Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chính sách giảm nghèo 2013-2015.

Chính sách giảm nghèo 2013-2015.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Dựa vào bảng 2.1 cho ta thấy số hộ nghèo trên tổng số hộ là còn rất lớn

chiến tỷ cao so với các năm trước, tỷ lệ hộ nghèo cao,các bản có hộ nghèo,

cận nghèo rất nhiều qua các năm từ 2014 đến 2016 cụ thể như: năm 2014

chưa có nhiều bản tách bản nên 2014 mới chỉ có 7 Bản và Bản chiếm tỷ lệ

nghèo cao nhất là bản Đắng có 87 trên 157 hộ nghèo chiến tỷ lệ cao nhất là

55,41%, Bản Pọng có 82 hộ nghèo trên tổng 162 hộ chiếm 50,62%, bản Nặm

Pọng là có ít hộ nhất chiếm 20,45% do địa hình gần trung tâm nên cũng

chiếm tỷ lệ nghèo thấp hơn so với các bản khác. Đến 2015 thì tách bản và có

12 bản trong một xã. Năm 2015 tổng số hộ nghèo cũng tăng cao, bản có hộ

nghèo cao nhất là bản Chan I bản này hộ khẩu trong bản ít nhưng hộ nghèo

trên tổng số hộ lại cao nhất so với 12 bản còn lại có 26/56 hộ nghèo chiếm tỷ

lệ 46,43% và bản có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là bản bản Pơ mu bản này có hộ

khẩu ít nên tỷ lệ nghèo cũng còn ít chiếm 8,95%, do bản Pơ Mu được tách

một phần từ bản Nặm Pọng nên có lợi thế sẵn có. Năm 2016 các bản có hộ

nghèo còn cao hơn so với 2014 và 2015 nguyên nhân do năm 2016 xã thống

kê hộ nghèo theo tiêu chí mới là nghèo đa chiều, các tiêu chí được đưa vào

nhiều hơn khơng chỉ có tiêu chí thu nhập. Năm 2016 bản có hộ nghèo cao

nhất trên tổng số hộ là bản Thái có 49/65 hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao nhất là bản

Co Muong là 71,43% , và các bản khác số hộ nghèo còn tương đối là rất

nhiều, các bản chiếm tỷ lệ nghèo sàn nhau chiếm tỷ lệ nghèo rất cao.



Bảng 2.1 Hộ nghèo trên địa bàn xã Mường Đăng

Năm 2014



Bản



Năm 2015



Số hộ

nghè Tỷ lệ

Tổng

o

(%)

(hộ)

(hộ)



Tổn

g số

hộ

(hộ)



Năm 2016



Số hộ

nghè Tỷ lệ

o

(%)

(hộ)



Tổn

g số

hộ

(hộ)



Số hộ

nghè Tỷ lệ

o

(%)

(hộ)



Bản Nặm

Pọng



44



9



20,4

5



47



9



20,4

5



59



29



49,15



Bản co

Muông



0



0



0



85



43



27,3

9



105



75



71,43



Bản Chan II



67



21



31,3

4



52



15



23,3

9



64



29



45,31



Bản Chan I



56



26



46,4

3



56



26



46,4

3



69



43



62,32



Bản Ban



0



0



0



73



36



22,8

4



92



42



45,65



Bản Huổi

Tăng



0



0



0



53



24



71



33



46,48



Bản xôm



79



34



43,0

4



80



34



97



57



58,76



Bản Pọng



162



82



50,6

2



92



46



27,7

8



101



65



64,36



Bản Thái



162



72



44,4

4



58



43



27,3

9



75



49



65,33



Co Pháy



0



0



0



51



29



18,5

1



72



42



58,33



Bản Đắng



157



87



55,4

1



85



44



28,0

2



98



58



59,18



0



0



0



14



6



8,95



25



9



36,00



727



331



746



355



928



531



Pơ Mu

Tổng



14,2

0

43,0

4



(Nguồn: UBND xã Mường Đăng)



