Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân tích những nhân tố tác động đến hệ thống kế toán Malaysia

Phân tích những nhân tố tác động đến hệ thống kế toán Malaysia

Tải bản đầy đủ - 0trang

bao gồm: Các nhân tố thuộc về môi trường pháp lý và chính trị, các nhân tố thuộc mơi

trường kinh tế và các nhân tố thuộc mơi trường văn hóa. Trong phần dưới đây, ta sẽ

xem xét ảnh hưởng của các nhóm nhân tố trên đến hệ thống kế tốn Malaysia

2.1. Các yếu tố chính trị và pháp lý

Mơi trường pháp lý có những ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến hệ thống kế toán của

các quốc gia xuất phát từ mối quan hệ mật thiết của nó với hệ thống kế tốn.

2.1.1. Luật pháp

Các quốc gia thường có hai cách khác nhau để hình thành hệ thống pháp lý của

mình, đó là dựa trên Thơng luật và dựa trên Dân luật. Các hệ thống dựa trên Thông

luật là các hệ thống pháp lý trong đó chỉ dựa trên một số giới hạn các đạo luật, chúng

được giải thích bởi Tòa án và tập hợp thành một số lượng lớn các án lệ để bổ sung cho

các đạo luật. Phương pháp này được hình thành ở Anh và Iran rộng đến nhiều quốc gia

khác chịu ảnh hưởng của Anh như Mỹ, Ireland, Ấn Độ, Úc... với những phạm vi khác

nhau. Ảnh hưởng của hệ thống pháp lý dựa trên Thông luật đến hệ thống kế tốn là

Luật cơng ty (hay các luật tương tự) thường không đưa ra những quy tắc cụ thể và chi

tiết về việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Còn đối với hệ thống dựa trên Dân luật

thì hệ thống pháp lý chịu ảnh hưởng của Luật cổ của người La Mã hình thành từ thế kỷ

VI. Đặc điểm của các quốc gia có hệ thống pháp lý này là việc ghi chép kế tốn và lập

báo cáo tài chính được quy định khá tỉ mỉ và chi tiết trong các đạo luật, thường là Luật

công ty hay Luật thương mại.

Mặc dù ở Malaysia, cơ quan tư pháp độc lập về lý thuyết, song sự độc lập của

chúng vẫn bị đặt nghi vấn và việc bổ nhiệm các thẩm phán thiếu trách nhiệm giải trình

và cũng như thiếu tính minh bạch. Hệ thống pháp luật Malaysia dựa trên thơng luật

Anh, có các đặc điểm nổi bật như: Thứ nhất, nguồn tiền lệ án pháp-thẩm phán vừa xét

xử vừa tạo pháp luật gián tiếp, tòa án như nhà làm luật thứ hai. Thứ hai, án lệ là nguồn

cơ bản, coi trọng chứng cứ nên luật sư, thẩm phán rất được coi trọng. Thứ ba, tính linh

hoạt của hệ thống kế toán phù hợp với sự phát triển của các quan hệ xã hội, bởi vì

Malaysia từng là thuộc địa của Anh, dưới sự cai quản của mẫu quốc, hoạt động kế

toán được kiểm soát khắt khe, do vậy tuy đã độc lập nhưng sự ảnh hưởng của nền cai

quản đó đến hệ thống kế tốn vẫn còn, khiến kế tốn của Malaysia có sự kiểm sốt bắt

buộc thơng qua luật cao. Bằng chứng là Chuẩn mực kế tốn khơng phải do Hiệp hội

nghề nghiệp đề ra. Tại Malaysia, Hiệp hội nghề nghiệp kế toán (MIA) chỉ có vai trò

phát hành các chuẩn mực cũng như các thông tư, quyết định hướng dẫn chuẩn mực

cho thành viên.

2.1.2. Sự gắn kết kinh tế -chính trị

Malaysia là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng

kinh tế khu vực vào năm 1997 và năm 1998 đã phục hồi mạnh mẽ, đặc biệt trong

những năm 1999 và 2000 là một trong những nước trong khu vực xuất khẩu mạnh mẽ.

