Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 Các yếu tố chủ yếu tác động tới ứng dụng marketing điện tử trong các doanh nghiệp xuất khẩu

5 Các yếu tố chủ yếu tác động tới ứng dụng marketing điện tử trong các doanh nghiệp xuất khẩu

Tải bản đầy đủ - 0trang

hướng thị trường của doanh nghiệp là năng lực của doanh nghiệp xuất khẩu trong

khả năng nhận thức và đáp ứng nhu cầu hiện tại hoặc tiềm ẩn của khách hàng.

Định hướng theo đối thủ cạnh tranh được hiểu là việc doanh nghiệp tìm

hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, khả năng, và chiến lược của đối thủ cạnh tranh

trong dài hạn và ngắn hạn; từ đó nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của khách hàng một

cách hiệu quả hơn so với đối thủ (Chuang, 2016). Năng lực định hướng theo đối thủ

cạnh tranh thường được đo lường bằng độ nhanh nhạy khi phản ứng với hành động

của đối thủ, những thông tin thực tế về đối thủ, sự tập trung của doanh nghiệp vào

phân khúc hoặc thị trường mà doanh nghiệp đang dẫn đầu và sự quan tâm phân tích

về đối thủ của các nhà lãnh đạo trong doanh nghiệp (Trainor & cộng sự, 2010). Nói

tóm lại, một doanh nghiệp muốn tồn tại trong môi trường cạnh tranh gay gắt cần có

hiểu biết về đới thủ cạnh tranh của mình cả ở dạng trực tiếp hoặc gián tiếp, tiềm ẩn

hoặc khơng tiềm ẩn; từ đó nhanh chóng nắm bắt được cách thức để cạnh tranh phù

hợp với nguồn lực của doanh nghiệp mình, bao gồm đối đầu trực tiếp hoặc tìm kiếm

thị trường ngách…

Sự phối hợp các chức năng của doanh nghiệp xuất khẩu là năng lực doanh

nghiệp kết hợp các nguồn lực doanh nghiệp để phân tích và tổng hợp các hiểu biết

về thị trường, từ đó cho phép các bộ phận chức năng của doanh nghiệp hiểu về mục

tiêu mà họ đang hướng đến, giải quyết vấn đề và phản hồi khách hàng một cách

nhanh chóng và hiệu quả (Chuang, 2016). Sự phối hợp các chức năng của doanh

nghiệp được đo lường bằng việc các phòng ban chức năng trong doanh nghiệp chia

sẻ thông tin với nhau và cùng hướng tới mục tiêu làm hài lòng khách hàng, và lãnh

đạo doanh nghiệp thấu hiểu nguồn lực của các phòng ban để phân bổ hợp lí (Trainor

& cộng sự, 2011). Sự phới hợp của các phòng ban trong cơng ty càng nhuần nhuyễn

thì hiệu quả công việc và giải quyết vấn đề cho khách hàng càng nhanh chóng.

Định hướng theo khách hàng bao gồm những hiểu biết về khách hàng giúp

cho doanh nghiệp trong việc xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng của họ

(xem Chuang, 2016). Định hướng theo khách hàng thường được đo lường bằng

những biến số liên quan đến mục tiêu, chiến lược và hành động trực tiếp của doanh

nghiệp nhằm thấu hiểu và thỏa mãn yêu cầu của khách hàng trước, trong và sau bán



(Trainor, 2011). Theo Wu & cộng sự (2013), một doanh nghiệp có định hướng

khách hàng càng cao thì có khả năng thích ứng với thị trường và marketing điện tử

càng lớn do họ luôn tập trung nỗ lực và nguồn lực trong việc đổi mới để tạo ra

những giao dịch hiệu quả và tăng cường mối quan hệ với khách hàng (xem Trainor,

2011). Định hướng theo khách hàng không chỉ thỏa mãn những nhu cầu hiện tại của

khách hàng, mà cao hơn nữa là thỏa mãn những nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng.

