Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long

Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chuyên đề tốt nghiệp



Mi mt hng c may t nhiu loại vải khác hoặc có nhiều mặt hàng được

may từ cùng một loại vải. Do đó cơ cấu chi phí chế biến và định mức của mỗi

loại chi phí cấu thành sản lượng của từng loại mặt hàng có sự khác nhau.

Đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần may và dịch vụ

Hưng Long là sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục, sản phẩm của

Công ty là hàng may mặc do vậy rất đa dạng có nhiều chủng loại khác nhau,

tuy nhiên nhìn chung mọi sản phẩm đều phải trải qua nhiều giai đoạn sản xuất

kế tiếp nhau theo qui trình cơng nghệ sau đây.

Sản phẩm của Công ty chủ yếu là hàng may mặc do vậy đối tượng chủ

yếu là vải, từ nguyên liệu vải thô ban đầu để trở thành sản phẩm hồn thiện

phải trải qua các cơng đoạn như cắt, là, đóng gói.

a. Cơng đoạn cắt.

- Trải vải

- Cắt pha

- Cắt gọt chi tiết chính xác

- Đánh số

- KCS bán thành phẩm rồi chuyển sang tổ may

b. Công đoạn may.

- May lắp ráp hoàn chỉnh theo đúng yêu cầu chất lượng, kỹ thuật

(may cổ, may tay)

- KCS sản phẩm chuyển sang tổ là.

c. Công đoạn là

- Là thành phẩm theo đúng quy trình

- Gấp cài nhãn các loại thẻ bài, hồn thiện sản phẩm

d. Cơng đoạn đóng gói, nhập kho thành phẩm

Quy trình cơng nghệ là một nhân tố quan trọng tác dụng trực tiếp đến

bộ máy sản xuất của Công ty. Do đó ở Cơng ty cổ phần may và dịch vụ Hưng

Long các phân xưởng sản xuất được tổ chức theo dây chuyền khép kín, giữa

các bộ phận có sự phối hợp nhịp nhàng, tránh lãng phí về nguyên liu v thi

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



10



Chuyên đề tèt nghiÖp



gian nên sản phẩm vừa đảm bảo chất lượng và giá thành hạ dẫn đến sức cạnh

tranh của sản phẩm công ty cao.

4.2. Môi trường kinh doanh trong nước

Thời gian trước thị trường hàng may mặc trong nước là một thị trường

rất tổng hợp, thời trang không theo một xu hướng nào. Hàng may mặc nhập

khẩu chủ yếu là Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, hàng Secondhand nhập lậu

tràn vào thị trường Việt Nam gây cản trở cho các nhà sản xuất may mặc trong

nước. Bên cạnh đó hàng của các Công ty may trong nước cũng cạnh tranh với

nhau, bên cạnh những yếu tố tích cực là động lực thúc đẩy hàng may mặc Việt

Nam phát triển nó còn là nhân tố cạnh tranh khơng tích cực làm lũng đoạn thị

trường hàng may mặc Việt Nam vì chưa có sự quản lý nhất qn, Cơng ty nào

cũng muốn bán được hàng nên họ có thể sẵn sàng bán phá giá với biểu hiện

như đại hạ giá gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác.

Nhưng cũng phải thấy rằng, tập quán tiêu dùng của người Việt Nam

đang thay đổi. Trước năm 1992 hàng may sẵn công nghiệp chỉ chiếm 20% thị

phần tại các thành phố lớn nhưng hiện nay theo đánh giá của các chuyên gia

nhu cầu này chiếm khoảng 60-70% trong cả nước. Ngày nay với sự phát triển

của nền kinh tế thị trường, đời sống của con người ngày càng được nâng cao,

kéo theo sự đòi hỏi phong phú hơn của nhu cầu, nhất là ở các thành phố lớn,

các khu đô thị, thị xã xu thế mặc mốt ngày càng nhiều và ưa chuộng đồ ngoại,

phong phú hơn về mẫu mã chủng loại .

