Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Tóm tắt đề tài:

I. Tóm tắt đề tài:

Tải bản đầy đủ - 0trang

ngoại hình, về vai trò của giới[5]. Dựa vào khái niệm này tôi đã lồng ghép các nội dung

vào 4 chủ để: Sức khỏe sinh sản vị thành niên và phòng chống HIV- AIDS; Giáo dục

giới tính + Bình đẳng giới; Tình bạn – Tình u – Hơn nhân và Bạo lực học đường. Về

lí thuyết, chúng ta có thể tìm thấy khá nhiều tài liệu về các nội dung này nhưng để tập

trung đầy đủ lại và để hướng cụ thể đến đối tượng học sinh nữ thì chưa có.

Mặt khác có thể nói đây là nội dung khơng mới đối với các em nên nếu không

khéo cứ nhồi nhét, bắt các em học thì rất có thể phản tác dụng.. Chính vì thế trước tiên

tơi phải điều tra về đối tượng để nắm bắt xem các em hiểu biết đến đâu và thăm dò

phương pháp dạy học phù hợp nhất. Mặc dù đã được học nhưng các em hiểu biết chưa

tồn diện và đầy đủ (65% khơng hiểu khái niệm Bình đẳng giới). Nguyện vọng của các

em đều muốn giờ sinh hoạt ít nặng nề về thi đua hay kỉ luật mà tăng cường hoạt động

giao lưu, giáo dục kĩ năng sống qua các trò chơi, các câu chuyện kể,.. Các em hứng thú

nhất với Phương pháp trò chơi 25/41 chiếm 61 % và phương pháp đóng vai 22/41

chiếm 53,7%. Như vậy thiết kế nghiên cứu của tôi sẽ truyền tải 4 chủ đề như trên sử

dụng chủ yếu 2 phương pháp này để các em học sinh sẽ học mà chơi, chơi mà học.

Điều đó được thể hiện cụ thể thông qua việc tổ chức lớp thành 4 đội chơi (4 tổ của

lớp), từng chủ đề đều được thiết kế qua các phần thi với tên gọi và luật thi khác nhau.

Đặc biệt chủ đề nào cũng có phần xử lí tình huống và phát biểu quan điểm(trong trò

chơi hoặc ở phần thi phụ). Các nội dung mở rộng phong phú từ những sự kiện trong quá

khứ (Hai Bà Trưng xưng vương) cho đến các hiện tượng gây xôn xao dư luận gần

đây(học sinh nữ đánh nhau lột đồ, bà Tưng) để định hướng học sinh có cái nhìn đúng

đắn và chấn chỉnh hành vi. Nội dung giới tính các em được tìm hiểu sự phát triển ở cả

giới nam và nữ (thuận lợi là lớp 41 học sinh nữ) và tìm hiểu các biện pháp quan hệ tình

dục an tồn. Các em được tìm hiểu cụ thể về các biện pháp tránh thai, giải pháp cho bạo

lực học đường,.. và được xem phim nói về chủ đề này. Bốn chủ đề tôi đều thiết kế trên

Powerpoint với nhiều hình ảnh, âm thanh linh hoạt để giúp hỗ trợ giáo viên vừa để tăng

sự sinh động cho bài giảng, thu hút hs chú ý hơn.



Sau mỗi tiết học các em được trao phần thưởng cho đội chiến thắng và được cộng

khuyến khích 2 điểm thi đua tuần đối với mỗi thành viên của tổ đạt giải nhất(đã có hội ý

của GVCN và lớp). Đồng thời cuối mỗi tiết sinh hoạt tôi cho các em viết vào

giấy(không cần viết tên) điều thắc mắc của mình về chủ đề đã học. Sau đó tơi tổng hợp

tất cả lại và chuẩn bị 1 số nội dung mở rộng làm thành hoạt động tư vấn học đường.