Từ năm 2001 tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt mức trung bình 5,9% (năm 2007 đạt

6,3%). Tiêu dùng cá nhân và đầu tư, đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ, cũng đã tăng mạnh

như là động lực để tăng trưởng kinh tế, mục tiêu chính của Malaysia vào năm 2020 trở

thành một nước phát triển đồng nghĩa với việc nền kinh tế sẽ cần phải tăng hơn

7%/năm. Sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ tăng trưởng mạnh và chiếm hơn một nữa

hoạt động kinh tế Malaysia, đã được xác định là mục tiêu này và đẩy mạnh nền kinh tế

tăng trưởng chuỗi giá trị. Các lĩnh vực như tài chính, Hồi giáo, cơng nghệ thông tin, du

lịch, giáo dục và đào tạo, công nghệ sinh học, đa phương tiện và dịch vụ chuyên

nghiệp đã được chỉ ra là lĩnh vực trọng tâm trong kế hoạch chiến lược của Malaysia (ví

2



dụ như kế hoạch Malaysia lần thứ IX và kế hoạch thứ 3 công nghiệp Master). Chính

phủ cũng đã dần dần thực hiện cam kết cuả mình cho nền kinh tế mở cửa và cải thiện

năng lực cạnh tranh và hấp dẫn cho nhà đầu tư nước ngồi của Malaysia trong chính

sách của mình. Đặc biệt là kích thích đầu tư khu vực tư nhân. Ngồi các dịch vụ, đồ án

kinh tế của chính phủ tập trung vào giải quyết vấn đề phân phối thu nhập, phát triển

nghành nông nghiệp và cải thiện các dịch vụ xã hội, trong khi cũng giữ lại tập trung

vào các chính sách hành động khẳng định cho nguồn gốc Mã Lai.

Kết quả mang lại, Malaysia là đối tác thương mại lớn thứ hai của New Zealand tại

các nước ASEAN, thị trường xuất khẩu lớn thứ 9 của New Zealand trên toàn cầu và

xếp hạng 7 nguồn NK lớn nhất của New Zealand, dầu thô và các sản phẩm điện tử

chiếm hơn 40% hàng nhập khẩu.

2.2. Các yếu tố kinh tế

Các nhân tố thuộc mơi trường kinh tế có tác động trực tiếp đến quá trình hình thành

và phát triển hệ thống kế tốn tại các quốc gia bởi vì, như người ta thường gọi “kế tốn

là ngơn ngữ của kinh doanh”.Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế tốn là

phải thể hiện được những thơng tin phục vụ cho q trình ra quyết định về kinh tế. Do

đó, hệ thống kế toán của một quốc gia trước hết phản ảnh những đặc thù trong môi

trường kinh doanh của quốc gia đó, bao gồm một số nội dung sau:

2.2.1. Nguồn tài chính

Nguồn cung cấp tài chính sẽ quyết định đối tượng chủ yếu sử dụng thơng tin tài

chính và do đó, quyết định đặc điểm của thơng tin tài chính được cung cấp.

Căn cứ vào nguồn cung cấp tài chính cho doanh nghiệp tại một quốc gia mà ta có

thể thấy được sự khác biệt giữa các hệ thống kế toán. Tại các quốc gia mà nguồn cung

cấp tài chính chủ yếu từ thị trường vốn (ví dụ Mỹ, Anh..), thị trường chứng khoán là

nơi cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp, người sử dụng thông tin tài chính là

các nhà đầu tư. Mối quan tâm của họ chỉ tập trung vào tính trung thực hợp lý của báo

cáo tài chính. Vì thế nhu cầu của họ là báo cáo tài chính phải phản ánh đúng thực trạng

tài chính, cung cấp đầy đủ thơng tin trọng yếu giúp người đọc có thể hiểu được tình

hình tài chính của doanh nghiệp, tránh đưa ra các quyết định đầu tư sai lầm. Để thực

hiện yêu cầu này, đòi hỏi tính trung thực, bản chất của các sự kiện, nghiệp vụ phát sinh

được kế toán tại các quốc gia ghi nhận một cách chính xác và phù hợp.

Mặc khác, các quốc gia có nguồn cung cấp tài chính chủ yếu là nhà nước (ví dụ các

nước định hướng xã hội chủ nghĩa, Pháp..), ngân hàng (ví dụ Đức, Nhật…). Các đối

tượng này hồn tồn có khả năng tiếp cận để thu thập hoặc kiểm tra thơng tin tài chính

của doanh nghiệp. Do đó họ thường khơng có đòi hỏi cao về sự đầy đủ cũng như tính

trung thực và hợp lý của thơng tin. Tuy nhiên kế tốn thường được yêu cầu phải tuân

thủ các luật định.

