Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Con người lớn lên ngày càng xã hội hoá. Các nền kinh tế phát triển ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và bổ trợ cho nhau. Sự phát triển của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học công nghệ thông tin cũng như giao lưu văn hoá vừa cho phép vừa thúc

Con người lớn lên ngày càng xã hội hoá. Các nền kinh tế phát triển ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và bổ trợ cho nhau. Sự phát triển của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học công nghệ thông tin cũng như giao lưu văn hoá vừa cho phép vừa thúc

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



cụng nghip v xõy dng t 22,7% tăng lên 36,0% và dịch vụ từ 36,8% tăng

lên 39,1%. Hàng năm bình quân tạo ra được 1,2 triệu việc làm mới. Bên cạnh

những thành tựu trên còn một số yếu kém như nền kinh tế kém hiệu quả và

sức cạnh tranh còn thấp. Tích luỹ nội bộ và sức mua trong nước còn thấp, cơ

cấu kinh tế chuyển dịch chậm theo hướng cơng nghiệp hố- hiện đại hố, gắn

sản xuất với thị trường, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý, tình trạng bao cấp

và bảo hộ còn nặng . Tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây giảm sút

tuy đã tăng lên nhưng sau mấy năm thực hiện chiến lược kinh tế cải cách thì

đất nước ta đã vượt ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội

1.2. Tình hình phát triển kinh tế Thế giới

Ngày nay xu hướng khu vực hố và tồn cầu hố nền kinh tế đang tăng

trưởng mạnh mẽ, từng nhóm, từng khu vực thành lập nên các khu mậu dịch tự

do và quy định cho các quy ước đã được đề ra, thậm chí ở quy mơ lớn hơn

các Cơng ty khác nhau trên thế giới cũng đã có sự sát nhập nhằm mở rộng

phạm vi hoạt động và thị trường tiêu thụ. Các doanh nghiệp Việt Nam tham

gia vào AFEC ( Hộị nghị hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương ), AFTA (khu

vực thương mại tự do ), WTO( tổ chức thương mại tế giới), EU(Liên minh

Châu Âu) đã tạo điều kiện cho nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói

riêng có điều kiện giao lưu với ngành may trong khu vực và trên toàn thế giới.

Mặt khác khi tham gia vào các tổ chức này việc xuất nhập khẩu sẽ có nhiều

thuận lợi về thủ tục xuất nhập khẩu, xố bỏ một số hay hồn tồn hạn ngạch,

tạo điều kiện thuận lợi để tăng tốc độ phát triển kinh tế, thúc đẩy nhanh chóng

q trình cơng nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đồng thời giúp cho các

doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị trường. Song bên cạnh những khó

khăn đó nó cũng tạo ra nhiều thách thức đối với ngành may trong nước bởi sự

cạnh tranh của các sản phẩm may mặc được nhập vào nước ta từ Trung Quốc,

được sản xuất với cơng nghệ hiện đại hơn, trình độ quản lý cao hơn tạo cho

sản phẩm có sức cạnh tranh cao về giá cả. Sự ra đời của Tổ chức thương mại

thế giới WTO là bước tiến lớn trên con đường tháo dỡ các hàng rào cản trở

buôn bán tự do thế giới. Năm 2001 xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam t

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



43



Chuyên đề tốt nghiệp



mc tăng trưởng 4,4% là cố gắng lớn của ngành hàng vì nền kinh tế thế giới

bị trì trệ, sức mua giảm nên xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam không được

mở rộng. Việc Trung Quốc và Đài Loan trở thành thành viên của WTO đã tạo

cản trở lớn đối với các nhà sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.

Năm 2002 Trung Quốc được EU bãi bỏ 34 chủng loại hạn ngạch, trong đó có

10 chủng loại EU vẫn áp dụng với Việt Nam. Bên cạnh những khó khăn trên

ngành dệt may Việt Nam bước vào năm 2002 với một số thuận lợi. Đó là việc

nước ta được đánh giá là có mơi trường kinh doanh an tồn, ổn định nhất

trong khu vực nên có sức hút lớn đối với các đối tác nước ngoài. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực đã mở ra một thị trường rộng lớn,

có nhiều đơn hàng, thuế ưu đãi tối huệ quốc cho hàng dệt may Việt Nam.

Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt may Việt Nam đạt 2,4 tỷ USD, tăng

2,7% so với năm2001, gấp 2 lần năm1998 tức là tăng trưởng cao nhất trong

10 năm qua. Đáng chú ý là xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đã tăng đáng

kể, kinh ngạch xuất khẩu Dệt may đạt 900 triệu USD (chiếm 37,5% kim

ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ).

Năm 2003 kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt may chiếm gần 16,3% tổng

kim ngạch xuất khẩu so với 13,1% năm 2001. Điều này chứng tỏ tỷ trọng xuất

khẩu hàng dệt may trong tổng xuất khẩu Dệt may của Việt Nam đang ngày

càng lớn. Năm 2003 nước ta xuất khẩu được khoảng 1,5 (tỷ USD) ngành Dệt

may đóng góp trên 740 triệu USD (khoảng 49,3% kim ngạch xuất khẩu tăng

thêm) đã tạo việc làm cho khoảng 35 vạn lao động. Đây chính là đóng góp

quan trọng nhất đối với nền kinh tế quốc dân trong năm qua .

Việt Nam ta đang có nhiều lợi thế để xuất khẩu hàng dệt may như: an

ninh, kinh tế và chính trị, Việt Nam được các tổ chức xếp loại có uy tín trên

thế giới và xếp loại nhất trong khu vực Châu Á. Hàng dệt may Việt Nam nhất

là trong 10 năm qua xuất khẩu sang nhật và EU với khối lượng lớn đã chứng

tỏ uy tín to lớn của các doanh nghiệp Việt Nam đối với các hãng có tên tuổi

trên thế giới cả về chất lợng sản phẩm và thời hạn giao hàng được đảm bảo.

Việt Nam đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế nên số lao động di do s l ngun

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



44



Chuyên đề tốt nghiệp



b xung vụ tn cho phỏt trin công nghiệp may- một ngành thu hút nhiều lao

động xã hội nhất hiện nay. Hơn nữa sự nghiệp giáo dục trong 10 năm qua đã

tạo ra một đội ngũ lao động dự bị có trình độ văn hố, có sức khoẻ, đủ sức

tiếp thu công nghệ hiện đại để tạo ra những sản phẩm có đẳng cấp quốc tế đáp

ứng mọi nhu cầu cao của thị trường thời trang thế giới với giá cạnh tranh cao.

1.3. Phương hướng phát triển của ngành

Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế

Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mới “phát triển kinh tế hàng hoá

nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước

theo định hướng XHCN”. Trong nền kinh tế đó tồn tại quy luật cạnh tranh gay

gắt, ở đó khơng có sự khoan dung nào, người ta lợi dụng triệt để từng điểm

yếu của đối thủ cạnh tranh. Chính vì thế vấn đề phát triển và mở rộng sản xuất

hàng hố tiêu dùng có chất lượng cao được quan tâm hàng đầu, là vấn đề kinh

tế xã hội phức tạp quan trọng

Trong khung cảnh đó ngành Dệt may là ngành có ý nghĩa quan trọng,

trọng tâm trong giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch

hoá tập trung sang kinh tế thị trường. Ngành may mặc là một ngành có cấu

thành quan trọng trong chính sách định hướng xuất khẩu của Đất nước, nói

một cách chung hơn, ngành may là một trong những nỗ lực của Việt Nam

trong việc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.

Vì vậy đây là một ngành công nghiệp quan trọng không chỉ với tư cách

là một nguồn xuất khẩu để tạo vị thế cho Việt Nam nói chung và ngành may

nói riêng trên thị trường quốc tế mà nó còn là một ngành thu hút một khối

lượng lao động rất lớn, giải quyết được nhiều bức xúc về vấn đề tạo công ăn

việc làm cho người lao động.

Cho đến nay ngành dệt may Việt Nam đã thu được nhiều thành công

đáng kể, trong việc chuyển sang nền kinh tế mở cửa và hội nhập, tạo đượcuy

tín trên thị trường thế giới đặc biệt là ở thị trường EU, Mỹ, Nhật. Những yếu

tố quan trọng nhất để tạo được những thành quả này là một phn xut phỏt t

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



45



Chuyên ®Ị tèt nghiƯp



sự ổn định nền kinh tế vĩ mơ, những định hướng, chiến lược và sách lược

đúng đắn của nhà nước ta trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới.