Với sự thay đổi như vậy ngành may mặc Việt Nam đã gặp phải khơng ít

những khó khăn nhất là trong việc thu hút vốn đầu tư, về vốn để mở rộng thị

trường, cải tiến chất lượng mẫu mã, để vừa định được mức giá phù hợp với

thu nhập của người dân, vừa bù đắp được chi phí trang, trải chi phí và thu được lợi nhuận tái sản xuất. Tuy nhiên ngành may mặc trong nước đang trên đà

phát triển, sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài với một khối lượng lớn. Đấy là

lợi thế để hàng may mặc Việt Nam có điều kiện giao lu hi nhp, hc hi

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



11



Chuyên đề tốt nghiệp



kinh nghim v tip nhn nhng cụng nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm phục vụ

cho sản xuất trong nc .



Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



12



Chuyên đề tèt nghiƯp



4.3. Mơi trường kinh doanh quốc tế

Cơng ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long chuyên sản xuất hàng gia

công may mặc xuất khẩu. Hàng năm Công ty đã sản xuất từ 1-1.5 triệu sản

phẩm/năm trong đó hàng may mặc xuất khẩu là chủ yếu, còn lại là phục vụ

nhu cầu nội địa. Thị trường xuất khẩu hàng may của công ty bao gồm:

Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thụy Điển, Mỹ… Trong

đó hai thị trường Mỹ, Nhật bản và EU là hai thị trường lớn nhất của Công ty.

Kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang Nhật Bản chiếm hơn 30% và sang thị

trường EU chiếm khoảng 18% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Hàng hố

nhập vào EU có mức độ cạnh tranh tương đối gay gắt do mức độ tập trung

của các nhà sản xuất và xuất khẩu trên thế giới ngày càng quan tâm tới thị

trường tiềm năng này. Hơn thế nữa, bởi là một thị trường đa quốc gia phát

triển với mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, do vậy yêu cầu

về sản phẩm khá cao, không chỉ phát triển theo chiều rộng mà còn phát triển

theo chiều sâu của sản phẩm. Điều này nghĩa là sản phẩm nhập khẩu vào EU

khơng những đòi hỏi sự hợp lý về giá cả, chất lượng tốt mà sâu hơn nữa chính

là lợi ích đem lại trong q trình sử dụng thậm chí là sau khi kết thúc việc sử

dụng sản phẩm đó. Trong tương lai Mỹ và các nước Đơng Âu sẽ là những thị

trường mới với những hướng phát triển cho Dệt may của Công ty. Mỹ là thị

trường tiêu thụ lớn, người dân Việt Nam cư trú ở đây cũng khá đông đặc biệt

là Hiệp định thương mại Việt - Mỹ đã được ký kết và hiệu lực sẽ tạo ra một

tiền đề vững chắc cho phát triển của Công ty.

4.4. Môi trường cạnh tranh của Công ty

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh luôn là vấn đề diễn ra sôi động,

cấp bách và gay gắt. Bất cứ một doanh nghiệp nào để tồn tại trước tiên phải

có vốn, lao động và kỹ thuật nhưng phải biết sử dụng và quản lý một cách có

hiệu quả. Bên cạnh đó các Cơng ty ln phải có các cơng cụ và phương pháp

cạnh tranh thì mới có thể đứng vững và phát triển. Khi đóng vai trò là yếu tố

tích cực cạnh tranh chính là bước tạo đà, là động lc cỏc Cụng ty vn lờn

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



13



Chuyên đề tốt nghiệp



phỏt trin, theo kp vi xu thế phát triển kinh tế thế giới, đem lại hiệu quả cao

cho hoạt động kinh doanh, đóng góp vào ngân sách nhà nước, đem lại cuộc

sống ấm no cho người lao động. Cạnh tranh được coi là yếu tố tiêu cực khi nó

gây ra áp lực, dẫn đến phương lối làm ăn vi phạm chuẩn mực xã hội. Cạnh

tranh là biểu hiện của tính hai mặt đối lập nhau tuy nhiên nó khơng thể thiếu

trong nền kinh tế thị trường. Đối với Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng

Long, là Cơng ty mới thành lập nên có nguồn vốn tích luỹ chưa cao, kinh

nghiệm kinh doanh còn chưa có nhiều song bước đầu Cơng ty đã khẳng định

được sức mạnh của mình trong ngành Dệt may Việt Nam, sản phẩm của công

ty không chỉ phục vụ cho nhu cầu làm đẹp của người tiêu dùng trong nước mà

còn đáp ứng nhu cầu nhiều khách hàng trên thế giới. Điều đó đã khẳng định

được về chất lượng sản phẩm của Công ty trong sự cạnh tranh gay gắt của cơ

chế thị trường mà các đơn vị cùng ngành khác như Công ty may Thăng Long,

Công ty may 10, Công ty may Việt Tiến, Công ty may Chiến Thắng và các

sản phẩm nhập khẩu khác như Trung Quốc, Thái Lan, Singapo. Việt Nam có

một mơi trường chính trị ổn định, được nhà nước quan tâm tạo môi trường

cạnh tranh lành mạnh đấy chính là điểm thuận lợi để các doanh nghiệp trong

nước nói chung và các cơng ty may nói riêng có cơ hội và điều kiện phát huy

và khai thác những điểm mạnh, những lợi thế của mình của mình đồng thời

hạn chế những rủi ro và bất lợi mang đến cho bản thân doanh nghiệp.

5. Thực trạnh khả năng cạnh tranh của Cơng ty

5.1. Phân tích kết qu hot ng kinh doanh ca Cụng ty



Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



14



Chuyên đề tốt nghiệp



Biu 1: Phõn tớch kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm

(2001 - 2003)

Đơn vị: 1.000đ



Thực hiện

Stt



Các chỉ tiêu



1 Tổng doanh thu

2 Doanh thu xuất khẩu

3 Các khoản giảm trừ

- Giảm giá hàng bán

4 Doanh thu thuần

5 Giá vốn hàng bán

6 Chi phí kinh doanh

7 Lợi nhuận sau thuế

8 Tổng nguồn vốn

9 TSLN/DT(%)

10 TSLN/NV(%)

11 TSCF/DT(%)

12 Nộp ngân sách

13 Thu nhập bình qn



2000



18733

17301

27

27

18706

14235

2740

490

37678

2,62

1,3

14,65

77

750



2001



20817

18661

32

32

20785

16176

2866

548

38862

2,64

1,4

13,8

83

870



2002/2001

2002



24047

22334

36

36

24011

17740

3009

646

40896

2,68

1,58

12,53

91

1020



Chênh

lệch



2084

1360

5

5

2079

1941

126

58

1184

0,02

0,1

- 0,85

6

120



Tỉ lệ

(%)



11,12

7,86

18,5

18,5

11,11

13

4,6

12

3,14



7,79

16



2003/2002

Chênh

lệch



3230

3673

4

4

3226

1564

143

98

2034

0,04

0,18

-1,27

8

150



Tỉ lệ

(%)



15,5

19,68

12,5

12,5

15,5

9,7

4,98

17,8

5,2



9,63

17



Qua bảng số liệu tính tốn ở trên ta thấy kết quả hoạt động kinh doanh

của Công ty tăng dần qua các năm. Tổng doanh thu năm 2002 tăng 2084 triệu

đồng tương ứng tỷ lệ tăng 11,12% so với năm 2001, tổng doanh thu năm 2003

tăng 3230 triệu đồng tương ứng tỷ lệ tăng 15,5% so với năm 2002. Do đặc thù

của Công ty là các mặt hàng may mặc chủ yếu xuất khẩu ra nước ngoài. Do

vậy doanh thu xuất khẩu chiếm tỷ lệ trọng rất cao trong tổng doanh thu. Cụ

thể doanh thu hàng xuất khẩu năm 2002 tăng 1360 triệu đồng tương ứng với

tỷ lệ tăng 7,86% so với năm 2001 và doanh thu xuất khẩu năm 2003 tăng

3673 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 19,68% so với năm 2002. Công ty

đã thực hiện tốt kế hoạch tiêu thụ hàng hoá, tăng sản lượng bán ra qua mỗi

năm bằng cách cải tiến sản phẩm, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá với sự

phong phú về mẫu mã chủng loại, đáp ứng nhu cầu đa dạng, phù hợp với khả

năng thanh toán của những khách hàng có mức thu nhập cao, những khỏch

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



15



Chuyên đề tốt nghiệp



hng có mức thu nhập trung bình và những khách hàng bình dân. Tuy nhiên

vẫn có một số hàng hố còn tồn kho do số hàng này một phần là hàng lỗi mốt,

hàng kém phẩm chất và hàng bán ra không đúng thời vụ. Cơng ty đã thực hiện

chính sách giảm giá nhằm tăng lượng khách hàng mua đồng thời giải phóng

những mặt hàng còn tồn đọng, tránh tình trạng để lượng hàng tồn từ năm này

qua năm khác. Các khoản giảm trừ chủ yếu là khoản giảm giá hàng bán,

không có hàng bán bị trả lại và khơng có thuế tiêu thụ đặc biệt. Năm 2002

giảm giá hàng bán tăng 5 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 18,5% so với

năm 2001, năm 2003 giảm giá hàng bán tăng 4 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ

tăng 12,5% so với năm 2002. Mức tăng đã giảm so với tỷ lệ tăng năm 2002.