Một số câu hỏi đã có trong phần được học thì tơi cho học sinh tham gia, trở thành nhà

tư vấn cho bạn mình. Cuối cùng tơi chọn một tiết thích hợp tổ chức một buổi chiếu

phim với tư liệu giáo dục giới tính trực tuyến tôi đã sưu tầm được để giúp các em củng

cố những gì đã học. Một tuần sau đó tơi tiến hành phát phiếu đánh giá cho lớp thực

nghiệm (lớp 10 A7) và lớp đối chứng(lớp 10 A8). Các em hồn thành trong thời gian 40

phút, tơi thu lại và chấm điểm.

Như vậy khách thể nghiên cứu của đề tài là 20 học sinh nữ của lớp 10 A8 là

nhóm đối chứng và 20 hs nữ lớp 10 A7 ở nhóm thực nghiệm,. Các em có kết quả hạnh

kiểm và học lực lớp 9 tương đương nhau. Điểm từ phiếu đánh giá chính là bài kiểm tra

sau tác động. Kết quả điểm trung bình nhóm đối chứng 5,4, nhóm thực nghiệm 7,0,

chênh lệch giá trị trung bình chuẩn là 1,5. Sau tác động kiểm chứng chênh lệch ĐTB

bằng T-test cho kết quả p = 0,00001, cho thấy sự chênh lệch giữa ĐTB trước tác động

và sau tác động rất có ý nghĩa. Như vậy có thể thấy việc GD kĩ năng sống với nội dung

GD giới tính đã giúp các em học sinh nữ được trang bị kiến thức đầy đủ, biết xử lý

những tình huống trong cuộc sống nếu gặp phải. Từ đó cũng giúp các em định hướng và

sẽ có quyết định đúng đắn, nghiêm túc về tình u, tình dục, hơn nhân,...trong tương lai.

Đó là ý nghĩa thiết thực của đề tài.

II. Giới thiệu:

Thế kỉ XXI, thế kỉ của đỉnh cao trí tuệ, là thế kỉ bùng nổ của tri thức khoa học và

công nghệ. Con người trở thành trung tâm của sự phát triển, vừa là mục tiêu vừa là

động lực của sự phát triển. Từ đó đòi hỏi Giáo dục phải đạt được hiệu quả nhất định

trong đào tạo con người mới và vì thế đã đặt ra cho người giáo viên nói chung và người

giáo viên chủ nhiệm nói riêng những yêu cầu mới.



Người giáo viên chủ nhiệm không chỉ trang bị kiến thức mà phải chăm lo hình

thành ở thế hệ trẻ những tình cảm, thái độ, hành vi, thói quen ứng xử hợp lí. Có nghĩa

là giáo viên chủ nhiệm cần quan tâm đến sự phát triển ở học sinh về các giá trị đạo đức,

thẩm mĩ, thể chất.

Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi có những chuyển biến quan trọng cả về sự phát

triển thể lực lẫn sự phát triển tâm lí. Các em có khả năng tri giác rõ ràng, có những rung

cảm mãnh liệt, có nhiệt tình sơi nổi, có khao khát được tìm hiểu, khám phá mọi vấn đề,

khao khát thể hiện mình, ... Nhưng các em cũng trải qua giai đoạn khó khăn: có những

hành vi, những thử nghiệm, có thể có nguy cơ gây hại cho bản thân và xã hội bởi mâu

thuẫn trong tâm lí giữa một bên là tính chất q độ khơng còn là trẻ con nhưng cũng

chưa phải là người lớn. Vì vậy cần có sự có sự nỗ lực của bản thân các em, sự quan tâm,

định hướng của nhà trường, gia đình và xã hội để các em vượt qua giai đoạn khủng

hoảng, phát triển nhân cách đúng hướng, tránh các sai lệch khơng đáng có, để trở thành

người lớn với đúng nghĩa của nó.