Những nhân tố là nền tảng kinh tế vĩ mô đối với sự phát triển công nghiệp, ổn

định trong những hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp, cũng như đầu

vào thương mại thể chế và chính sách cấu thành mơi trường ở đó các doanh

nghiệp dệt và may đang cạnh tranh. Giờ đây ngành may mặc đang đứng trước

một vấn đề là làm thế nào để duy trì khả năng cạnh tranh của mình trong mơi

trường hiện nay, để đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá thị trường đáp ứng

đẩy đủ và kịp thời nhu cầu của khách hàng trong nước và quốc tế.

Trong chiến lược phát triển đến 2010. Ngành may mặc xác định mục

tiêu hướng mạnh ra xuất khẩu, thu hút ngoại tệ, tự cân đối các điều kiện sản

xuất và phát triển nhằm vươn lên trở thành một ngành mũi nhọn của Việt

Nam. Xuất phát từ quan điểm đó chúng ta sẽ chuyển từ gia công xuất khẩu

sang chủ động sản xuất bằng nguyên vật liệu trong nước, tìm kiếm thị trường

và xuất khẩu đảm bảo nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tích luỹ ngày

càng nhiều lợi nhuận trên cơ sở nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các mặt

hàng xuất khẩu.

Để thực hiện những điều này ngành dệt may đặt ra phương hướng

hoạt động trong những năm tới như sau:

- Tăng nhanh và duy trì tốc độ tăng năng suất trong ngành, cải thiện và

đưa ngành công nghiệp dệt may vào con đường cạnh tranh kinh tế .

- Khẳng định quan điểm hướng ra xuất khẩu là phương thức chuyển

mạnh từ gia công sang nguyên vật liệu bán thanh phẩm. Đảm bảo nâng cao

thành quả, tăng nhanh tích luỹ, nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các mặt

hàng xuất khẩu.

- Ngành dệt phải được cơ cấu căn bản lại và đầu tư thêm vốn công

nghệ, cuộc cải cách này nên được thực hiện theo hình thức điều chỉnh cơ cấu

cả gói với sự tài trợ của các tổ chức hỗ trợ phát triển (như ADB, WB) hai

nhân tố vốn và công nghệ phải được tiến hành đồng bộ nu nh ch u t

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



46



Chuyên đề tốt nghiệp



vn v mỏy múc mi m khụng thực hiện cải cách sâu thì sẽ khơng thu được

kết quả như mong muốn. Những đề xuất như vậy “ dự án cơ cấu lại ngành

dệt” cần phải được đặt ở vị trí ưu tiên , và sự tham gia của doanh nghiệp nước

ngồi vào các chương trình này cần được xác định trước nếu xét thấy các

doanh nghiệp đó có thể nhanh chóng chuyển giao nắm được kỹ thuật và công

nghệ trong nước.

- Chú trọng đầu tư theo chiều sâu để cân đối lại dây chuyền sản xuất cho

đồng bộ, bổ sung các thiết bị lẻ, thay thế các máy móc cũ đã lạc hậu, cải tạo

nâng cấp một số trang thiết bị, đổi mới công nghệ nhằm tăng sản lượng , năng

suất thiết bị và năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng

sản phẩm.

Trong bối cảnh khu vực hố và tồn cầu hố, ngành dệt may Việt Nam

tiếp tục tham gia vào tiến trình quốc tế hố lực lượng sản xuất,chịu sự phân

cơng lao động góp phần tạo ra thị trường thế giới rộng lớn thông qua sự hợp

tác chặt chẽ và cạnh tranh găy gắt.

