta thường dùng

động cơ điện một chiều .

1.1.4. Đo tốc độ động cơ điện một chiều

Để đo tốc độ động cơ nói chung và động cơ điện một chiều nói riêng người ta thường sử

dụng Encoder .

Khái niệm:

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 12



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều

Encoder dùng để quản lý vị trí góc và tốc độ quay của một đĩa quay . Đĩa quay có thể là

bánh xe, trục động cơ, hoặc bất kỳ thiết bị quay nào cần xác định vị trí góc.

Ngun lý hoạt động :

Ngun lý cơ bản của encoder, đó là một đĩa tròn xoay, quay quanh trục động cơ . Trên

đĩa có các lỗ (rãnh). Người ta dùng một đèn led để chiếu lên mặt đĩa . Khi đĩa quay, chỗ

khơng có lỗ (rãnh), đèn led khơng chiếu xun qua được, chỗ có lỗ (rãnh), đèn led sẽ

chiếu xun qua . Khi đó, phía mặt bên kia của đĩa, người ta đặt một con mắt thu. Với các

tín hiệu có, hoặc khơng có ánh sáng chiếu qua, người ta ghi nhận được đèn led có chiếu

qua lỗ hay không . Khi trục quay, giả sử trên đĩa chỉ có một lỗ duy nhất, cứ mỗi lần con

mắt thu nhận được tín hiệu đèn led, thì có nghĩa là đĩa đã quay được một vòng .

Ta có cơng thức tính vận tốc:

Với :

 v : Tốc độ động cơ

 n : Số xung đo được

 no : Độ phân giải (32 xung/vòng)

 T : Khoảng thời gian đếm xung (0.375 s)

Phân loại :

Có 2 loại Encoder là :

 Encoder tuyệt đối

 Encoder tương đối

Về cơ bản thì Encoder tuyệt đối và tương đối có ngun tắc hoạt động là giống nhau; mặc

dù Encoder tuyệt đối đưa ra tín hiệu chuẩn xác hơn nhưngcó cấu tạo phức tạp hơp và giá

thành cao hơn . Vì vậy trong phạm vi đề tài này chúng em sử dụng Encoder tương đối .

Encoder tương đối (incremental encoder)

Có 2 kiểu Encoder tương đối là kiểu quay và kiểu thẳng . Tuy nhiển kiều thẳng thì tốn

kém và bất tiện hơn kiểu quay nên trong phạm vi đề tài này em sử dụng Encoder tương

đối kiểu quay .



Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 13



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều



1.2. Bộ biến đổi xung áp một chiều

1.2.1. Các phương pháp thay đổi điện áp phần ứng động cơ điện một chiều

Đề điều chỉnh điện áp cấp cho phần ứng động cơ điện một chiều chúng ta có thể sử dụng

bộ chỉnh lưu có điều khiển hoặc phương pháp PWM . Tuy nhiên với các hệ thống chỉ yêu

cầu công suất vừa và nhỏ thì việc sử dụng bộ chỉnh lưu có điều khiển khó khăn và tốn

kém hơn phương pháp PWM mà khơng mang lại hiệu quả cao hơn . Vì vậy trong phạm vi

đề tài này chúng em sử dụng phương pháp PWM đề điều chỉnh điện áp cấp cho phần ứng

động cơ điện một chiều .

1.2.2. Phương pháp PWM

* Giới thiệu về phương pháp PWM

Phương pháp điều chế PWM (viết đầy đủ là Pulse Width Modulation) là phương pháp

điều chỉnh điện áp ra tải hay nói chính xác là phương pháp điều chế dựa trên sự thay đổi

độ rộng của chuỗi xung vuông dẫn đến sự thay đổi điện áp ra .

Sử dụng PWM điều khiển nhanh chậm của động cơ hay cao hơn nữa nó còn được dùng

để điều khiển ổn định tốc độ động cơ . Ngoài lĩnh vực điều khiển hay ổn định tải thì

PWM còn tham gia và điều chế các mạch nguồn như là : boot, buck, nghịch lưu một pha

và ba pha . . . Trên thực tế phương pháp PWM còn được ứng dụng trong nhiều mạch điều

khiển khác . Điều đặc biệt là PWM chuyên dùng để điều khiển các phần tử điện tử cơng

śt có đường đặc tính là tuyến tính khi có sẵn nguồn một chiều cố định .

Các xung PWM khi biến đổi thì có cùng một tần số và khác nhau về độ rộng của xung

dương hoặc là xung âm .



Hình 1.2.2.a - Dạng xung PWM

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 14



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều

Trong sơ đồ trên, trong một chu kỳ thì những xung PWM khác nhau có thời gian đạt

trạng thái “1” (xung dương) khác nhau, độ rộng xung PWM được tính theo tỉ lệ phần

trăm giữa thời gian xung dương và thời gian của một chu kỳ . Độ rộng xung PWM được

tính như sau :

Như vậy thời gian xung lên càng lớn trong 1 chu kì thì điện áp đầu ra sẽ càng lớn . Nhìn

trên hình vẽ trên thì ta tính được điện áp ra tải sẽ là :

+ Đối với PWM = 25% ==> Ut = 25%Umax (V)

+ Đối với PWM = 50% ==> Ut = 50%Umax (V)

+ Đối với PWM = 75% ==> Ut = 75%Umax (V)

Cứ như thế ta tính được điện áp đầu ra tải với bất kì độ rộng xung nào .