Muốn thỏa mãn những nhu cầu tiềm ẩn này, doanh nghiệp cần có định hướng thị

trường chủ động thay vì bị động (Chuang, 2016).

Định hướng thị trường của doanh nghiệp được cho là có nhiều điểm tương

đồng với định hướng marketing điện tử của doanh nghiệp (Shaltoni & West, 2010).

Ví dụ, trong giai đoạn đầu tiên của marketing điện tử trong doanh nghiệp, doanh

nghiệp cần thực hiện các hoạt động liên quan đến thu thập thông tin khách hàng từ

nhiều nguồn khác nhau, tổng hợp và phân tích những thơng tin đó từ đó đưa ra các

phương án khác nhau để thực hiện và đánh giá chúng. Như vậy đồng nghĩa với việc

doanh nghiệp đang tìm hiểu thị trường và đưa ra các phương án đáp ứng cho thị

trường. Định hướng thị trường tổng hợp của doanh nghiệp cũng là một trong những

chiến lược thường được áp dụng (Chuang, 2016).

1.5.2 Định hướng marketing điện tử của doanh nghiệp

Định hướng marketing điện tử của doanh nghiệp bao gồm triết lý kinh doanh

và hành vi của doanh nghiệp có liên quan đến marketing điện tử (Shaltoni & West,

2009). Các khía cạnh được tác giả mơ tả cụ thể như sau:

Triết lý kinh doanh là hệ thống niềm tin và quy tắc mà doanh nghiệp cố gắng

hoạt động theo đó. Triết lý kinh doanh của doanh nghiệp liên quan đến marketing

điện tử có thể được xác định bằng mức độ nhận thức và hành động tập trung vào

ứng dụng marketing điện tửcủa người ra quyết định trong doanh nghiệp. Triết lý

kinh doanh của doanh nghiệp được chứng minh có tác động trực tiếp và gián tiếp

đến marketing điện tử. Triết lí kinh doanh của doanh nghiệp liên quan đến

marketing điện tử thường đươc đo lường bởi niềm tin rằng chiến lược marketing

điện tử là cần thiết trong các hoạt động của doanh nghiệp và việc khiến toàn thể

người lao động trong doanh nghiệp hiểu được điều đó (Shaltoni & West, 2009).



Hành vi thực tế của doanh nghiệp liên quan đến marketing điện tử bao gồm

những hoạt động khởi hoạt và hoạt động ứng dụng. Hoạt động khởi hoạt là các hoạt

động doanh nghiệp chuẩn bị cho việc áp dụng marketing điện tử như việc nghiên

cứu marketing điện tử từ dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, thảo luận về marketing điện tử

trong nội bộ doanh nghiệp và theo dõi hoạt động marketing điện tử của đối thủ cạnh

tranh. Họat động áp dụng được đo lường bằng sự cập nhật công nghệ sử dụng trong

doanh nghiệp, thực tế của doanh nghiệp về nhân lực và cơ sở hạ tầng cho việc ứng

dụng marketing điện tử (Shaltoni & West, 2009).

Triết lí kinh doanh và hành vi thực tế của doanh nghiệp có mới liên quan mật

thiết với nhau và với marketing điện tử của doanh nghiệp đó. Ngoài ra, ở một số

trường hợp sự mở rộng áp dụng marketing điện tử trong doanh nghiệp cũng được

xét đến như là một hành vi trong tương lai của doanh nghiệp. Sự mở rộng này có

thể bao gồm việc sử dụng các nguồn lực marketing điện tử trong doanh nghiệp cho

hoạt động giao tiếp với khách hàng, giao dịch thương mại và quản lý cơ sở dữ liệu

về khách hàng (Shaltoni & West, 2009).