Sinh ra trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ với tốc độ chóng

mặt, những học sinh thế hệ này phải được đào tạo để trở thành những con người năng

động, tự tin vừa giàu tri thức vừa giàu kĩ năng sống. Cho nên nội dung Giáo dục kĩ năng

sống được chú trọng đưa vào giảng dạy nhiều năm gần đây. Bộ Giáo dục và Đào tạo

(GDĐT) đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

trong đó nội dung thứ ba trong năm nội dung chính là “Rèn luyện kỹ năng sống cho học

sinh”. Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục kĩ năng

sống ở Việt Nam những năm qua, nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường

phổ thông bao gồm các KNS cơ bản, cần thiết. Tuy nhiên hiệu quả chưa được như

mong đợi.

Có thể thấy việc HS không được GD kĩ năng sống đầy đủ gây ra tình trạng phát

triển nhân cách lệch lạc. Cụ thể những hiện tượng nổi cộm trong thời gian gần đây như

bạo lực học đường ở nữ giới, bệnh vơ cảm, mê muội thần tượng, tạo Scadal từ khoe

hình phản cảm, ăn mặc hở hang, phát ngôn gây sốc, .. và



cùng với đó là những con số đáng lo ngại. Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam,

bình quân mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai (chiếm 20% trong tổng số ca),

trong đó 80-90% là học sinh, sinh viên. Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị

thành niên cao nhất Đông Nam Á và thứ 5 thế giới.[13- Báo Vn express ngày

12/07/2013].



Biểu đồ 1: Khảo sát về quan hệ tình dục trước hôn nhân



Gần một nửa số bạn trẻ vị thành niên tham gia một nghiên cứu được Bộ GD-ĐT

công bố [13- Báo DanTri.com.vn ngày 05/12/2012] cho biết từng yêu và có quan hệ

tình dục, 7,6% các em chưa u nhưng cũng có quan hệ tình dục. Kết quả nghiên cứu

này do Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và dân số (CCIHP) thực hiện, được báo cáo tại

hội thảo “Phổ biến kết quả nghiên cứu về giới và sức khỏe sinh sản cho thanh niên, học

sinh sinh viên (HSSV)”. Cũng theo nghiên cứu này, có đến 1/3 thanh niên từng có mối

quan hệ tình cảm khơng hề làm bất cứ điều gì để bảo đảm an tồn, nữ giới lại ít chuẩn

bị những biện pháp an tồn bảo vệ mình hơn nam giới, chỉ vì đơn giản họ nghĩ “khơng

thấy có bất cứ mối nguy hại nào từ phía đối tác”.

Từ những con số ấy chứng minh việc GD kĩ năng sống mà cụ thể, cấp thiết là GD

giới tính cho học sinh nói chung và học sinh nữ nói riêng là cần tiến hành càng sớm thì

những bất ngờ và đáng tiếc sẽ được hạn chế hơn. Những kiến thức



về giáo dục giới tính sẽ giúp trẻ vị thành niên(giới hạn trong đề tài nghiên cứu này là

những học sinh nữ lớp 10) có một quan điểm tích cực về tình dục, đồng thời cung cấp

các thơng tin và kỹ năng để các em có được thái độ và hành vi đúng, hiểu biết và có

trách nhiệm về những quyết định của mình. Đó là lí do tơi tiến hành đề tài nghiên cứu

này.

II.1. Thực trạng:

II.1.1. Thực trạng Kĩ năng sống của học sinh THPT:

Chúng ta dễ dàng tận mắt nhìn thấy trong những quán Internet dọc đường lúc nào

cũng đơng học sinh, dù lúc đó đang trong giờ học, buổi trưa hay tối. Học sinh bỏ học đi

chơi game, hoặc tranh thủ lúc đi học về cũng ghé qua “lướt” một lúc, buổi tối lấy lý do

đi học thêm để trốn nhà đi ra quán nét. Đặc biệt ngày nay với sự mở rộng của mạng xã

hội Facebook, các em có thể dễ dàng online bằng điện thoại di động 24/24 để chia sẻ

hình ảnh, ghi âm, quay phim về mọi vấn đề để cùng nhau “chém gió”, “dìm hàng”, “tự

sướng”.. Cũng từ mạng xã hội này đã nảy sinh nhiều vụ nói xấu, cãi cọ, mâu thuẫn,

đánh nhau gây bạo lực học đường không chỉ của hs với hs, gv với gv mà còn gv với hs.