2.2.2 Thực trạng các hộ nghèo qua các năm tại xã Mường Đăng

Trong toàn xã có rất nhiều hộ nơng dân, hộ già đình có tỷ lệ hộ nghèo

còn rất nhiều và tỷ lệ hộ nghèo của xã qua các năm được trình bày rõ ở bảng

2.2 sau:

Bảng 2.2 Tỷ lệ hộ nghèo của xã qua các năm

Số hộ

Nghèo

Cận

nghèo

Tái nghèo



Năm 2014

Số hộ

Tỷ lệ(%)



Năm 2015

Số hộ

Tỷ lệ(%)



Năm 2016

Số hộ

Tỷ lệ(%)



331



45,53



331



45,53



531



57,22



73



10,04



73



10,04



170



18,32



3



0,41



10



3,16



21



2,26



727



100



746



100



928



100



Tổng số

hộ trong





Nguồn: UBND xã Mường Đăng

Theo quyết định của thủ tướng chính phủ số Số: 50/2016/QĐ-TTg ngày

3 tháng 11 năm 2016 xã Mường Đăng được xã định là xã đặc biệt khó khăn.

Hơn nữa năm 2016 tỷ lệ số hộ nghèo tăng mạnh từ 331 hộ lên 531 hộ nguyên

nhân là do năm 2016 thay đổi tiêu chí xác định hộ nghèo chỉ từ thu nhập sang

nghèo đa chiều với 5 tiêu chí xác định. Từ bảng trên cho ta thấy tỷ lệ hộ

nghèo của xã qua các năm từ năm 2014 đến 2016 số hộ nghèo, cận nghèo và

tái nghèo trong xã tăng và tỷ lệ của các năm tăng theo từng năm như sau: năm

2014 số hộ nghèo từ 331chiếm 45,53% đến 2016 lên đến 531 chiếm tỷ lệ

57,22% hộ năm 2016. Còn số hộ cận nghèo thì có xu hướng giảm dần nhưng

giảm rất ít từ năm 2014 có 73 hộ chiếm 10,04% và đến năm 2016 tăng là 170

hộ chiếm tỷ lệ 18,32%. Tỷ lệ hộ nghèo của xã qua các năm thấy được số hộ

nghèo tăng qua các năm tăng và số hộ nghèo, cận nghèo và tái nghèo đều tăng

qua các năm.

2.2.4 Thực trạng phân bố tỷ lệ các hộ nghèo trên địa bàn xã Mường Đăng



Bảng 2.3 Tình hình phân bố tỷ lệ hộ nghèo năm 2016

STT



Tên bản



Tổng số hộ



Số hộ nghèo



Tỷ lệ



1



Pơ Mu



25



9



36



Bản Chan II



64



29



45,31



3



Bản Ban



92



42



45,65



4



Bản Huổi

Tăng



71



33



46,48



5



Bản Nặm

Pọng



59



29



49,15



6



Co Pháy



72



42



58,33



7



Bản xôm



97



57



58,76



8



Bản Đắng



98



58



59,18



9



Bản Chan I



69



43



62,32



10



Bản Pọng



101



65



64,36



12



Bản Thái



75



49



65,33



928



531



2



Tổng



Nguồn: UBND xã Mường Đăng

Từ bảng 2.3 trên cho ta thấy được tình hình phân bố tỷ lệ hộ nghèo

trong năm 2016 còn rất nhiều hộ nghèo chiếm tỷ trọng rất cao, số hộ chiếm tỷ

lệ cao nhất lên đến 65,33%.Tình hình phân bố tỷ lệ hộ nghèo trong xã rất khó

khăn, số hộ nghèo trên tổng số hộ gia đình rất cao và chênh lệch rất nhiều.Bản

có số hộ nghèo nhiều nhất và chiếm tỷ lệ cao nhất là bản Thái có 49 trên 75

hộ nghèo và chiếm tỷ lệ cao nhất 65,33%, bản có số hộ nghèo tương đối ít so

với các bản và chiếm tỷ lệ thấp là bản Pơ Mu có 9 trên 25 hộ chiếm tỷ lệ

36%.Từ kết quả trên cho ta thấy được tình hình phân bố tỷ lệ của xã còn chưa

đồng đều và các số hộ nghèo trên tổng số hộ gia đình còn rất nhiều và có rất

nhiều hộ gia đình rất khó khăn.