Tổng doanh thu sau khi trừ đi khoản giảm giá hàng bán, phần còn lại là

doanh thu thuần. Doanh thu thuần năm 2002 tăng 2079 triệu đồng tương ứng

với tỷ lệ tăng 11,11% so với năm 2001, năm 2003 tăng 3226 triệu đồng tương

ứng với tỷ lệ tăng 15,5% so với năm 2002. Sự phản ánh doanh thu thuần của

Công ty trong 3 năm vừa qua cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh rất khả

quan, doanh thu của Công ty tăng lên chủ yếu do tăng sản lượng bán ra qua

mỗi năm.

Qua kết quả phân tích trên ta thấy rằng tình hình hoạt động kinh doanh

của Công ty được đánh giá là tốt bởi doanh thu và lợi nhuận đều tăng lên qua

các năm và tốc độ tăng của lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu.

Những kết quả mà Công ty đã đạt được điều đó chứng tỏ rằng năng lực

cạnh tranh của Cơng ty ngày càng được nâng cao. Đó là kết quả của sự nỗ

lực, cố gắng của cả Công ty từ ban lãnh đạo của Công ty đến bộ phận sản

xuất, đến bộ phận bán hàng. Tuy nhiên nguyên nhân sâu xa dẫn đến kết quả

đó là do sản phẩm của Cơng ty ngày càng có chất lượng tốt hơn. Kết quả này

đạt được là một thành tích của một q trình cạnh tranh gay gắt, nhằm lơi kéo

được khách hàng về phía mình đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hố. Doanh

thu của Cơng ty tăng chủ yếu là do sản lượng tiêu thụ hàng hố tăng lên chứ



Ph¹m Văn Phiên - QTKDTH - K32



16



Chuyên đề tốt nghiệp



khụng phi do tăng giá. Do vậy một phần nào đó có thể khẳng định rằng khả

lực cạnh tranh của Công ty đã được nâng cao hơn so với các năm trước.

Biểu 2: Biểu phân tích kết quả tiêu thụ hàng hố của Công ty trong

3 năm (2001 2003)

Thực hiện

Stt

1

2

3

4

5



Tên sản phẩm

Tổng SP tiêu thụ

Quần dệt thoi

Quần Jean

Đồ bơi nữ

Sản phẩm khác



2000



2001



2002



710857

232107

131671

105598

240481



807022

272220

149325

118514

266933



925891

320525

171197

141861

301634



2002/2001

Chênh

lệch



96165

39113

17564

12916

26452



2003/2002



Tỉ lệ Chênh

(%)

lệch



13,0

16,83

13,4

12,23

11



Tỉ lệ

(%)



118869 14,0

48305 17,7

21872 14,7

23347 19,69

34701

13



(Nguồn: Số liệu lấy từ phòng kinh doanh của Cơng ty cổ phần may và

dịch vụ Hưng Long)

Tiêu thụ sản phẩm là khâu được các doanh nghiệp nói chung và Cơng

ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long nói riêng coi là khâu có tính chất quyết

định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Sở dĩ như vậy bởi

qua khâu tiêu thụ thì sản phẩm sản xuất mới chuyển từ hình thái hiện vật sang

hình thái tiền tệ. Trong q trình sản xuất kinh doanh Cơng ty cố gắng thực

hiện sản xuất ra tới đâu tiêu thụ ngay tới đó tránh tình trạng tồn kho gây ảnh

hưởng tới tốc độ quay vòng của đồng vốn, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp tới

doanh thu của doanh nghiệp. Từ năm 2001 số lượng sản phẩm sản xuất của

Công ty tăng không ngừng. Song song với việc tăng số lượng sản xuất Công

ty phải đảm bảo ổn định và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong

những năm qua do có nhiều đổi mới trong cơng tác thị trường cùng với uy tín

về chất lượng mẫu mã sản phẩm của Công ty nên sản phẩm sản xuất đến đâu

tiêu thụ hết đến đó, số lượng sản phẩm tồn kho là rất ít.