Bây giờ ta sẽ xem xét những ưu và nhược điểm khi sử dụng PWM để điều khiển động cơ

điện một chiều .

a. Ưu điểm

- Van cơng suất ở lối ra chỉ có duy nhất hai trạng thái (ON hoặc OFF) do đó loại bỏ được

mất mát về năng lượng đốt nóng hay năng lượng rò rỉ tại lối ra .

- Dải điều khiển rộng hơn so với mạch điều chỉnh tuyến tính .

- Tốc độ mô tơ cao hơn khi cấp chuỗi xung điều chế theo kiểu PWM so với khi cấp một

điện áp tương đương với điện áp trung bình của chuỗi xung PWM .

b. Nhược điểm

- Cần các

mạch điện tử bổ trợ .

- Giá thành cao .

- Các xung kích lên Umax có thể gây nên tiếng ồn nếu mô tơ không được gắn chặt và tiếng

ồn này sẽ tăng lên nếu gặp phải trường hợp cộng hưởng của vỏ .

- Ngoài ra việc dùng chuỗi xung điều chế PWM có thể làm giảm tuổi thọ của mô tơ .

* Nguyên lý của phương pháp PWM

Đây là phương pháp được thực hiện theo nguyên tắc đóng ngắt nguồn tới tải và một cách

có chu kì theo ḷt điều chỉnh thời gian đóng cắt . Phần tử thực hiện nhiệm vụ đó trong

mạch các van bán dẫn .

Xét hoạt động đóng cắt của một van bán dẫn . Dùng van đóng cắt bằng Mosfet (hoặc có

thể sử dụng IGBT hay các van bán dẫn khác) .

Nguyên lý hoạt động :

Trong khoảng thời gian từ 0 đến t0 ta cho van G mở, toàn bộ điện áp nguồn U được đưa ra

tải . Còn trong khoảng thời gian từ t 0 đến T cho van G khóa, cắt nguồn cung cấp cho tải .

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 15



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều

Vì vậy với t0 thay đổi từ 0 cho đến T ta sẽ cung cấp toàn bộ , một phần hay khóa hồn

tồn điện áp cung cấp cho tải .



Hình 1.2.2.b - Sơ đồ đóng ngắt nguồn với tải



Hình 1.2.2.c - Đồ thị xung của van điều khiển và đầu ra

Công thức tính giá trị trung bình của điện áp ra tải :



=

Với :



t0 là thời gian xung dương (khóa đóng)

T là thời gian của cả sườn âm và dương

U là điện áp nguồn cung cấp cho tải

D = t0/T là độ rộng xung PWM và được tính bằng %



* Các cách để tạo ra được PWM để điều khiển



Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 16



Đồ án chuyên ngành I

Thiết kế và chế tạo hệ thống điều khiển và ổn định tốc độ động cơ điện một chiều

Để tạo được ra PWM thì hiện nay có hai cách thông dụng : Bằng phần cứng và bằng phần

mềm . Trong phần cứng có thể tạo bằng phương pháp so sánh hay là từ trực tiếp từ các IC

dao động tạo xung vuông như : NE555, LM555 . . . Trong phần mềm được tạo bằng các

vi điều khiển có thể lập trình được . Tạo bằng phần mềm thì độ chính xác cao hơn là tạo

bằng phần cứng . Nên người ta hay sử dụng phần mềm để tạo PWM .

* Một vài ứng dụng nổi bật của PWM

a. PWM trong điều khiển động cơ

Điều mà chúng ta dễ nhận thấy rằng là PWM rất hay được sử dụng trong động cơ để điều

khiển động cơ như là nhanh , chậm, thuận ,nghịch và ổn định tốc độ cho nó . Cái này

được ứng dụng nhiều trong điều khiển động cơ 1 chiều, và sơ đồ nguyên lý của mạch

điều khiển động cơ DC là :



Hình 1.2.1.d - Sơ đồ nguyên lý của mạch điều khiển động cơ DC

Đây là mạch đơn giản điều khiển động cơ . Nếu muốn điều khiển động cơ quay thuận

quay ngược thì phải dùng đến cầu H hay muốn ổn định tốc độ thì cần các bộ lọc hỗ trợ .

b. Trong các bộ biến đổi xung áp

Trong các bộ biến đổi xung áp thì PWM đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh dòng

điện và điện áp ra tải . Bộ biến đổi xung áp có nhiều loại như là biến đổi xung áp nối tiếp

và bộ biến đổi xung áp song song .

Ngồi những bộ biến đổi trên thì PWM còn được sử dụng trong các bộ chuyển đổi DC

-AC , hay trong biến tần và nghịch lưu .

1.2.3. Bộ biến đổi xung áp 1 chiều

* Đặt vấn đề

Các bộ biến đổi điện áp một chiều dùng để biến đổi điện áp hiệu dụng đặt lên tải .

Nguyên lý của bộ biến đổi này là dùng các phần tử van bán dẫn nối tải với nguồn trong

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Viết Ngư

Sinh viên thực hiện : Lê Đức Trường – Đoàn Xuân Trường



Trang 17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×