Malaysia là một nền kinh tế thị trường định hướng nhà nước tương đối mở và cơng

nghiệp hóa mới. Nhà nước đóng một vai trò quan trong hướng dẫn hoạt động kinh tế

thơng qua các dự án kinh tế vĩ mơ, song vai trò này giảm xuống. Malaysia sở hữu một

trong những hồ sơ kinh tế tốt nhất tại châu Á. Đặc biệt thị trường chứng khoán tại đây

khá phát triển, thị trường vốn và tài chính ngày càng gia tăng. Điều này cho thấy rằng,

kế tốn Malaysia có xu hướng phải cung cấp đầy đủ thơng tin trọng yếu để người sử

dụng có các quyết định đầu tư đúng đắn hơn.

2.2.2. Lạm phát

Bên cạnh nguồn cung cấp tài chính, lạm phát cũng được xem là một nhân tố trong

mơi trường kinh doanh có tác động đến hệ thống kế toán tại các quốc gia. Khi lạm phát

3



xảy ra, giá trị của đồng nội tệ sụt giảm so với các đồng ngoại tệ khác trên thế giới. Một

ví dụ điển hình cho lạm phát, giá trị một đồng USD vào năm 1913 có giá trị tương

đương 4 Mark Đức, nhưng chỉ 10 năm sau 1 USD đổi được đến 4 tỷ Mark Đức. Hay

tại Brazil, nơi người ta tính chỉ trong vòng từ năm 1960 đến năm 1994, lạm phát đã

làm giá cả tại quốc gia này tăng đến 22 tỷ lần. Đối với các quốc gia đang phải đối đầu

với lạm phát, khái niệm bảo toàn vốn trở nên quan trọng và một số phương pháp kế

toán cần được sử dụng để loại trừ ảnh hưởng sai lệch của sự biến động giá cả đến báo

cáo tài chính. Tại nhiều nước Nam Mỹ, phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để

giải quyết vấn đề này là phương pháp điều chỉnh theo chỉ số giá và Nhà nước phải

thường công bố chỉ số giá. Trong khi đó, Malaysia áp dụng chính sách kiểm sốt tự di

chuyển của dòng vốn gián tiếp nước ngồi để vượt qua khủng hoảng. Chính vì thế mục

tiêu bảo tồn vốn ln rất quan trọng, báo cáo tài chính của các công ty luôn phải được

điều chỉnh để loại trừ ảnh hưởng sai lệch của việc biến đổi giá cả đến giá trị tài sản và

thu nhập công ty. Từ việc quản lý dòng vốn nước ngồi của Malaysia trong những năm

qua cho thấy, Chính phủ nước này đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoạch định

chính sách phù hợp với thực tiễn của mỗi thời kỳ. Điều đáng nói, cách xử lý “chảy

máu ngoại tệ” và quản lý dòng vốn nước ngồi của Malaysia khơng giống với bất cứ

quốc gia nào trong khu vực Đông Nam Á, thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, để đối phó với khủng hoảng tài chính- tiền tệ, Malaysia đã sử dụng biện

pháp kiểm soát vốn gắt gao như ấn định tỷ giá ở mức 3,8RM/USD, tập trung quản lý

trên thị trường chứng khoán thứ cấp, hạn chế các giao dịch tiền tệ và vốn của người

không cư trú; hạn chế và cấm sử dụng đồng RM bên ngoài lãnh thổ; cho phép chuyển

đổi ngoại tệ trong hoạt động xuất nhập khẩu, FDI và chuyển lợi nhuận về nước theo

hướng xử lý trên, Malaysia vừa hạ lãi suất ngân hàng, phục hồi nền kinh tế và vượt

qua khủng hoảng kinh tế mà không cần bất cứ sự hỗ trợ nào từ Quỹ Tiền tệ quốc tế

(IMF).