2.3 Thực trạng nghèo đa chiều tại xã Mường Đăng



Năm 2016 theo chỉ đạo chung xã thống kê

Danh sách xã khó khăn 2016 – 2020 – Điện Biên được công bố Theo

Quyết định 582/QĐ-TTg phê duyệt danh sách thơn đặc biệt khó khăn;

Trục chính đường giao thơng đến Ủy ban nhân dân xã hoặc đường liên xã

chưa được nhựa hóa, bê tơng hóa theo tiêu chí nơng thơn mới;

Trường mầm non, trường tiểu học hoặc trường trung học cơ sở chưa đạt

chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Chưa đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã theo quy định của Bộ Y tế;

Chưa có Trung tâm Văn hóa, Thể thao xã theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể

thao và Du lịch;

Còn từ 20% số hộ trở lên chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh;

Còn từ 40% số hộ trở lên chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của Bộ

Y tế.

Theo thống kê các hộ nghèo trên địa bàn xã theo tiêu chí nghèo đa

chiều được tổng hợp trên bảng 2.4.

Từ bảng 2.4 cho ta thấy tình trạng các chiều thiếu hụt về y tế là chiếm tỉ lệ

thấp nhất là 4,85% tiếp cận về y tế, điều kiện sống chiếm tỷ lệ cao nhất là

23,38% trong tổng số hộ nghèo của xã. Về cận nghèo, điều kiện sống là chiếm

tỷ lệ cao nhất chiếm 20,8%, còn y tế chiếm tỷ lệ thấp nhất là 5,5%.Thông qua

các hộ cho thấy với các chiều thiếu hụt là không đồng đều qua các chiều thếu

hụt. Trong xã các gia đình hộ nghèo, cận nghèo về các chiều thiếu hụt còn

thấp và tiếp cận về điều kiện sống, y tế, nhà ở và tiếp cận thơng tin vẫn còn

hạn chế thơng qua tỷ lệ phần trăm của các hộ trong xã.

.



Bảng 2.4: Tổng hợp ngưỡng thiếu hụt qua 5 chiều



Nội



Giáo dục



dung

Số

Nghè

o

Cận

nghèo

Tổng



Tỷ lệ

(%)



79



8,51



59



6,35



928



Y tế



Các chiêu thiếu hụt

Điều kiện

Tiếp cận

sống



Tỷ

Số



lệ



Số



(%)

45



4,85



51



5,5



(%)

23,38



7



92

8



21



Tỷ lệ



19

3

92



Số

11



Tỷ lệ

(%)

23,17



5

20,80



Nhà ở



thông tin



18



Số

21



Tỷ lệ

(%)

18,86



7

20,15



7

92



8

8

Nguồn: UBND xã Mường Đăng



18



20,26



8

92

8



Qua bảng 2.4 ta thấy các nhu cầu cơ bản của con người thông qua 5

chiều vẫn chưa được đảm bảo đáp ứng đầy đủ các nhu cầu đó mà thậm

chí ta thấy thiếu hụt rất nhiều.

Giáo dục tình trạng tiếp cận giáo dục vẫn còn diễn ra chiếm 8,51

% (79hộ so với tổng số hộ trong xã thiếu hụt về chiều giáo dục người lớn,

cao nhất vẫn rơi vào nhóm hộ nghèo và cận nghèo. Bên cạnh giáo dục

người lớn thì trẻ em cũng là một trong những nhóm đối tượng quan tâm, số

trẻ em trong độ tuổi 5-14 không được đi học phần nhiều rơi vào nhóm

người nghèo.

Y tế tiếp cận dịch vụ y tế có 4,85% hộ không tiếp cận dịch vụ y tế.

Do họ thật sự chưa chú trọng đến tình trạng sức khoẻ khơng thường

xun đi khám định kì vì rất nhiều lý do khác nhau. Nhìn chung thì hầu

như mọi người khơng mấy thiếu hụt nhưng vẫn còn có hộ thiếu hụt về y

tế.