Tóm lại với quan điểm định hướng trên, ngành may mặc Việt Nam cần

có nhiều chiến lược phát triển thích hợp, có kế hoạch ngắn và dài hạn.Đầu tư

một cách tồn diện về cơng nghệ, nghiên cứu thị trường, đào tạo nhân lực,

chủ động trong thiết kế mẫu thời trang, đảm bảo cho sản xuất ra các sản phẩm

đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Làm được điều này thì ngành may mặc Việt Nam là

ngành sản xuất và xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

1.4. Phương hướng phát triển của Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng

Long

Với hơn 11 năm tồn tại và phát triển Công ty cổ phần may và dịch vụ

Hưng Long đã từng bước trưởng thành và mở rộng hơn về quy mô kinh doanh

trên thị trường trong nước và thế giới. Sản phẩm của Công ty sản xuất ra đã

đủ tiêu chuẩn để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu còn lại là đáp ứng nhu cầu trong

nước. Tuy nhiên để có thể cạnh tranh được với các Cơng ty trong nước và

ngồi nước, Công ty cần đề ra phương hướng hoạt động cho cỏc nm ti trờn

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



47



Chuyên ®Ị tèt nghiƯp



cơ sở kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả cạnh trạnh và kết quả hoạt động

xuất khẩu của các năm trước, kết quả nghiên cứu thị trường, đồng thời đánh

giá điều kiện thuận lơị và khó khăn của Công ty. Cùng với việc mở rộng đầu

tư xây dựng thêm phân xưởng may. Tiếp tục phát huy sức mạnh của mình và

góp phần với các doanh nghiệp trong toàn ngành thực hiện chiến lược tăng

tốc phát triển ngành dệt may Việt Nam. Công ty phấn đấu từ năm nay đến

năm 2005 thực hiện tốt các chỉ tiêu sau:

- Mở rộng hoạt động của Công ty tới thị trường nhiều tiềm năng

Trong những năm tới đây Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long

sẽ tiếp tục nghiên cứu các phương án phát triển mở rộng thị trường của Cơng

ty tới các thị trường có sức tiêu thụ lớn như Pháp, Đức, Thuỵ Điển, Nhật, Mỹđây là thị trường của các nước phát triển. Bên cạnh đó Cơng ty chú ý đến thị

trường Châu Á như Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc. Các khách hàng ở các

nước đang phát triển Châu Á đã có quan hệ bề dày làm ăn với Công ty nhưng

sau khi họ đặt gia công ở Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long họ tự

tiến hành để tái sản xuất sang các thị trường các nước đang phát triển để kiếm

lời. Xu hướng hiện nay trên thế giới về sản xuất hàng may mặc đang có sự

chuyển dịch từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và chậm

phát triển vì sản xuất ở những nước này chi phí nhân cơng sẽ rẻ hơn. Chính

vì vậy Cơng ty sẽ tiếp tục nỗ lực tìm kiếm bạn hàng ở các nước phát triển ký

kết hợp đồng xuất khẩu trực tiếp để thu được lợi nhuận cao hơn.

Từng bước đẩy mạnh kinh doanh theo phương thức mua đứt bán đoạn

(xuất khẩu trực tiếp).Theo phương thức mua đứt bán đoạn Công ty sẽ chủ

động được trong sản xuất kinh doanh và lợi nhuận thu hồi về sẽ lớn hơn so

với hoạt động gia công cho khách hàng. Tuy nhiên Công ty vẫn duy trì

phương thức gia cơng vì những ưu điểm của nó. Mặt khác hiện nay Cơng ty

chưa đủ vốn để mua nguyên vật liệu sản xuất cho tất cả các đơn hàng. Thực

hiện phương thức mua đứt bán đoạn đòi hỏi Cơng ty phải có vốn lưu động

lớn, ln ln có nguồn nguyên liệu dự trữ. Nhưng hiện nay nguồn nguyờn

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



48



Chuyên đề tốt nghiệp



liu Cơng ty tìm được vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ về cả số lượng và chất

lượng cho nhiều đơn hàng. Vì thế phương thức gia cơng vẫn được duy trì

trong thời gian này.

- Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng may mặc

Trong những năm tới Công ty đề ra những phương hướng phấn đấu tăng

trưởng hàng năm từ 8%- 12%. Cơng ty đã nghiên cứu tìm những biện pháp tổ

chức sản xuất, quản lý, khai thác nhiều đơn hàng trực tiếp để nâng cao được

tỷ lệ lợi nhuận đầu tư cho phát triển doanh nghiệp. Tạo điều kiện làm việc tốt

hơn cho các cán bộ công nhân viên, tăng đóng góp vào ngân sách nhà nước

và tăng thu nhập bình quân cho người lao động. Mặt khác Cơng ty khơng

ngừng tìm kiếm nguồn ngun vật liệu với giá rẻ phục vụ cho sản xuất được

chủ động, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành cho sản phẩm. Đồng thời liên kết

với các đơn vị khác trong ngành đặc biệt là các công nghiệp dệt cung cấp

nguyên vật liệu có chất lượng tốt để chủ động xuất khẩu sang thị trường Mỹ

và các thị trường khác. Công ty đang triển khai xây dựng cơ sở sản xuất

nguyên phụ liệu cho ngành may như khoá, kéo, cúc nhựa, mex, nhãn dệt và

băng rôn các loại đã được Tổng Công ty dệt may phê duyệt nhằm tạo điều

kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế

và phát triển thị trường nội địa.

Công ty đang từng bước chủ động đâu tư máy móc thiết bị công nghệ

hiện đại (hệ thống cắt tự động, thiết kế bằng máy vi tính…) mở rộng sản xuất

kinh doanh tại khu vực trong tỉnh Hưng Yên và các khu vực Nam Định, Hà

Nam, Hải Phòng để tăng nhanh năng lực sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh,

tạo điều kiện thâm nhập vào thị trường Mỹ khi Việt Nam đang được hưởng

quy chế tối huệ quốc, tập trung vào các mặt hàng mũi nhọn của Công ty như

quần dệt thoi, đồ bơi nữ, quần Jean.

Tiếp tục hồn thiện cơng tác tổ chức, sắp xếp lao động phù hợp với cơ

cấu xây dựng các xí nghiệp thành viên, hạch tốn độc lập nhằm đạt được hiệu

quả cao hơn trong hoạt động sản xut kinh doanh .

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



49



Chuyên ®Ị tèt nghiƯp



2. Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty

Trải qua một chặng đường tồn tại và phát triển Công ty cổ phần may và

dịch vụ Hưng Long đã có những thành cơng nhất định trong lĩnh vực sản xuất

hàng may mặc, đáp ứng được yêu cầu của thị trường, có được khách hàng

truyền thống trung thành, tin cậy đối với Công ty, sản phẩm của Cơng ty đã có

một vị thế nhất định trên thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên do đặc

trưng của nền kinh tế thị trường cạnh trạnh ngày càng găy gắt và khốc liệt.

Công ty muốn tồn tại và phát triển hơn nữa thì ln phải chú trọng việc nâng

cao năng lực cạnh tranh, nếu không Công ty sẽ mắc phải nguy cơ tụt hậu là

điều không tránh khỏi. Thông qua thông tin về năng lực cạnh tranh hiện tại

của Công ty, đồng thời thông qua lợi thế cạnh tranh mà Cơng ty có được và

những tồn tại còn vướng mắc. Thơng qua phương hướng phát triển của ngành

nhất là phương hướng phát triển của Công ty, em xin mạnh dạn đề xuất một

số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty:

* Giải pháp 1: Nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu

Chất lượng sản phẩm luôn là yếu tố hàng đầu trong mối quan tâm của

khách hàng ở trên bất cứ thị trưòng nào. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm

khơng chỉ đơn thuần là việc làm cho sản phẩm của doanh nghiệp bền hơn mà

còn bao gồm việc làm cho sản phẩm đẹp hơn, đa dạng phong phú hơn, phù

hợp với yêu cầu sở thích của khách hàng. Do tính chất thời trang của mình,

nếu một sản phẩm may mặc chỉ bền, rẻ khơng thì khách hàng vẫn khơng thích

mua nó bằng việc mua một sản phẩm có độ bền tương tự, mẫu mã đẹp nhưng

giá cả cao hơn một chút, đây là điều thường xảy ra ở các thị trường mà mức

sống của người dân cao như ở các thị trường mà doanh nghiệp đang kinh

doanh.