Thứ hai, Malaysia đã tái cấu trúc và khôi phục hệ thống ngân hàng hoạt động lành

mạnh và linh hoạt. Thời gian đầu, Malaysia thực hiện cải tổ hệ thống ngân hàng mạnh

mẽ và triệt để, điều chỉnh quy chế SRR, trực tiếp giới hạn dòng vốn vào của người

không cư trú…

Thứ ba, bài học cho nhà hoạch định chính sách trong quản lý dòng vốn:

* Việc neo tỷ giá đồng RM vào đồng USD giai đoạn trước khủng hoảng nảy sinh

vấn đề rủi ro đạo đức. Cụ thể, việc neo giữ tỷ giá đã gây ra những hiểu lầm về việc ổn

định lâu dài của đồng nội tệ. Điều này khuyến khích các doanh nghiệp và ngân hàng

trong nước tăng cường vay nước ngoài và không chú ý đến khả năng đồng RM bị mất

giá

* Thị trường tài chính nội địa phát triển còn hạn chế, hoạt động cho vay đầu tư và

mở rộng kinh doanh chủ yếu thực hiện qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng dễ phát sinh

rủi ro. Khi khủng hoảng kinh tế -tài chính nổ ra đã gây ra sự xáo trộn nghiêm trọng

kênh trung gian tài chính ngân hàng, lĩnh vực sản xuất cũng bị ảnh hưởng do thiếu

vốn. Khắc phục tình trạng này, Chính phủ Malaysia thực hiện các biện pháp nhằm

nâng cao vị thế thị trường tài chính với các cơng cụ tài chính linh hoạt hơn như các

phương tiện thị trường tín dụng cho ngân hàng, các gói mua tài sản ở quy mơ lớn còn

gọi là nới lỏng định lượng – QE.

* Quan điểm cho rằng, các khoản thu nhập chứng khoán cố định về bản chất là ngắn

hạn, điều này khiến cho các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ đảo chiều

dòng vốn có thể xảy ra. Qua đó, tăng cường giám sát và phân phối với các nước trong

4



khu vực, đồng thời thiết lập mối quan hệ mật thiết trong hệ thống quản lý dòng vốn

ngắn hạn, nhằm hạn chế cũng như tránh được các cú sốc từ bên ngoài.

Thứ tư, để quản lý tốt dòng vốn đầu tư nước ngồi thì vấn đề then chốt là ban hành

chính sách của cơ quan có thẩm quyền tại các nước có nền kinh tế mới nổi, đặc biệt

trong quá trình phát triển và tồn cầu hóa hệ thống tài chính. Mặc dù, IMF đã cố gắng

nỗ lực để giúp các nước khủng hoảng khôi phục và phát triển kinh tế.

2.3. Môi trường văn hóa

“Kế tốn khơng thể thốt ly văn hóa”, bởi vì nếu nói “kế tốn là ngơn ngữ kinh

doanh” thì “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trong một nền văn hóa cụ thể”. Thật

vậy, việc ghi chép, tính tốn và trình bày thơng tin chịu ảnh hưởng sâu xa của nền văn

hóa dân tộc. Ví dụ các nước thuộc nền văn hóa Anglo-Saxon thường thích sự mềm

dẻo, xét đốn trong kế tốn trong khi nhiều quốc gia phương Đơng khó chấp nhận điều

này mà phải dựa vào các quy định chặt chẽ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về những ảnh

hưởng của mơi trường văn hóa đến kế tốn rất khó khăn thường được cảm nhận hơn là

thể hiện qua số liệu như những vấn đề kinh tế.

Theo quan điểm của Geert Hofstede, giám đốc Học Viện nghiên cứu Hợp tác Văn

hóa, Đại học Limburg, Maastricht, Hà Lan. Những quan điểm còn nhiều tranh cãi

nhưng đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để phân tích sự phát triển của kinh tế và

q trình hòa hợp kế tốn tài chính trên toàn thế giới. Hofstede đưa ra 5 yếu tố văn hóa

quan trọng giải thích sự tương đồng và khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia trên thế

giới là: nhân tố chủ nghĩa cá nhân, nhân tố khoảng cách quyền lực, sự tránh né những

vấn đề không chắc chắn, đặc điểm về giới (mức độ nam tính) và quan điểm định

hướng dài hạn.