Điều kiện sống và tiếp cận thông tin là 2 chiều thiếu hụt nhiều nhất,

điều kiện sống chiếm 23,38% trong tổng số hộ của xã, Đây là những hộ



không được tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh và khơng có nhà

tiêu hợp vệ sinh.

Tiếp cận thơng tin: Đa phần người dân tiếp cận thơng tin vẫn còn bị

hạn chế bởi điều kiện kinh tế, địa hình đồi núi nhiều chỗ rất khó tiếp cận

thơng tin có những chỗ khơng có song điện thoại di động phủ sóng… qua

số liệu thống kê của xã cho ta thấy có đến 115 hộ chưa được tiếp cận

thông chiếm 65 % họ chưa có các thiết bị dùng tiếp cận thơng tin mua

những tài sản đắt tiền như máy tính điều kiện khơng có nên khơng đầu tư

chi tiêu vào việc này được.

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo trên địa bàn xã, Mường Đăng,

huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên

Để đánh giá được tình trạng đói nghèo ở nước ta, trước tiên cần phải

tìm hiểu các nhân tố tác động đến vấn đề nghèo đói. Có rất nhiều nhân tố ảnh

hưởng đến nghèo đói, nó khơng chỉ đơn thuần là nhân tố kinh tế hoặc thiên

tai, địch họa gây ra. Mà tình trạng nghèo đói ở nước ta có sự đan xem của cái

tất yếu lẫn cái ngẫu nhiên, của cả nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực

tiếp, cả khách quan lẫn chủ quan, cả tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội. Do đó cần

phải đánh giá đúng nguyên nhân, mức độ của từng nguyên nhân dẫn đến

nghèo đói đối với từng đối tượng cụ thể.

2.2.1 Nhóm nguyên tố thuộc về điệu kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội

- Vị trí địa lý khơng thuận lợi ở những nơi xa sơi hẻo lánh, địa hình

phức tạp ( miền núi, vùng sâu), khơng có đường giao thơng. Đây cũng chính

là một ngun nhân chính dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao ở các vùng và địa

phương ở vào vị trí địa lý này. Do điều kiện địa lý như vậy, họ dễ rơi vào thế

bị cô lập, tách biệt với bên ngồi, khó tiếp cận được các nguồn lực của phát

triển, kinh tế cgur yếu là tự cấp, tự túc là những nhân tố khách quan tác động

mạnh mẽ đến vấn đề nghèo đói.



- Đất canh tác ít, đất cằn cỗi, ít màu mỡ, canh tác khó, năng suất cay

trồng vật ni đều thấp. Đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất trong nông

nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, làm cho thu nhập của người nơng dân thấp,

việc tích lũy và tái sản xuất mở rộng bị hạn ché hoặc hầu như khơng có. Theo

các kết quả điều tra, đánh giá nghèo đói có sự tham gian của người dân thì

thiếu đất canh tác hay đất đai khó làm ăn cũng là nguyên nhân đáng kể dẫn

đến cảnh túng thiếu, đói ăn, đứt bữa của người dân đặc biệt là đối với các hộ

nghèo đói ở vùng núi. Hiện nay vấn đề thiếu đất sản xuất lương thực ở nước

ta (đặc biệt là đất lúa) ngày càng mang tính trầm trọng. Nguyên nhân này là

do dân số ngày càng đơng nhưng đất nơng nghiệp thì ngày càng bị thu hẹp

làm cho rất nhiều hộ nông dân không đủ tiềm lực để phát triển.

- Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra đặc

biệt là bão, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất và

đời sống của nhân dân. Trung bình 8 cơn bão, lụt một năm, lại thêm hạn hán,

mưa đã, cháy rừng xảy ra thường xuyên ở nhiều vùng đã là nguyên nhân cơ

bản làm cho khoảng 2 triệu người thiếu đói hang năm. Tác hại của bão lụt,

hạn hán là rất lớn, nó ln là kẻ thù đồng hành với những người nghèo đói, nó

có thể cướp đi cả tính mạng sống và tiền của con người.