Học sinh khó kiểm sốt cảm xúc của bản thân, chỉ vì nguyên nhân cỏn con cũng sẵn

sàng cầm dao đâm bạn. Cảnh những học sinh vi phạm giao thông, tan trường đạp xe

hàng ba, hàng bốn, phóng xe lạng lách, vượt quá tốc độ dù bị nhà trường cảnh cáo, hạ

hạnh kiểm vẫn khơng sợ.

Học sinh hiện nay có quan niệm về tình bạn, tình yêu cởi mở hơn, dễ dàng yêu

sớm và muốn thử nghiệm. Nhiều sự việc trực tiếp xảy ra ở trường THPT trên địa bàn

huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa: Học sinh 12 phải nạo phá thai hoặc nghỉ học để

làm mẹ. Đáng chú ý là tình huống này lại xảy ra ở những học sinh nổi tiếng ngoan,

hiền, chăm học.

Bên cạnh đó, một số học sinh rất chăm chỉ học tập và kết quả học tập hàng năm

đều cao, nhưng lại chỉ biết mỗi chuyện học, ít quan tâm đến các hoạt động tập thể văn

nghệ, thể thao, cắm trại của lớp, của trường. Những học sinh



đó sống khép kín, khơng hòa đồng với bạn bè, khơng quan tâm đến những gì đang diễn

ra xung quanh. Từ đó phổ biến căn bệnh vơ cảm trong học sinh. Có sự vơ cảm khơng

biết cảm ơn khi được giúp đỡ, khơng biết xin lỗi khi làm sai, có sự vô cảm dẫn đến sự

việc nghiêm trọng như các nữ sinh ở Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng đánh nhau, xé

áo, cắt tóc bạn mình thì các em vẫn đứng xem, quay phim, cổ vũ nhiệt tình. Văn hóa

thần tượng lệch lạc, các Fan cuồng có hành động phát ngôn phản cảm, thiếu suy nghĩ,

tôn thờ mù quáng. Hoặc giới trẻ thích tạo ra Scandal để được nổi tiếng bằng việc khoe

thân phản cảm, phát ngôn gây sốc,…

Tất cả những biểu hiện ấy làm đau đầu những nhà Giáo dục và trách nhiệm của

nhà trường THPT và giáo viên chủ nhiệm khơng phải là những người ngồi cuộc. Như

vậy câu hỏi đặt ra phải GD kĩ năng sống như thế nào để cải thiện tình trạng trên.

II.1.2. Thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở trường THPT :



Thông qua dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/ AIDS

dành cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”, do Quỹ nhi đồng Liên Hợp

Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ GD- ĐT phối hợp cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

thực hiện năm 1995-1996 thì thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong nhà trường phổ

thông Việt Nam. Việc giáo dục KNS trong trường THPT được Bộ GDĐT triển khai vào

cuối năm 2010. Theo công văn chỉ đạo của Bộ GDĐT, đưa KNS vào chương trình giáo

dục trong nhà trường phổ thơng, u cầu lồng ghép chương trình kỹ năng sống ở các

mơn học. Các mơn lịch sử, địa lí, giáo dục cơng dân và đặc biệt là mơn ngữ văn đã có

sự lồng ghép vào giảng dạy. Nhưng một mặt tôi nhận thấy việc lồng ghép đưa vào còn

chung chung, hời hợt, chiếu lệ và ít hiệu quả. Một mặt việc áp dụng của giáo viên (GV)

còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng; xét trong điều kiện đó cũng là điều khơng thể tránh

khỏi.

