Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.

Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.

Tải bản đầy đủ - 0trang

trưởng thành. Tuổi dậy thì có thể đến sớm hay muộn ở nam và nữ là phụ thuộc vào nơi

sống, mức sống, dinh dưỡng, thể trạng sức khỏe, điều kiện địa lý.v.v…

2.3.2.b. Ở người Việt Nam, tuổi dậy thì thường kéo dài từ 3 đến 5 năm và

có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ:

- GĐ trước dậy thì:11- 13 tuổi ở nữ,13- 15 tuổi ở nam.

- GĐ dậy thì: từ 13- 15 tuổi ở nữ và 15- 17 tuổi ở nam.

Giai đoạn dậy thì được đánh dấu bằng “hành kinh lần đầu” ở em gái và “xuất tinh

lần đầu” (mộng tinh) ở em trai. Điều này thường đi cùng với những thay đổi xúc cảm

đối với ban bè khác giới và được coi là những hiện tượng sinh lý, tâm lý bình thường.

Về mặt sinh lý nó thể hiện sự trưởng thành về sinh dục và báo hiệu khả năng có con:

buồng trứng của em gái bắt đầu có trứng rụng và tiết hc-mơn, tinh hồn của em trai

bắt đầu sản sinh tinh trùng và tiết hc- mơn.

2.3.2.c. Hậu quả của mang thai ở tuổi vị thành niên:

- Căng thẳng về tình cảm và tài chính là rất lớn.

- Phải đương đầu với những mệt mỏi của việc nuôi dưỡng một đứa bé mà

khơng có chồng, thậm chí khơng có cả gia đình giúp đỡ.

- Sinh đẻ ngồi ý muốn giống như một tai họa đối với người mẹ trẻ, phải

đối mặt với sự phản đối của cộng đống và nếu còn đang đi học thì sẽ bị

buộc phải thôi học.

*Nguy hiểm của việc sinh nở sẽ cao hơn và nhiều mối lo sẽ xuất hiện: chưa hoàn

toàn trưởng thành về thể chất và xương chậu có thể chưa đủ rộng để đầu trẻ sơ sinh

thốt ra. Do đó đẻ khó và chuyển dạ kéo dài sẽ là điều khó tránh khỏi, có thể gây rách

dạ con và chết cả mẹ lẫn con. Dễ dẫn đến tình trạng đẻ non, sảy thai tự phát và thai chết

lưu cao hơn. Tỷ lệ tử vong liên quan đến thai sản ở tuổi vị thành niên có khả năng cao

gấp 4 lần so với phụ nữ trong độ tuổi 20-29.

• Con của các “bà mẹ trẻ” cũng phải đối mặt với những rủi ro về sức khỏe:

nhẹ cân và nguy cơ tử vong cao…

• Mang thai ở tuổi vị thành niên còn đem lại nhiều nỗi kinh hồng cho

những cơ gái trẻ thiếu hiểu biết.



• Có thể chọn cách loại bỏ cái thai khơng mong muốn bằng việc nạo thai,

nạo thai có thể để lại những biến chứng nghiêm trọng và có thể dẫn đến

vơ sinh, thậm chí là cái chết.

2.3.2.d. Một số vấn đề khác:

- Q trình thụ thai

- Chăm sóc sức khỏe ngày hành kinh

- Các hình thức nạo phá thai

- Phòng tránh việc có thai ngồi ý muốn

2.3.3. GD giới tính + Bình đẳng giới

2.2.3.a. Giáo dục giới tính bao gồm: Sự phát triển của giới tính, sức khỏe sinh

sản, các mối quan hệ cá nhân, tình cảm, về ngoại hình, về vai trò của giới.

- Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới

và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam

giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có

thể thay đổi được.

- Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Giới tính

là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và khơng thể thay

đổi được.

*Sự phát triển của giới tính :

- Ở nam: hoocmon testosteron tăng cao làm tăng kích thước bộ phận sinh dục,

xuất hiện lơng mu, giọng nói thay đổi, xuất tinh lần đầu tiên, mọc lông nách,

mọc râu và tăng chiều cao.