BẢNG ĐIỂM CỦA HOFSTEDE

Quốc gia

Chỉ số IDV

Chỉ số PD

Chỉ số UAV

Chỉ số LTO

MỸ

91

40

46

29

Úc

90

36

51

31

Anh

89

35

35

25

Canada

80

39

48

23

Hà Lan

80

38

53

44

New Zealand

79

22

49

30

Ý

76

50

75

Bỉ

75

65

94

Đan Mạch

74

18

23

Thụy Điển

71

31

29

33

Pháp

71

68

86

Ireland

70

28

35

Na Uy

69

31

50

Thụy Sĩ

68

34

58

Đức

67

35

65

31

Nam Phi

65

49

49

Phần Lan

63

33

59

Áo

55

11

70

Israei

54

13

81

Tây Ban Nha

51

57

86

5



Ấn Độ

Nhật

Argentina

Iran

Jamaiea

Brazil

Các quốc gia Ả

Rập

Thỗ Nhĩ Kỳ

Uruguay

Hy Lạp

Philipines

Mexico

Đông Phi

Bồ Đào Nha

Malaysia

Hong Kong

Chi Lê



50

48

46

46

41

39

38

38

37

36

35

32

30

27

27

26

25

23



56

55

54

49

58

45

69

80

66

61

60

94

81

64

63

104

68

63



87

40

92

86

59

13

76

68

85

100

112

44

82

52

104

36

29

86



61

80

65

19

96

-



2.3.1. Nhân tố khoảng cách quyền lực

Khoảng cách quyền lực (viết tắt PD) liên quan đến mức độ xã hội có thể chấp nhận

sự bất bình đẳng bên trong và giữa các định chế và tổ chức. Định chế được định nghĩa

là các yếu tố cơ bản của xã hội như gia đình, trường học, đồng nghiệp… Tổ chức được

định nghĩa là nơi con người làm việc. Trong những xã hội có PD cao, con người dễ

chấp nhận các thứ bậc và các thứ bậc này giải thích bằng quyền lực và truyền thống.

PD có ảnh hưởng đến kế tốn ở 2 điểm:

Các quốc gia có PD cao thường hướng về một sự kiểm soát bằng luật định đối với

kế toán để đi đến một sự thống nhất. Ngược lại, các quốc gia có PD thấp kết quả này

đạt tới thơng qua quá trình tranh luận và biểu quyết trong một hiệp hội nghề nghiệp.

Ngồi ra, các quốc gia có PD cao thường có khuynh hướng hạn chế cung cấp thơng

tin( thơng tin về một phương diện nào đó, thể hiện quyền lực). Vì vậy, báo cáo tài

chính tại các quốc gia này thường nội dung khai báo không rộng rãi.

Tại Malaysia, điểm khoảng cách quyền lực rất cao, đạt 104 điểm.Điều đó thể hiện

người Malaysia có xu hướng chấp nhận một trật tự thứ bật vốn có và vị trí của mình

cũng như các thành viên khác, và khơng đòi hỏi sự giải thích về cách thức phân chia

thứ bậc trong xã hội. Cấp dưới mong đợi để được bảo gì làm và ông chủ lý tưởng là

một nhà độc tài nhân từ. Thách thức đối với sự lãnh đạo không được đón nhận nồng

nhiệt.

2.3.2. Chủ nghĩa cá nhân

Chủ nghĩa cá nhân (viết tắt IDV) liên quan đến mối quan hệ giữa các cá nhân với

nhau trong một xã hội.Trong những xã hội có IDV cao, mối liên hệ giữa các cá nhân

khá lỏng lẻo. Ngược lại, trong những xã hội có IDV thấp, con người thường kết thành

nhóm quan hệ chặt chẽ, trong đó họ thường được bảo vệ suốt đời để đổi lấy lòng trung

thành tuyệt đối.

6



Ở những quốc gia có IDV cao, việc báo cáo tài chính thường có xu hướng linh hoạt

theo thực tế hơn những quốc gia có IDV thấp - ở các quốc gia có IDV thấp có tính

thống nhất theo luật định được đề cao hơn. Ngồi ra, báo cáo tài chính thường ít bảo

thủ hơn các quốc gia có IDV thấp cụ thể trong viêc đánh giá tài sản, các quốc gia có

IDV thấp thường dùng giá gốc nhiều hơn giá thị trường.

Là khuynh hướng mỗi cá nhân thường chỉ chăm lo cho bản thân mình và những

thành viên gần gũi trong gia đình. Ngược lại với chủ nghĩa cá nhân là chủ nghĩa tập

thể, điểm số của chủ nghĩa cá nhân ở Malaysia là 26, cho thấy đất nước này là một xã

hội theo chủ nghĩa tập thể. Lòng trung thành trong một nền văn hóa tập thể là tối quan

trọng vàcó thể vượt lên các quy tắc xã hội khác.Một xã hội thúc đẩy các mối quan hệ

mạnh mẽ, nơi mà tất cả mọi người chịu trách nhiệm cho các thành viên trong nhóm

của họ. Trong xã hội tập thể, hành vi phạm tội dẫn đến sự xấu hổ và mất mặt.