Mặt khác việc GD kĩ năng sống ở trường THPT chủ yếu nhấn mạnh ở với những

nội dung: kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác(thông qua



Trang 10



làm việc nhóm) mà ít các kĩ năng nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng kiểm soát

cảm xúc, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ và kĩ năng giải quyết vấn đề. Như vậy GD kĩ năng

sống chưa thật thiết thực, chưa đi vào nội dung cụ thể, đặc biệt là nội dung GD giới

tính.

Lí giải về tình trạng trên, có thể thấy: Xã hội Việt Nam bị coi là một xã hội bảo thủ

vì tỷ lệ giáo dục giới tính trong trường học tại Việt Nam rất thấp: chỉ có khoảng 0.3%

trường Trung học phổ thơng có đưa giáo dục giới tính vào giảng dạy cho học sinh[13].

Việc GD giới tính ở trường THPT lại chỉ gắn với phòng chống HIV- AIDS là phiến

diện, khơng đầy đủ.

Phần nội dung này đã được Bộ giáo dục và đào tạo triển khai tập huấn cho GV

nhưng cũng là dạy học lồng ghép vào các môn xã hội. Những bài học có nội dung liên

quan thìlồng ghép khéo léo, ngắn gọn, khơng nặng nề, dài dòng. Như vậy các nội dung

này vốn sơ lược lại phân bố rải rác ở các môn học khác nhau. Cuối cùng kiến thức Hs

nhận được chung chung như vệ sinh thân thể, sự mang thai hoặc cụ thể như HIV/AIDS,

thay đổi cơ thể tuổi dậy thì, quan hệ với bạn bè… Các kiến thức về GD giới tính đơi lúc

được đề cập ngẫu nhiên thông qua trao đổi, tư vấn trên lớp hoặc với riêng từng HS, GV

thậm chí còn bỏ qua các nội dung nhạy cảm..

Như vậy có thể thấy nội dung này đã được quan tâm nhưng ở mức độ còn hạn chế,

chưa có sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc

GDGT cho tuổi vị thành niên. Công tác tuyên truyền về GD giới tính chưa được đồng

bộ, phương tiện tuyên truyền còn hạn chế. Vì vậy mà đối tượng tiếp cận kiến thức chỉ

mới hiểu biết một cách mơ hồ, chưa thấu triệt, chưa hiểu rõ bản chất… Trong khi đó với

trào lưu du nhập lối sống phương Tây vào nước ta hiện nay, số VTN QHTD trước hơn

nhân, tình trạng nạo phá thai, hiện tượng lạm dụng TD trẻ em nữ có xu hướng tăng

cao… Những vấn đề này đe doạ trực tiếp đến sức khoẻ VTN. Để giúp các em HS có thể

tiếp thu lối sống lành mạnh thì việc trang bị kiến thức về sức khoẻ giới tính, về việc

tránh thai an tồn để bảo vệ mình là điều vô cùng cần thiết.



Trở lại vấn đề, nhiệm vụ của người GVCN là tìm hiểu đối tượng hs và định hướng,

dẫn dắt các em có quan điểm, tư tưởng, lối sống lành mạnh. Mơi trường sống, gia đình,

sở thích, quan hệ, những xu hướng phát triển nhân cách của hs, GVCN là người nắm rõ

hơn ai hết. Chính vì thế cần đưa nội dung GD giới tính vào giảng dạy ở các giờ

SHNGLL mới có thể nâng cao hiệu quả chủ nhiệm và có thể phần nào giảm bớt thực

trạng đáng lo ngại ở trên.

II.1.3. Thực trạng về GD KNS cho HS nữ ở trường THPT Hoàng Hoa

Thám:

Về GD kĩ năng sống nói chung, GD giới tính nói riêng ở Trường

THPT Hồng Hoa Thám có tiến hành nhưng ít hiệu quả. Nhà trường có tổ

chức chương trình Sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh nữ trong thời

gian 45 phút. Hội trường đông đúc, ồn ào, thời gian ngắn, các em ít tập trung

chú ý.