Chất lượng của sản phẩm mặc dù được quyết định bởi nhiều yếu tố, bao

gồm các chỉ tiêu đo đếm được (như độ nhẵn đẹp, mịn mượt của vải, sự chắc

đều của đuờng kim mũi chỉ...) và những tính chất khơng đo đếm được (thẩm

mỹ, mốt thời trang, cảm giác thoải mái trong khi s dng...). Cụng ty c phn

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



50



Chuyên đề tốt nghiệp



may Hng Long ó cú khả năng đảm bảo chất lượng của sản phẩm xét

theo các tiêu chuẩn định lượng, nhưng với tiêu chuẩn định tính thì lại là cả

một vấn đề. Cơng tác thiết kế của công ty hiện nay đang là một khâu yếu,

nhiều sản phẩm khơng phải do trình độ khơng thiết kế được mà do chưa chú

trọng đầu tư cho công tác này. Vì vậy, cơng ty cần đẩy mạnh hoạt động nghiên

cứu tạo ra nhiều chủng loại với màu sắc, kiểu dáng đẹp và độc đáo bám sát thị

hiếu của khách hàng. Để nâng cao chất lượng sản phẩm công ty cần tiến hành

các công việc sau:

- Không ngừng ứng dụng các thiết bị khoa học mới, hiện đại hoá trang

thiết bị cho doanh nghiệp may mặc để từng bước nâng cao chất lượng và hạ

giá thành sản phẩm, giữ chữ tín với khách hàng. Đầu tư vào các máy móc

thiết bị, cải tiến cơng nghệ sản xuất tăng khả năng tự động hố q trình sản

xuất kết hợp với việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn

ISO 9002. Bởi vì máy móc thiết bị có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản

phẩm xuất khẩu của Cơng ty. Máy móc thiết bị lạc hậu khơng đồng bộ sẽ gây

hỏng hóc, ngưng trệ sản xuất, tiêu tốn lao động ảnh hưởng đến chất klượng

sản phẩm xuất khẩu. Như vậy đầu tư hiện đại hố máy móc thiết bị để nâng

cao chất lượng mở rộng quy mô, tăng năng lực sản xuất là biện pháp cần thiết

và cấp bách của Công ty hiện nay.

- Kiểm tra chặt chẽ chất lượng nguyên phụ liệu đầu vào, tạo bạn hàng

cung cấp nguyên phụ liệu ổn định, đúng thời hạn, đảm bảo chất lượng.

- Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu của bên đặt hàng về nguyên liệu, quá

trình sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình kiểm tra chất lượng hàng trước

khi xuất khẩu qua hệ thống kiểm tra chất lượng bắt buộc.

- Một nhân tố quan trọng khác là trình độ tay nghề của cơng nhân, vì

đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm. Nếu Cơng ty có đội

ngũ cơng nhân lành nghề sẽ làm ra được những sản phẩm đẹp, đảm bảo chất

lượng, đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

* Giải pháp 2: Giỏ thnh sn phm hp lý

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



51



Chuyên đề tốt nghiệp



Doanh nghip cn xõy dng mt chiến lược giá hợp lý, linh hoạt, phù

hợp với từng đối tượng khách hàng, phù hợp với từng sản phẩm. Công ty hiện

nay đang sản xuất một số mặt hàng quần áo tương tự như hàng của đối thủ

cạnh tranh. Đối với những mặt hàng này khi bán ở thị trường trong nước thì

giá cả lại cao hơn giá mặt hàng cùng loại của đối thủ cạnh tranh rất nhiều

trong khi chất lượng lại không cao hơn là mấy và mẫu mã lại tương tự thì khi

người tiêu dùng trong nước lựa chọn với một số tiền có hạn thì rõ ràng họ sẽ

khơng chọn hàng của doanh nghiệp.

Vì vậy, doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị trường trong nước cũng như

xuất khẩu thì doanh nghiệp phải lựa chọn sản xuất các mặt hàng có thể có

chất lượng thấp hơn, bán với giá rẻ hơn theo hình thức giá thấm dần hoặc là

sản xuất các sản phẩm cao cấp hơn hẳn với các nhãn hiệu nổi tiếng, có uy tín

trên thế giới và bán với mức giá cao hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh

khác theo chính sách hớt váng sữa.