2.3.3. Mức độ nam tính

Là nhân tố thể hiện sự coi trọng thành tích, chủ nghĩa anh hùng, sự quyết đốn và

thành cơng về của cải. Một điểm số cao (nam tính) ở nhân tố này chỉ rằng xã hội sẽ

được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh, thành tích và thành công, thành công được định nghĩa

bởi người chiến thắng/ tốt nhất trong lĩnh vực này- một hệ thống giá trị bắt đầu trong

trường học và tiếp tục trong suốt hành vi tổ chức. Một điểm số thấp (nữ tính) có nghĩa

là các giá trị chiếm ưu thế trong xã hội là chăm sóc cho người khác và chất lượng cuộc

sống. Một xã hội nữ tính là một trong những nơi mà chất lượng cuộc sống là dấu hiệu

của sự thành công và đứng ra khỏi đám đông không phải là đáng ngưỡng mộ. Vấn đề

cơ bản ở đây là gì thúc đẩy con người, muốn là tốt nhất (nam tính). Với số điểm trung

bình là 50 ở Malaysia khó để xác định đặc tính của xã hội này dựa trên nhân tố đặc

tính về giới.

2.3.4. Sự né tránh những vấn đề không chắc chắn

Sự né tránh những vấn đề chưa chắc chắn (viết tắt UAV) liên quan đến mức độ mà

xã hội cảm thấy bị đe dọa bởi những tình huống khơng rõ ràng, thể hiện qua nhu cầu

cần phải có những dự đốn trước mọi tình huống trong luật lệ, quy định. Các nền văn

hóa có UAV cao thường xây dựng, phát triển và duy trì các luật lệ rõ ràng về niềm tin

và ứng xử; đồng thời có xu hướng chống lại các hành vi, thái độ hay tư tưởng đối

kháng với các chuẩn mực chung. Các luật lệ này nhiều khi trở nên mù quáng và vơ ích.

Một đặc điểm nữa của các xã hội có UAV cao là các cá nhân thường không tin tưởng

vào tác động của mình đến nhà nước.Khi có một ít người không đồng ý với các quyết

định của nhà nước, họ lại có khuynh hướng dựa vào sự giúp đỡ của sự giám định của

chính các cơ quan nhà nước. Ảnh hưởng của các đặc điểm này đến hệ thống kế toán

thể hiện ở những điểm sau:

- Các xã hội có UAV cao thường giới hạn trong việc khai báo thơng tin hơn.

- Các xã hội có UAV cao thường hướng về các quy định thống nhất trong kế toán

hơn là cho phép sự lựa chọn linh hoạt.

Ở Malaysia, điểm của nhân tố này là 36, điểm số này khá thấp, cho thấy xã hội

Malaysia linh hoạt, con người có tư duy và thái độ thoải mái hơn đối với các sai lệch

trong thực tiễn công việc, thực tiễn hay thông lệ được coi trọng hơn nguyên tắc. Họ tin

rằng các quy đinh khơng q cần thiết và nếu nó khơng rõ ràng và khơng được làm

theo, nó nêm được bãi bỏ hoặc thay đổi. Xã hội dễ dàng chấp nhận sự khác biệt, không

sợ đổi mới.



7



2.3.5. Quan điểm định hướng dài hạn

Định hướng dài hạn (viết tắt LTO) là đặc điểm của các nền văn hóa coi trọng sự

kiên trì, sắp xếp các mối quan hệ theo địa vị và tơn trọng sự sắp xếp này, có ý thức tiết

kiệm. Ngược lại, các nền văn hóa định hướng ngắn hạn coi trọng bản lĩnh cá nhân, giữ

gìn thể diện bề ngồi và tơn trọng truyền thống. Dễ thấy rằng các xã hội định hướng

dài hạn có xu hướng nghiêng về sự bảo thủ và thống nhất trong kế toán hơn là các xã

hội định hướng ngắn hạn.