Hoạt động của Đoàn trường như tuyên truyền qua phát thanh: Sức

khỏe sinh sản vị thành niên và phòng chống HIV – AIDS, Khi tơi 18,.. hay tổ

chức sinh hoạt ngoại khóa nhưng các hoạt động ít lại mang tính hình thức, bề

nổi, chưa có chiều sâu.

Trong giờ sinh hoạt ngồi giờ lên lớp có chủ đề Sức khỏe sinh sản vị

thành niên và phòng chống HIV – AIDS, Phòng chống bạo lực học đường,..

nhưng triển khai cũng qua loa. Người dạy ít đầu tư, người học ít hào hứng

nên hiệu quả không cao.

Theo điều tra về đối tượng Hs nữ lớp 10 A7 trường THPT Hoàng Hoa

Thám về thực trạng hiểu biết về kĩ năng sống và GD giới tính, kết quả như

sau: 40/41 hs nữ cho rằng GD kĩ năng sống rất quan trọng trong trường

THPT chiếm tỉ lệ (97%) nhưng 30/41 hs hiểu chưa thật rõ(73%) kĩ năng sống

là gì, 34/41 hs cho rằng rất cần GD giới tính tại trường THPT(83%). Như

vậy thực trạng giảng dạy KNS và GD giới tính cho hs, nhất là hs nữ ở trường

THPT Hoàng Hoa Thám chưa đáp ứng được nguyện vọng của thầy và trò.

II.1.4. Nguyên nhân thực trạng:



Một thách thức lớn trong việc GD giới tính để tăng kĩ năng sống cho VTN ở nước

ta hiện nay là vấn đề chưa được nhận thức đầy đủ, chưa đúng mức của tồn

xã hội. Nhiều nhà lãnh đạo chính quyền và nhà hoạch định chính sách vẫn coi vấn đề

sức khoẻ, SKSS VTN chỉ thuần tuý là vấn đề xã hội, liên quan đến tập quán, lối sống.

Nhận thức về SKSS VTN của các bậc cha mẹ còn nhiều lệch lạc, phong kiến, coi

VTN là trẻ con, chưa có sự trao đổi cởi mở, bình đẳng và hướng dẫn cần thiết cho VTN.

Tâm lí lo ngại “vẽ đường cho hươu chạy” vẫn còn phổ biến khơng

chỉ







các bậc PHHS mà cả ở GV, lãnh đạo ngành giáo dục, văn hoá. Thái độ của GV trực tiếp

dạy nội dung GD giới tính cũng đang là trở ngại, các thầy cô cảm thấy chưa tự tin, ngại

ngùng khi truyền đạt về vấn đề này. Lí giải cho hiện trạng thầy cô cho rằng một nguyên

nhân quan trọng là khơng có mơn học riêng về lĩnh vực này. Sự băn khoăn về nội dung,

phương pháp giảng dạy cũng làm GV chưa tự tin, kết quả là GV có thể né tránh, khơng

đề cập hoặc trả lời thắc mắc của HS.

Về phía học sinh: chưa được trang bị các kỹ năng cần thiết để nhận thức bản thân

và đối phó với các nguy cơ đến từ các mối quan hệ xã hội và sự biến đổi tâm sinh lý bản

thân, các em được gia đình nng chiều quá mức tạo thành các thói quen xấu, khó thay

đổi.

Về phía phụ huynh học sinh: nhiều phụ huynh chỉ lo kiếm tiền nhiều mà khơng quan

tâm gì đến việc học tập và giáo dục con cái. Khi thấy môi trường của chúng có nguy cơ

khơng an tồn thì lại vội vàng tách con mình ra khỏi mơi trường, đưa chúng vào mơi

trường gò bó, khn khổ khiến chúng một mặt khơng thể thích nghi với những thay đổi

và một mặt khi xảy ra những tình huống thật sự ngồi đời sẽ phản ứng theo bản năng

một cách tiêu cực. Cách nhìn nhận của các bậc phụ huynh còn dừng lại ở việc quan tâm

đến việc học hành của con mà ít giành thời gian tâm sự hay giáo dục về vấn đề giới

tính. Và rõ ràng đối với hs càng bị né tránh cung cấp thông tin cụ thể từ người lớn sẽ

khiến các em càng tò mò, hoang mang và càng dễ bị dẫn dụ.