Ngoài ra, hành vi thực tế của doanh nghiệp cũng xét tới những công cụ

marketing điện tử mà doanh nghiệp sử dụng cũng như loại hình kinh doanh mà

doanh nghiệp áp dụng marketing điện tử. Các công cụ marketing mà doanh nghiệp

sử dụng có thể là Internet marketing, marketing bằng thư điện tử, Intranet

marketing, Extranet marketing và marketing di động. Đánh khả năng ứng dụng

marketing điện tử trong các loại hình kinh doanh của doanh nghiệp, cần nghiên cứu

cả 3 hình thức marketing điện tử: (1) B2B (Business to business – từ doanh nghiệp

đến doanh nghiệp); (2) B2C (Business to customer – từ doanh nghiệp đến khách

hàng) và (3) B2G (Business to government – từ doanh nghiệp đến nhà nước).

1.5.3 Kỳ vọng hội nhập của doanh nghiệp

Ngoài ra, với doanh nghiệp trong thị trường mở cửa còn một ́u tớ ảnh

hưởng đến định hướng của doanh nghiệp là kỳ vọng của doanh nghiệp, ví dụ kỳ

vọng hội nhập WTO (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Mai Trang, 2008). Nhân tố này

trong nghiên cứu gốc thể hiện kì vọng của các doanh nghiệp khi Việt Nam ra nhập

WTO. Tác giả của nghiên cứu trên dựa vào lý thuyết sự chú ý của doanh nghiệp

(xem Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Mai Trang, 2008). Lý thuyết này cho thấy sự tập



trung của doanh nghiệp vào các diễn biến quan trọng trên thị trường sẽ làm thay đổi

hành vi của doanh nghiệp. Nhìn chung, kì vọng hội nhập thể hiện kì vọng của doanh

nghiệp xuất khẩu về những lợi ích nhận được khi q́c gia tham gia vào quá trình

hội nhập với thế giới.



Kết luận chương 1

Trong chương 1, tác giả đả tổng quan lý thuyết liên quan tới marketing điện

tử, về cơ bản marketing điện tử mang tới sự tiện ích và hiệu quả trong việc quảng bá

giới thiệu hay tìm kiếm sản phẩm của các doanh nghiệp xuất khẩu. Marketing điện

tử với các công cụ cho phép sử dụng và phản hồi nhanh, không chịu ảnh hưởng của

vị trí địa lý cũng như khung giờ quốc tế. Luận án đã làm rõ nội hàm của một sớ

cơng cụ marketing điện tử chính như: Email marketing, website marketing, sàn giao

dịch B2B và mạng xã hội. Trong các cơng cụ chính này, cơng cụ sàn giao dịch điện

tử B2B đang được các doanh nghiệp xuất khẩu ứng dụng một các mạnh mẽ khi các

thông tin bên bán và bên mua cũng như thông tin sản phẩm luôn được thể hiện đầy

đủ và dễ dàng liên hệ với nhà cung cấp hay khách hàng.

Luận án cũng thực hiện hệ thớng hóa việc ứng dụng marketing điện tử trong

các doanh nghiệp xuất khẩu. Đồng thời chỉ ra ba yếu tố nguồn lực của marketing

điện tử: Nguồn lực công nghệ; nguồn lực con người và nguồn lực kinh doanh. Khi

doanh nghiệp xuất khẩu có sự chuẩn bị cũng như năng lực tốt cho ba nguồn lực này

sẽ làm nền tảng giúp thực hiện ứng dụng marketing điện tử hiệu quả. Tuy nhiên, để

ứng dụng các công cụ marketing điện tử, luận án đã chỉ ra cần nghiên cứu các yếu

tố chủ yếu tác động đến ứng dụng marketing điện tử trong các doanh nghiệp xuất

khẩu là: Định hướng thị trường; định hướng marketing điện tử; kì vọng hội nhập.