Về quan điểm định hướng dài hạn (cho thấy mức độ xã hội coi trọng các giá trị

truyền thống dài hạn, coi trọng sự phân chia trách nhiệm xã hội), điểm số này không

được chấm ở Malaysia mà được thay thế bởi 2 nhân tố là chủ nghĩa thực dụng

(pragmatism) và tính đam mê (indulgence). Với các đặc điểm xã hội trên, kết hợp với

quan điểm của Gray rằng văn hóa sẽ ảnh hưởng tới hệ thống kế toán, cụ thể là ảnh

hưởng tới 4 giá trị cốt lõi của kế tốn (tính thống nhất và linh hoạt, kiểm soát và

chuyên nghiệp hay bắt buộc, tính thận trọng và lạc quan, bí mật và công khai) qua 2

con đường:

- Các giá trị văn hóa xã hội sẽ định hình các giá trị cốt lõi của kế toán mà hệ thống

kế toán phải hướng tới để củng cố.

- Văn hóa tạo ra các tác động về mặt thể chế xã hội, từ đó ảnh hưởng tới sự vận

hành của hệ thống kế toán.

Từ phân tích trên kết hợp với phương pháp phân loại kế tốn theo vùng văn hóa của

Gray, ta thấy rằng các giá trị cốt lõi của kế toán tại Malaysia nghiêng về sự kiểm sốt

bắt buộc và bảo mật thơng tin khá cao, coi trọng thẩm quyền và tính hiệu lực, đo lường

và hạn chế công bố thông tin

3. Thực tiễn và vai trò của Malaysia trong q trình hòa hợp, hội tụ với kế tốn

quốc tế.

Kế tốn là cơng cụ quản lý tài chính hiệu quả mà hiện nay đã mang tính phổ biến

trên phạm vi khu vực và tồn cầu, tuy nhiên do đặc điểm riêng biệt về kinh tế, xã hội và

chính trị, vẫn có nhiều khác biệt ở các quốc gia và Malaysia không phải trường hợp

ngoại lệ. Cụ thể:

3.1 Thực tiễn q trình hòa hợp và hội tụ của kế toán Malaysia với kế toán quốc

tế.

Thực tiễn q trình hòa hợp của kế tốn Malaysia với kế toán quốc tế.

Tháng 02/2014, MASB đã ban hành “Chuẩn cho các tổ chức tư nhân, thực thể cá

nhân Malaysia” (MPERs). Các đơn vị đủ điều kiện có thể lựa chọn áp dụng 1 trong 2

tiêu chuẩn nêu trên hoặc tiêu chuẩn Financial Reporting ( SX, tương đương với IFRS).

Tiêu chuẩn này có hiệu lực từ 01/01/2016, các hướng dẫn tương tự như của IASB

trong chuẩn mực kế toán quốc tế cho DN nhỏ và vừa trừ yêu cầu về thuế thu nhập,

hoạt động phát triển bất động sản và một số thay đổi trong thuật ngữ. Tuy nhiên, tháng

05/2015 IASB cơng bố sửa đổi chuẩn mực kế tốn quốc tế cho DN nhỏ và vừa vì vậy

MASB cũng sửa đổi chuẩn BCTC cho các tổ chức tư nhân, thực thể cá nhân cho tương

ứng. Sau khi thay đổi, những khác biệt giữa 2 bộ chuẩn mực về thuế thu nhập khơng

còn nữa. Phiên bản 2014 vẫn áp dụng từ 01/01/2016, những nội dung sửa đổi sẽ áp

dụng từ 01/01/2017. Động thái này cho thấy sự hòa hợp một cách tối đa nhất có thể

với mong muốn tiệm cận gần nhất với chuẩn mực kế tốn quốc tế, khơng phải sự hòa

hợp mang tính hình thức của Malaysia. Điều này là hồn tồn có lợi cho bản thân DN

nhỏ và vừa khi cập nhật luôn chuẩn BCTC cho các tổ chức tư nhân, thực thể cá nhân

trước khi áp dụng vào 2016, “ đón đầu” trong những quy định về thuế thu nhập cho

8



thấy sự kết hợp chặt chẽ giữa MASB và IASB khi triển khai chuẩn mực kế toán quốc

tế. Như vậy, tổ chức tư nhân có thể chọn khung kế toán như sau:

- Chuẩn mực báo cáo cho thực thể tư nhân - PERS: có hiệu lực đến 01/01/2016.

- Chuẩn mực báo cáo cho các đối tượng cá nhân – MPERS: có hiệu lực từ

01/01/2016.