Qua bảng số liệu trên ta thấy sản lượng trên tiêu thụ của Công ty không

ngừng tăng lên qua các năm, hầu hết các sản phẩm của Công ty đều tăng, đặc

biệt là mặt hàng quần Jean, quần dệt thoi, bi n.



Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



17



Chuyên ®Ị tèt nghiƯp



Điều này chứng tỏ Cơng ty ln chủ động tìm kiếm, khai thác và mở

rộng thị trường thúc đẩy hoạt động tiêu thụ tăng dần qua mỗi năm. Cụ thể:

- Sản phẩm quần dệt thoi: Là mặt hàng truyền thống của Công ty,

Công ty đã tạo được uy tín trong sản xuất sản phẩm quần dệt thoi. Một vài

năm trước đây số lượng quần dệt thoi giảm đôi chút nhưng giá gia công hay

giá sản phẩm không giảm mà tăng lên do chất lượng quần áo được nâng cao,

kiểu dáng đẹp. Trong những năm gần đây sản lượng không ngừng tăng lên,

năm 2002 số lượng quần dệt thoi 39113 (sp) tương ứng với tỷ lệ tăng 16,8%

so với năm 2001, năm 2003 số lượng tiêu thụ tăng 48305 (sp) tương ứng với

tỷ lệ tăng 17,7% so với năm 2002. Điều này cho thấy Công ty đã đầu tư rất

nhiều để mua sắm máy móc thiết bị mới và hiện đại, nâng cao trình độ quản

lý và tây nghề cho người lao động để hoạt động sản xuất kinh doanh ngày

càng có hiệu quả và năng suất cao.

Hiện nay Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long có các dây

chuyền cơng nghệ hiện đại như máy sấy, máy mài, máy thêu… Có thể tạo ra

những sản phẩm đẹp đạt tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu. Quần dệt thoi là

một trong những mặt hàng Công ty dự định sẽ tiếp tục đầu tư, phát triển và

mở rộng thị trường tiêu thụ.

- Quần Jean: Cũng là những mặt hàng quan trọng của Công ty từ trước

đến nay, đây cũng là mặt hàng chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các mặt hàng.

Trong những năm qua sản phẩm này không ngừng tăng lên qua các năm. năm

2002 số lượng quân Jean tăng 17564 (sp) tương ứng với tỷ lệ tăng 13,4% so

với năm 2001, năm 2003 số lượng quần Jean tiêu thụ tăng 21872 (sp) tương

ứng tỷ lệ tăng 14,7% so với năm 2002. Do nguyên liệu của mặt hàng này

được sản xuất trong nước ở các công ty dệt 19/5, công ty dệt vải Công nghiệp

v.v.. nên Công ty đã tiết kiệm được phần giá mua và chi phí mua. Hiện nay

cơng ty đang đầu tư dây chuyền và máy móc để tăng số lượng quần Jean bởi

các mặt hàng này được giới trẻ, thanh niên rất ưa chung kiu dỏng v cht

vi ca qun Jean.

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



18



Chuyên đề tốt nghiệp



- bi n: Đây cũng là sản phẩm được tiêu thụ với số lượng lớn,

năm 2002 so với năm 2001 tăng 12916 (sp) tương ứng với tỷ lệ tăng 12,23%,

năm 2003 so với năm 2002 tăng 23347(sp) tương ứng với tỷ lệ tăng 19,67%.

Mặc dù số lượng đồ bơi nữ tiêu thụ đều tăng lên qua các năm.

Cùng với chặng đường trên 10 năm thành lập, là trí tuệ là sức lực của

mình, Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long đã không ngừng vươn lên

tự đổi mới và khẳng định mình. Các phòng ban lãnh đạo, các cán bộ cơng

nhân viên Công ty đã xây dựng thành công hai phân xưởng có quy mơ lớn

chiếm một vị trí nhất định trong tổng Công ty may Việt Nam. Con đường đi

của Công ty, một mặt phản ánh nhịp đi của Công nghiệp Việt Nam, mặt khác

thể hiện tính năng động, sáng tạo và nhạy bén với môi trường kinh doanh của

Công ty, từ chỗ chủ yếu chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đến thời