Từ tổng quan về mặt lý thuyết về marketing điện tử cũng như hoạt động

marketing điện tử trong các doanh nghiệp xuất khẩu; chương 2 của luận án sẽ đi sâu

nghiên cứu thực trạng các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đang sử dụng các

công cụ hay nguồn lực marketing điện tử ở các mức độ nào, qua thu thập và phân

tích cac dữ liệu liên quan, trong đó có dữ liệu khảo sát và trực tiếp từ các doanh

nghiệp xuất khẩu.



CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARKETING

ĐIỆN TỬ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU

CỦA VIỆT NAM

2.1 Thực trạng triển khai marketing điện tư trong các doanh nghiệp xuất khẩu

Việt Nam

2.1.1 Thực trạng hạ tầng cho marketing điện tử của các doanh nghiệp Việt Nam

Trang bị thiết bị điện tử

Báo cáo thương mại điện tử của Việt Nam năm 2018 đã chỉ ra tỷ lệ doanh

nghiệp được trang bị các thiết bị điện tử hiện đại phục vụ kinh doanh ngày càng

tăng so với các năm trước, do đó tỷ lệ doanh nghiệp có trang bị máy tính PC và

laptop tới 95%. Tỷ lệ doanh nghiệp có trang bị thiết bị di động (điện thoại thơng

minh/máy tính bảng) cũng đã chiếm tuyệt đại bộ phận. Có thể thấy gần như các

doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đều trang bị đầy đủ thiết bị máy tính cũng như

laptop và các phương tiện điện tử khác phục vụ cho hoạt động marketing điện tử.

Tuy nhiên, các thiết bị di động được doanh nghiệp trang bị còn những hạn chế. Vấn

đề này có thể do sự phát triển của thiết bị điện thoại di động thơng minh cùng với

mức chi phí cũng như nhu cầu sử dụng điện thoại thông minh của các nhân tăng

cao. Do đó, các cá nhân trong doanh nghiệp xuất khẩu, phần lớn dùng điện thoại

thông mình mà không cần đơn vị trang bị.

Sử dụng email và các công cụ hỗ trợ trong công việc

Năm 2017 trên cả nước có 40% doanh nghiệp cho biết có trên 50% lao động

thường xuyên sử dụng email trong công việc, thấp hơn tỷ lệ 46% của năm 2016;

22% doanh nghiệp cho biết có dưới 10% lao động thường xuyên sử dụng email.

Email là công cụ được sử dụng mạnh và phổ biến trong các doanh nghiệp xuất khẩu

của Việt Nam. Tuy nhiên, gần đầy sự phát triển của một số kênh thông tin khác như

mạng xã hội (facebook, zalo, youtube) đã làm tỷ lệ sử dụng email giảm đi trong

năm 2017.



Xét về quy mơ doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) có tỷ lệ

trên 50% lao động sử dụng email cao hơn nhóm doanh nghiệp lớn. Có thể thấy, việc

các doanh nghiệp nhỏ có tỷ lệ lao động sử dụng email cao hơn do quy mô doanh

nghiệp vừa và nhỏ có lượng cơng nhân ít hơn so với doanh nghiệp lớn. Các doanh

nghiệp lớn thường có lượng cơng nhân tại xưởng, nhà máy, đồn điền nhiều hơn rất

nhiều so với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những đới tượng này ít có xu hướng sử

dụng email cho cơng việc vì đặc thù công việc chân tay là chủ yếu. Mọi liên hệ đều

phương thức điều hành trực tiếp từ cấp trên.



Hình 2.1 Mức độ sư dụng email theo quy mô doanh nghiệp

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2018 (Bộ Cơng thương)

Trong đó mục đích sử dụng email chính trong doanh nghiệp vẫn là dùng để

giao dịch với khách hàng và nhà cung cấp (74%). Xu hướng sử dụng email trong

các hoạt động của doanh nghiệp tương đối ổn định trong những năm gần đây.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 Các yếu tố chủ yếu tác động tới ứng dụng marketing điện tử trong các doanh nghiệp xuất khẩu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×