- Ở nữ: lượng hoocmon estrogen tăng cao kích thích ngực nở, lơng mu xuất

hiện, mọc lơng nách, tăng chiều cao, tuyến sữa hình thành, xu ất hiện kiểu thanh

quản nữ giới với giọng cao, kỳ kinh đầu tiên xuất hiện.

Sự thay đổi của cơ thể và tâm sinh lý của VTN đã làm các em chú ý hơn về cơ thể

mình cho nên ln làm đẹp để gây chú ý ở người khác giới, các em đã bắt đầu thích

chơi với bạn khác giới.

2.3.3.b.Một số khái niệm về bình đẳng giới:



- Quan hệ giới: Là các mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới, đặc biệt là

cách thức phân chia quyền lực giữa nam và nữ.

- Vai trò giới: Là những hoạt động khác nhau mà xã hội mong nuốn phụ nữ và

nam giới thực hiện.

- Nhạy cảm giới: Là sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn về nhu cầu, vai trò và

trách nhiệm khác nhau của phụ nữ và nam giới.

- Trách nhiệm giới: Là việc nhận thức được các vấn đề giới, sự khác biệt giới và

nguyên nhân của nó, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết và khắc

phục mọi bất bình đẳng trên cơ sở giới.

- Phân công lao động trên cơ sở giới: Là sự phân công việc và trách nhiệm khác

nhau giữa phụ nữ và nam giới

- Bình đẳng giới: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và

khác nhau giữa phụ nữ và nam giới.

Phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng như nhau và cùng:

+ Có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng

của mình.

+ Có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội và

thành quả phát triển.

+ Được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

2.3.4. Tình bạn – Tình yêu – Hơn nhân

2.2.4.a.Tình bạn là tình cảm gắn bó giữa hai hoặc nhiều người trên cơ sở tự nguyện,

bình đẳng, hợp nhau về sở thích, cá tính, mục đích, lý tưởng.

Tình bạn khác giới có những đặc điểm cơ bản của tình bạn cùng giới nhưng nó có

những đặc điểm riêng. Đó là:

a/ Trong tình bạn khác giới, mỗi bên đều coi giới kia là một điều kiện để tự hoàn thiện

mình.

b/ Có một “khoảng cách” tế nhị hơn so với tình bạn cùng giới, ở đây có sự “tự điều

chỉnh” một cách tự nhiên: trong quan hệ khác giới, người ta dễ trở nên lịch sự, tế nhị

hơn so với quan hệ cùng giới.



c/ Tình bạn khác giới có thể là khởi điểm cho q trình chuyển hóa thành tình u sau

này, mặc dù nó chưa phải là tình u. Do đó, nó dễ bị ngộ nhận là tình u.

*Cần lưu ý trong quan hệ khá nhạy cảm này:

- Tránh đối xử với nhau suồng sã, thiếu tế nhị.

- Tránh vơ tình hay cố ý gán ghép lẫn nhau trong quan hệ bạn bè khác giới.

- Tránh ghen ghét, nói xấu lẫn nhau hay đối xử thô bạo với nhau khi thấy bạn

mình có thêm người bạn khác giới.

- Tránh ngộ nhận tình bạn khác giới là tình yêu, cho dù rất thân nhau.

- Tránh thái độ lấp lửng, mập mờ dễ gây cho bạn khác giới hiểu lầm là tình yêu

đang đến.

2.3.4.b.Tình yêu được cho là loại cảm xúc mạnh mẽ nhất, đẹp đẽ nhất nhưng

cũng khó nắm bắt, định nghĩa nhất, ngay cả khi đem ra so sánh với các loại cảm

xúc khác. Theo triết học: tình yêu là một loại tình cảm giữa người và người,

hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ.

* Đặc điểm của tình yêu đẹp: Tôn trọng lẫn nhau, Chung thuỷ, Yêu thương, Tin

tưởng, Chia sẻ, Trách nhiệm.