- Chuẩn mực báo cáo tài chính – SX: được coi là đã hội tụ hoàn toàn với IFRS đầy

đủ từ 2012 (bắt buộc với cơng ty niêm yết).

Thực tiễn q trình hội tụ của kế toán Malaysia với kế toán quốc tế.

Năm 2008, Malaysia công bố kế hoạch hội tụ và dự kiến sẽ hoàn thành và áp dụng từ

năm 2012. Trước thời điểm dự kiến 1 tháng, khung chuẩn mực MFRS ra đời, đánh dấu

việc bắt đầu áp dụng một khuôn khổ tn thủ tồn bộ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc

tế. Tuy nhiên, khung chuẩn mực này không áp dụng cho tồn bộ cơng ty Malaysia.

Hiện nay, các FRS thuộc khung MFRS được áp dụng cho các công ty niêm yết và

mở rộng thêm một số trường hợp như có quy mô lớn hoặc thuộc một số lĩnh vực đặc

thù như tài chính, bảo hiểm. Các doanh nghiệp khơng niêm yết và quy mô nhỏ được

phép áp dụng hệ thống chuẩn mực kế tốn quốc gia hiện hành và khơng hội tụ với

chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế áp dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cụ thể,

gồm có 2 chuẩn mực sau:

- FRSs hiện nay là khơng bắt buộc đối với “các doanh nghiệp thuộc khu vực tư”.

Thực tế, Chuẩn mực báo cáo tài chính (FRSs), được sử dụng bởi các cơng ty mà nó

được u cầu phải lập hoặc gửi các báo cáo tài chính cho Ủy ban chứng khoán hoặc

Ngân hàng Negara Malaysia, và bởi các công ty con, công ty liên kết, hoặc các cơng ty

hợp nhất kiểm sốt chúng;

- Chuẩn mực báo cáo của các doanh nghiệp tư nhân (PERSs), có thể được sử dụng

bởi tất cả các cơng ty khác nhau.

Có thể thấy thông qua hai hệ thống báo cáo này, đặc biệt là FRS thì chuẩn mực của

Malaysia giống hệt với IFRS. Trước năm 2012, tất cả chuẩn mực kế toán được xét

duyệt có thể áp dụng đối với các cơng ty niêm yết công, công ty đại chúng và các

doanh nghiệp phải cơng bố báo cáo kế tốn cho cơng chúng khác sẽ hội tụ đầy đủ với

IFRSs.

3.2 Vai trò của Malaysia trong q tình hòa hợp và hội tụ.

Bên cạnh một hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế, vai trò của quốc gia là yếu tố rất

quan trọng, khơng thể thiếu trong q trình hòa hợp và hội tụ của hệ thống kế tốn

Malaysia. Cụ thể, đó chính là Viện kế toán Malaysia (MIA) là một cơ quan thuộc Bộ

Tài chính và có trách nhiệm báo cáo trực tiếp với Tổng cục Kế toán. Trách nhiệm của

MIA bao gồm giáo dục và đảm bảo chất lượng cũng như thực hiện các chế tài để đảm

bảo độ tin cậy của các kế tốn chun nghiệp và lợi ích cơng cộng tiếp tục được duy trì.

Để thực hiện vai trò của mình, MIA có một số phương pháp chun biệt như :

Thứ nhất, MIA ban hành bộ luật về Quy chuẩn hành xử chuyên nghiệp và đạo đức,

và chuẩn mực kiểm toán cho các kế toán tại Malaysia. Bộ luật này nằm trong các tiêu

chuẩn được đặt ra bởi Liên đồn Kế tốn Quốc tế (IFAC) và Hội đồng chuẩn mực kế

tốn và kiểm tốn quốc tế (IAASB). Qua đó, cho thấy Bộ tài chính Malaysia chấp nhận

q trình hòa hợp và hội tụ của hệ thống kế toán quốc gia với kế toán quốc tế, tạo một

hệ thống chuẩn mực có chất lượng cao mà còn giảm thiểu sự khác biệt trong hệ thống

chuẩn mực kế toán quốc tế. Từ đó, các nhà đầu tư trong và ngồi nước có thể tiếp cận

nguồn thơng tin tài chính minh bạch của các công ty triển vọng đang niêm yết trên thị

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân tích những nhân tố tác động đến hệ thống kế toán Malaysia

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x