- Môi trường kinh tế không thuận lợi, cơ sở hạ tầng thấp kém nhưng

khơng có thị trường, thị trường hoạt động yếu ớt hay thị trường không đầy đủ

cũng ảnh hướng đáng kể đến tình trạng đói nghèo của các hộ gia đình. Mặc dù

trong những năm gần đây chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư

xây dựn cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân, tuy nhiên cho

đến nay vẫn còn nhiều nơi xa. Đây là những nơi còn tiềm ẩn nhiều dấu hiệu

của nghèo đói lạc hậu. Những hộ ở đây không phải ai cũng được sử dụng

điện. Hệ thống tưới tiêu còn hạn chế, rất nhiều nơi chưa có trạm bơm. Việc

tiếp cận với nước sạch (nước máy) gần như khơng có, rất nhiều hộ còn đang

dùng nước song, suối, nước mưa.



Trong sản xuất trồng trọt, khó khăn lớn nhất là hệ thống kênh mương

chưa phát triển nên không đủ nước tưới cho cây trồng, đặc biệt là cho lúa và

hoa mầu. Hiện nay ở nhiều nơi hệ thống kênh mương, cống đập, trạm bơm

chủ yếu vẫn còn tạm bợ, chưa kiên cố, có nơi xuống cấp nghiêm trọng tác

động trực tiếp đến việc giảm sản lượng năng suất cây trồng.

Vấn đề cơ sở hạ tầng (như đường giao thông, điện, trường học, trạm y

tế, bệnh viện, bưu điện, chợ huyện…), thị trường (lao động, vốn, hang hóa)

vẫn còn kém phát triển. Đặc biệt là các nhóm dân tộc thiểu số càng có ít cơ

hội tiếp cận với những dịch vụ trên ngân hàng (theo hình…). Điều này có thể

có thể thấy rõ ở các vùng khơng có giao thơng hoặc giao thơng đi lại khó

khăn hầu như chưa có thị trường hoặc thị trường hoạt động quá yếu ớt. Nó

đồng nghĩa với việc họ bị đặt ra ngồi q trình phát triển kinh tế của đất

nước.

Từ những vấn đề trên, ta thấy, những người nghèo muốn vượt thốt

khỏi tình trạng nghèo đói trước hết phải được tiếp cận với thị trường, trên cơ

sở đó mới có thể tham gia vào sự vận động của kinh tế thị trường. Muốn thị

trường phát triển, bên cạnh việc thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng cường

kinh tế thì việc phát triển giao thơng cơ sở hạ tầng có ý nghĩa lớn góp phần

nối các thị trường trong nước lại với nhau, thúc đẩy thị trường phát triển tạo

điều kiện cho việc hòa nhập vào nền kinh tế thới giới.

2.4.2 Nhóm nhân tố liên quan đến cộng đồng

* An ninh, trật tự:

Mơi trường an ninh, trật tự có tác động đáng kể tới các hộ nghèo thực

tế cho thấy, tệ nạn xã hội thường đồng hành với nghèo đói. Nếu ở nơi nào tệ

nạn xã hội gia tăng, trật tự an ninh khơng đảm bảo thì ở đó khơng có sự phát

triển kinh tế nói chung và của người nghèo nói riêng. Người nghèo nói chung

la nhóm người có mức sống dễ bị tổn thương cao. Họ có thu nhập thấp, tài sản



không đáng giá. Nếu bị rủi ro mất cắp vận dụng lao động thì họ rất dễ rơi vào

cảnh khốn cùng.Khi người nghèo bị mất cắp thì cuộc sống của hộ vốn nghèo

lại càng nghèo hơn, vốn đã khốn cùng lại càng cùng cực hơn. Ngoài nguy cơ

dễ bị mất cắp, cuộc sống ở khu trật tự, an ninh không đảm bảo cũng là cho

người nghèo luôn cảm thấy không yên tâm để sản xuất, lao động, khi mua

thêm những tài sản phục vụ cho cuộc sống, họ cũng phải đắn đo rất nhiều.

Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của họ và làm cho những

cố gắng khơng xóa đói giảm nghèo gặp nhiều khó khăn.





Tập quán:

Về một mặt nào đó, tập quán, lối sống cũng là một trở lực tới sự



phát triển của người nghèo. Tập quán du canh du cư của một số đồng bảo

vùng dân tộc (nhất là Tây Bắc) đã làm cho tình trạng nghèo đói ( đói kinh

niên, đói gây gắt) về lương thực thực phẩm xảy ra thường xuyên. Chính

tập quán này đã đẩy họ rơi vào tình trạng nghèo dai dẳng, nghèo truyền

kiếp. Cái vòng luẩn quẩn “ nghèo đói phải du canh du cư và vì du canh du

cư càng thêm nghèo đói” cộng thêm các hủ tục lạc hậu về văn hóa, lối

sống bám chặt vào số phận của một số đồng bào miền núi.

2.4.3 Nhóm nhân tố liên quan đến mỗi cá nhân và hộ gia đình

* Quy mơ và cơ cấu hộ gia đình.

Qua nghiên cứu cho thấy quy mơ hộ gia đình có ảnh hưởng rất lớn

đến tình trạng nghèo đói. Người nghèo phổ biến ở những hộ gia đình có

quy mơ lớn, mỗi hộ có rất nhiều con, tuổi còn nhỏ. Điều này làm cho cuộc

sống gia đình họ gặp rất nhiều khó khăn. Cũng vì khó khăn mà hộ gia đình

làm ăn khá hoặc trung bình đã trở thành nghèo đói. Do số người trong gia

đình là tương đối nhiều nên chi tiêu cho những vấn đề thiết yếu hàng ngày

là khá cao ( chẳng hạn chi tiêu cho lương thực, quần áo, thuốc men…)

trong khi đó, tổng thu nhập của một hộ nghèo thường khơng tăng nhiều



hoặc có tăng nhưng cũng không thể đủ để trang trải các khoản chi tiêu

hàng ngày, hoặc làm ngày nào ăn hết ngày đó, khơng thể có được các

khoản tích lũy và do vậy việc thốt khỏi nghèo đói trở nên bế tắc.

* Nhóm nhân tố giáo dục.

Người nghèo thường có trình độ học vấn tương đối thấp, thiếu kỹ

năng làm việc và thông tin, thiếu kinh nghiệm sản xuất, khơng có kinh

nghiệm làm ăn, cho nên khơng có được giải pháp để tự thốt nghèo. Dân

trí thấp, tự ti, kém năng động, lại khơng được hướng dẫn cách thức làm ăn,

đây là nguyên nhân làm cho nhiều hộ rơi vào cảnh đói nghèo triền miên,

đặc biệt là các hộ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc miền núi, ít

người.

2.5. Các giải pháp hỗ trợ giảm nghèo trên địa bàn xã

Giải pháp về tổ chức: Hiện nay, một vấn đề làm cho hiệu quả các

chương trình giảm nghèo kém phát huy tác dụng và làm chậm tiến độ các

chương trình, dự án giảm nghèo là việc thiếu sự phối hợp và đầu mối liên kết

giữa huyện với xã, giữa xã với các cơ sở. Vì vậy, cần thực hiện các giải pháp

về tổ chức như sau:

- Tiếp tục củng cố vè kiện toàn hệ thống ban chỉ đạo giảm nghèo từ

huyện xuống các cơ sở.

- Tuyển dụng cán bộ của xã có tâm huyết, có trình độ trực tiếp xuống

cơ sở để theo dõi, tư vấn đôn đốc giúp đỡ các thôn thực hiện chương trình

giảm nghèo có hiệu quả, thiết thực.

- Có chính sách cán bộ thích hợp để khuyến khích các cán bộ làm cơng

tác giảm nghèo nhiệt tình, an tâm công tác thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

- Đối với các ban, nghành, đoàn thể của xã được phân công giúp đỡ

thôn nào cần cứ cán bộ phối hợp chặt chẽ với các cán bộ chuyên môn và ban

quản lý các thôn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chính sách giảm nghèo 2013-2015.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×