2.3.4.c. Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người đàn ông và một người

đàn bà, được pháp luật thừa nhận, nhằm chung sống với nhau và cùng xây dựng

gia đình hạnh phúc lâu dài.

2.3.5. Bạo lực học đường:

2.3.5.a. Bạo lực học đường là hệ thống xâu chuỗi những lời nói đe dọa,, hành vi

thơ bạo, khủng bố người khác (trò – trò, thầy – trò,..) gây những tổn thương về

tư tưởng, tình cảm, những cú sốc về tâm, sinh lý hoặc để lại những thương tích

trên cơ thể.

2.3.5.b. Thực trạng: đáng báo động và vô cùng nhức nhối:

+ Hiện nay trên mạng internet xuất hiện hàng loạt clip bạo lực của nữ sinh: ở Phú thọ,

nữ sinh đánh nhau bằng giày cao gót, ở Hà Nội, ở TPHCM, Nghệ an…

+ Học sinh có thái độ không đúng mực, xâm phạm đến danh dự và nguy hại về thể

xác của bạn bè và thầy cô…



+ Kết băng nhóm hội hoạt động đánh nhau có tổ chức trong trường học…

+ Giao viên súc phạm tới nhân phẩm, hoặc xâm phạm đến thân thể học sinh…

2.3.5.c. Nguyên nhân:

- Gia đình, nhà trường chưa quan tâm, chưa uốn nắn, GD được các em

- Ảnh hưởng ở các trò chơi bạo lực, phim ảnh

- Lứa tuổi của các em thiếu khả năng kiểm soát hành vi, bồng bột trong hành

động

2.3.5.d. Hậu quả:

- Đối với nạn nhân:

+ Gây tổn thương về tinh thần và thể xác.

+ Gây tổn hại đến người thân, gia đình người bị hại

+ Gây nên tâm lí bất ổn trong xã hội: lo lắng, bất an từ gia đình, nhà trường đến xã hội

- Đối với người gây ra bạo lực:

+ Bản thân tự đánh mất đi nhân phẩm của mình

+ Là nguyên nhân dẫn đến những hành vi gây nên tội ác

+ Phá hỏng tương lai của chính mình, tự vứt bỏ q trình rèn luyện và tự đào thải

mình ra khỏi quĩ đạo chung của xã hội văn minh, tiến bộ.

+ Gây nguy hại cho xã hội, bị mọi người lên án, xa lánh, căm ghét.

2.3.5.e. Giải pháp:

- Đối với bản thân mỗi người phải tự rèn cao nhận thức hoàn thiện nhân cách.

+ Bồi dưỡng tình u thương với bạn bè, thầy cơ, gia đình, xã hội.

+Làm chủ được những hành vi và nhận thức rõ những hậu quả hành vi bạo lực gây

nên.

+Nhận thức được vai trò tình người, tình đồn kết…

-Đối với gia đình: Cần có sự quan tâm, chăm sóc đúng mực đối với học sinh không nên

bỏ rơi, hoặc thiếu quan tâm do nhiều lí do khác nhau hoặc quá nuông chiều con cái.



-Đối với nhà trường và xã hội cần có những giải pháp đồng bộ, coi trọng dạy kĩ năng

sống, vươn tới những điều thân thiện mỹ bằng nhiều hính thức như phát dộng những

phong trào vui chơi giải trí lành mạnh, hoạt động xã hội…

2.3.6. Tư vấn học đường:

Đây là hoạt động quan trọng giúp chia sẻ, trò chuyện, cung cấp thơng tin, kiến

thức về tâm sinh lý giao tiếp lứa tuổi cho các em. Đồng thời còn giúp các em rèn luyện

kỹ năng giao tiếp ứng xử để nâng cao khả năng thích nghi, xử lý tình huống.

2.2.6.a.Những vấn đề đáng lo ngại của tuổi mới lớn:

1.



Quấy rối là gì? Một số lời khuyên khi bị quấy rối? Đề phòng quấy rối tình



dục.

2.



Rối loạn tâm lí ở lứa tuổi vị thành niên(Tính khí thất thường)



3.



Stress – Vơ cảm



4.