điểm này Công ty đã tiến tới thực hiện hoạt động xuất khẩu chiếm từ 85 

90% trong tổng doanh thu. Điều đó chứng tỏ Cơng ty ngày càng có sự chuyển

mình rõ rệt thể hiện rõ năng lực cạnh tranh của mình trong mơi trường cạnh

trạnh khốc liệt. Song việc so sánh mức doanh thu, lợi nhuận và mức tiêu thụ

hàng hố của Cơng ty qua các năm chưa thể đánh giá được một cách đầy đủ

về năng lực cạnh tranh của Công ty. Do vậy để đánh giá được khách quan tính

khả thi năng lực cạnh tranh của Cơng ty thì bên cạnh việc phân tích kết quả

kinh doanh và mức tiêu thụ sản phẩm qua 3 năm ta cần phân tích các chỉ tiêu

khác thuộc yếu tố nội lực.

5.2. Phân tích năng lực cạnh tranh của Cơng ty

5.2.1. Nguồn lực tài chính và vật chất.

Một doanh nghiệp muốn thành lập Công ty thì yếu tố đầu tiên mà

doanh nghiệp cần phải có đó là nguồn lực tài chính. Do vậy nguồn lực tài

chính là điều kiện trên quyết cho bất kỳ một doanh nghiệp nào, vốn chính là

tiền đề vật chất để thành lập Cơng ty, để Cơng ty có thể tồn tại và phát triển.

Thiếu vốn hoặc khơng có vốn sẽ là chiếc gọng kìm chặn mọi đường tiến,

khiến cho doanh nghiệp rơi vào vòng luân quẩn cuả cái cũ, cái nghốo nn.

Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



19



Chuyên đề tốt nghiƯp



Trong cơng cuộc cạnh tranh gay gắt và khốc liệt của nền kinh tế thị trường

vốn đóng một vai trò rất quan trọng trong mỗi bước tiến của doanh nghiệp.

Nguồn lực tài chính của Cơng ty thể hiện sức sống, tình trạng sức khoẻ của

Cơng ty. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào quy mô và đặc điểm kinh doanh mà nhu cầu

vốn của mỗi doanh nghiệp là khác nhau cũng như việc phân bổ vốn là khác

nhau. Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long trước đây là Công ty nhà

nước trực thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam, được nhà nước cấp hoàn

toàn nguồn vốn kinh doanh. Cách đây ba năm theo quyết định của Hội đồng

quản trị Tổng cơng ty dệt may Việt Nam, xí nghiệp may Yên Mỹ đã chuyển

thành Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long. Nguồn vốn của Công ty

bây giờ một phần nhỏ là vốn của nhà nước cấp để khuyến khích ngành may

phát triển, phần lớn còn lại là vốn góp của các Cổ đơng.

Biểu 3: Tình hình nguồn vốn kinh doanh của Công ty (2001-2003)

Đơn

vị: Triệu (VNĐ)

Thực hiện

Các chỉ tiêu



2001



2002



2002/2001

2003



2003/2002



Chênh

Chênh

Tỉ lệ

Tỉ lệ

lệch

lệch



Tổng giá trị tài sản

37678 38862 40896 1184 3,14 2034 5,2

- Giá trị TSCĐ

18421 19536 20756 1112 6,04 1220 6,25

- Giá trị TSLĐ

19254 19326 20140

72 0,38

814 4,21

Tổng nguồn vốn

37678 38862 40896 1184 3,14 2034 5,2

- Nguồn vốn cấp

4370 4770 5270 400 9,15

500 10,48

- Nguồn vốn bổ sung

33308 34092 35626 784 2,35 1534 4,5

(Nguồn: Phòng kế tốn của Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long)

Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng giá trị tài sản hay nguồn vốn của

Công ty đều tăng dần qua các năm. Cụ thể năm 2002 giá trị tổng tài sản

tăng1184 triệu đồng tương ứng tỷ lệ tăng 3,14% so với năm 2001, năm 2003

tăng 2034 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 5,2% so với năm 2002. Trong

đó giá trị tài sản cố định chiếm tỷ trọng trên 50% tổng giá trị tài sản và năm

2002 giá trị tài sản cố định tăng 1112 triệu đồng tương ng t l tng 6,04%



Phạm Văn Phiên - QTKDTH - K32



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×