Giá cả sản phẩm là yếu tố hạn chế của hàng may Việt Nam cũng như

hàng may mặc của Cơng ty vì giá của chúng ta thường cao hơn giá cả cùng

loại của các nước trong khu vực từ 10 - 15%, đặc biệt so với sản phẩm dệt

may của Trung Quốc, giá của hàng may Việt Nam đến 20%. Mà giá thành sản

phẩm là một yếu tố cạnh tranh khá mạnh trong thị trường may mặc. Để giảm

giá thành Công ty cần phải quan tâm áp dụng mọi biện pháp để tiết kiệm chi

phí sản xuất, chi phí lưu thông nhỏ nhất. Cụ thể :

+ Mua nguyên vật liệu từ nơi nào có lợi nhất, tiết kiệm nguyên vật liệu

trong sản xuất cải tiến công nghệ và quản lý lao động chặt chẽ để giảm giá

thành sản phẩm.

+ Cơng ty phải cố gắng tìm các phương án giảm tối đa các phí tổn

thương mại để giảm giá bán các mặt hàng. Các phí tổn thương mại này bao

gồm tồn bộ các chi phí liên quan đến việc bán sản phẩm.

+ Việc sử dụng các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ ở các thị trường nước ngoài

cũng phải được tính tốn cẩn thận sao cho hiệu quả cao nhất vi mt mc chi

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



52



Chuyên ®Ị tèt nghiƯp



phí hợp lý. Nếu cứ quảng cáo, khuyến mãi tràn lan và khơng phù hợp với thị

trường thì có khi rất tốn kém mà chẳng có tác dụng gì, thậm chí đơi khi còn

phản tác dụng.

Ngồi ra Cơng ty cần tiếp cận gần người tiêu dùng càng tốt vì khi đó

hàng có thể bán được với giá cao hơn và có được thơng tin, nhu cầu khách

hàng kịp thời hơn. Hiện nay có những chi phí rất lớn mà chúng ta ít để ý tới

đó là lãng phí thời gian và lãng phí sức người. Cơng ty cần quan tâm sử dụng

có hiệu quả để giảm chi phí bình qn sản phẩm từ đó giảm giá thành sản

phẩm.

* Giải pháp 3: Giải pháp về mẫu mốt

Tập trung xây dựng đầu tư và hoàn thiện bộ phận thiết kế mẫu mốt hoàn

chỉnh hơn nữa đặc biệt coi trọng tới công tác nghiên cứu và phát triển mẫu

mốt thời trang phù hợp với nhu cầu thị hiếu của thị trường nhập khẩu và thị

trường trong nước. Khi tham gia vào thị trường may mặc thế giới Công ty

phải đương đầu với vấn đề lớn là cạnh tranh, trong quá trình này thì giá trị

thẩm mỹ của sản phẩm được coi trọng do tác đọng của mẫu mốt thời trang.

Nói một cách khác yếu tố mẫu mốt thời trang tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ

nhất cho sản phẩm may mặc do đó Cơng ty cần phải:

+ Liên kết tinh tế và kỹ thuật chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu mẫu mốt

để có thể tập trung nguồn vốn trí tuệ cho việc hình thành và phát triển các

nghiên cứu sáng tạo mẫu mốt, đồng thời phát triển hơn nữa trung tâm mẫu

mốt của Công ty… Với thiết bị đã được trang bị trong thời gian qua, Công ty

cũng cần tổ chức nguồn tư liệu và thông tin phục vụ cho nghiên cứu sáng tác

mẫu mốt một cách hệ thống và cung cấp kịp thời để đảm bảo cho sự tiếp cận

nhanh nhất.

+ Chu kỳ mẫu mốt ngày càng trở nên ngắn hơn, do con người ngày càng

có nhứng ý tưởng phong phú và phức tạp hơn đòi hởi sản phẩm cũng phải

thay đổi liên tục theo mong muốn đó. Vì vậy Công ty sẽ chỉ thành công khi

thường xuyên thay đổi mẫu mốt, tìm kiếm sáng tạo nhiều kiểu mốt vi nhiu

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



53



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Con người lớn lên ngày càng xã hội hoá. Các nền kinh tế phát triển ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và bổ trợ cho nhau. Sự phát triển của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học công nghệ thông tin cũng như giao lưu văn hoá vừa cho phép vừa thúc

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×