Hành vi lệch lạc tình dục



5.



Rối loạn kinh nguyệt



* Gv đặt ra vấn đề cho hs tham gia để nhận phần thưởng nhỏ: Suy nghĩ của em

về hiện tượng bà Tưng?

* Hs phát biểu ý kiến. Gv nhận xét, bổ sung, chốt lại, trao thưởng.

2.2.6.b.Giải đáp những câu hỏi của Hs đã gửi những buổi sinh hoạt trước

II.3. Nhiệm vụ nghiên cứu:

GD kĩ năng sống cho HS nữ lớp 10 trường THPT Hoàng Hoa Thám với nội dung

như trên để:

Trang bị cho các em hs nữ có nhận thức đầy đủ và nghiêm túc các kiến thức

về

GD giới tính. VTN có trang bị đầy đủ kiến thức về SKSS sẽ có điều kiện phát triển hài

hồ cả về thể chất lẫn tinh thần, chủ động trong các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là

trong quan hệ bạn bè khác giới.

Thơng qua việc xử lý các tình huống sẽ giúp các em rèn luyện kỹ năng nhận diện,

phân tích các vấn đề của bản thân. Các em sẽ biết xử lí các trường



hợp, các tình huống nhạy cảm, sẽ tăng thêm kinh nghiệm để vượt qua thời kỳ sóng gió

của tuổi dậy thì một cách an tồn và vững vàng.

Đồng thời cung cấp các thơng tin về phòng tránh việc có thai ngồi ý muốn, phòng

tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV – AIDS… sẽ giúp giảm thiểu tỉ lệ

mang thai ngoài ý muốn và làm giảm tỉ lệ nạo phá thai khơng an tồn, góp phần giữ gìn

sức khoẻ để các em có điều kiện học tập và phát triển trở thành những công dân có đủ

sức khoẻ và trí lực cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

II.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: Học sinh nữ lớp 10 A7 (41 học sinh) trường THPT Hoàng Hoa

Thám. Đây là 1 lớp cơ bản D, 1 lớp tập trung 41/42 học sinh nữ là một thách

thức lớn với GVCN vì các em đang tuổi trưởng thành, mỗi hs mỗi tính cách và

đều muốn thể hiện cái tơi của mình. Nhưng các em cũng là những em có kết quả

học tập khá, có ý thức khá cao trong rèn luyện đạo đức. Đây cũng chính là cơ

hội để GVCN hỗ trợ cho các em những kĩ năng cần thiết để trở thành những

người phụ nữ thành đạt và tiến bộ, hạnh phúc trong tương lai.

- Phạm vi:

+ Cung cấp một số kiến thức cơ bản về GD giới tính

+ Rèn luyện một số kĩ năng: kĩ năng thuyết trình, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng

kiểm sốt cảm xúc, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ và kĩ năng giải quyết vấn đề.

+ Trong giờ sinh hoạt ngoài giờ lên lớp.

III.Phương pháp nghiên cứu:

1.Khách thể nghiên cứu:

Tôi chọn 20 học sinh nữ lớp 10A7 và lớp 10A8 trường THPT Hồng Hoa Thám để

thực hiện nghiên cứu. Các em có kết quả học tập và hạnh kiểm lớp 9 tương đương nhau.

Bảng 1: Khách thể nghiên cứu

Kết quả học tập



Khách thể



Số lượng, giới



nghiên cứu



tính



Học lực



Hạnh kiểm



Lớp 10A7



20 học sinh nữ



3 Trung bình, 16



20 Tốt



Khá, 1 Giỏi



Lớp 10A8



20 học sinh nữ



3 Trung bình, 16



20 Tốt



Khá, 1 Giỏi

2.Thiết kế nghiên cứu:

Theo phiếu khảo sát hs lớp 10 A7 trường THPT Hoàng Hoa Thám: Em có ý

kiến đóng góp gì cho GVCN trong giờ sinh hoạt chủ nhiệm: SHNGLL, Hướng

nghiệp, Sinh hoạt chi đoàn? Các ý kiến của các em mong muốn GVCN:

+ Tổ chức trò chơi

+ Kể những câu chuyện có tính GD

+ Giao lưu gv- hs để hiểu nhau hơn

+ Văn nghệ

+ Nữ công gia chánh

Qua nhiều năm công tác, với vị trí GVCN tơi cũng nhận thấy các giờ sinh hoạt

chủ nhiệm chưa được khai thác triệt để để phát huy hiệu quả chủ nhiệm. Các GVCN

còn nặng về thi đua thành tích nên thường qua xếp loại tuần hay tháng thường thể hiện

sự khơng bằng lòng với các em. Cụ thể thường những giờ ấy GVCN tra vấn các em về

các vấn đề nề nếp, tác phong hay học tập. Đành rằng các em cũng sai nhưng nếu giờ

nào cũng như vậy thì GVCN rất mệt mỏi, Hs cũng bị tăng thêm áp lực. Mỗi giờ sinh

hoạt làm các em căng thẳng, sợ hãi.

Cho nên cần thay đổi như các ý kiến trên của các em cũng rất xác đáng và có ý nghĩa

giáo dục cao, phù hợp với vai trò của GVCN.

Ngồi ra tơi còn khảo sát về phương pháp dạy học của Giáo viên xem các em thích nhất

phương pháp nào. Kết quả như sau:

Tổng số người trả lời: 41

Mức độ



Thích nhất



Bình



Khơng thích



thường

Các Phương pháp dạy học



SL



TL



SL



TL



SL



TL



1. PP dạy học nhóm



10



24,3



26



63,7



5



12



2. PP giải quyết vấn đề



6



14,6



12



29,4



23



56



3. PP đóng vai



22



53,7



15



36,6



4



9,7



4. PP trò chơi



25



61



10



24,4



6



14,6



5. PP dự án



12



29,4



7



16,9



22



53,7



6. PP sử dụng Phiếu học tập



6



14,6



25



61



10



24,4



Bảng 2: Khảo sát về các phương pháp dạy học

SL: số lượng chọn (người)

TL: tỉ lệ chọn (%)

Như vậy có thể thấy Hs rất thích phương pháp đóng vai và phương pháp trò chơi,

có lẽ các em muốn giảm bớt căng thẳng sau những giờ học để học mà chơi, chơi mà

học. PP dạy học nhóm và sử dụng phiếu học tập cũng khá quen thuộc để các em có thể

phát huy quyền tranh luận và được trao đổi với các bạn khác giúp các em học hỏi được

nhiều. Cuối cùng PP giải quyết vấn đề và PP dự án các em ít chọn vì có phần xa lạ, các

em ít hình dung được hiệu quả của nó.

Từ những căn cứ trên, tơi xác định chọn giờ sinh hoạt ngoài giờ lên lớp của lớp

chủ nhiệm 10 A7 để GD kĩ năng sống với nội dung GD giới tính cho các em bằng

phương pháp tổ chức trò chơi giữa 4 tổ có kết hợp với văn nghệ, đóng kịch. Qua đó

giúp các em còn tăng tính đồng đội, sự đoàn kết, tự tin, phát huy được những sở trường

của các em. Qua hội ý với lớp, chúng tơi cùng thống nhất mỗi giờ sẽ có phần thưởng

cho đội nhất và mỗi thành viên đội ấy được cộng 2 điểm thi đua vào điểm tuần. Việc

làm này sẽ có tác dụng khuyến khích các em nghiêm túc và hào hứng tham gia tiết học

hơn.

3. Quy trình nghiên cứu: Tôi tiến hành 5 thực nghiệm trong 5 tháng, bắt đầu từ

tháng 11 đến tháng 3 năm 2014.

Bước 1:



- GV chuẩn bị nội dung, phương tiện, thiết kế thực nghiệm



- GV yêu cầu hs tìm hiểu, chuẩn bị 1 số nội dung, tiết mục, phân công các

nhiệm vụ như: Thư kí, MC, Thủ quỹ chuẩn bị phần thưởng,…(GV thơng báo trước 1

tuần)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×