Theo ý kiến của phó viện trưởng Viện phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh

Sáng- Bác sĩ Nguyễn Thu Giang đã nhấn mạnh về hai nguyên nhân:"Giáo dục

kỹ năng sống cho các em phải từ hai phía gia đình và nhà trường. Ở nhà

trường, đó có thể là các buổi ngoại khóa, sinh hoạt nhóm lành mạnh. Ở góc độ

là bác sĩ điều trị, tơi thấy khi để các em đến cơ sở y tế là đã muộn rồi "[13- Báo

Thế giới trong ta số 426]. Cũng theo điều tra đối với 41 em hs nữ lớp 10A7

trường THPT Hoàng Hoa Thám, 29/41 hs chọn người tin tưởng nhất để chia sẻ

những vấn đề về giới tính là người thân thiết nhất trong gia đình(71%), chỉ có 2

hs chọn chia sẻ với GV mà mình tin tưởng nhất(4,9%). Kết quả này cho thấy các

em rất đặt niềm tin vào người thân trong gia đình nhưng đó có phải là nơi cung

cấp kiến thức về giới tính đầy đủ nhất cho các em? Rõ ràng là khó vì bố mẹ các

em làm nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, không phải phụ huynh nào cũng

giành nhiều thời gian để tìm hiểu các kiến thức này cũng như lắng nghe những

thay đổi để uốn nắn các em kịp thời.

Như vậy có thể thấy cơ hội để GV, nhất là GVCN trở thành người cố vấn đáng tin

cậy cho các em chỉ có thể thơng qua việc tăng cường GD kĩ năng sống này. Từ đây

GVCN sẽ hoàn thành tốt hơn vai trò của mình, nâng cao được hiệu quả chủ nhiệm còn

Hs sẽ tìm được nguồn thơng tin đáng tin cậy để trang bị cho mình. Trong nghiên cứu

này tôi tập trung vào việc tác động vào nguyên nhân từ phía nhà trường mà cụ thể là

người GVCN GD kĩ năng sống với nội dung GD giới tính cho hs nữ trong các tiết

SHNGLL để cải thiện tình trạng như đã phân tích.

II.2. Giải pháp thay thế: GD kĩ năng sống với nội dung giáo dục giới tính

cho hs nữ lớp 10 trường THPT Hồng Hoa Thám

II.2.1. Cơ sở lí luận của đề tài:



- HS THPT là lứa tuổi đầu thanh niên từ 14 - 18 tuổi, là thời kì đạt được sự

trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát

tri ển cơ thể củangười lớn. Đối với các em, đây là thời kỳ chuyển từ thời thơ ấu

sang tuổi trưởng thành. Sự khác biệt cơ bản của lứa tuổi VTN với các em ở lứa

tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối giữa các mặt: cơ thể, trí tuệ,



tâm sinh lý [8]. Sự biến đổi về tâm sinh lí làm cho lứa tuổi VTN vừa là “trẻ con”, vừa

là“người lớn” là sự phát triển đối lập nhưng thống nhất. Các em còn trẻ con hồn nhiên

nhưng đã bắt đầu có ý thức về “cái tơi”, muốn tự khẳng định mình, khẳng định nhân

cách của mình. Đây cũng là thời kỳ các em hình thành cách sống, cách nghĩ. Đặc biệt ở

lứa tuổi này các em rất xem trọng tình bạn, các em thích giao tiếp kết bạn với nhau, tôn

trọng lẫn nhau, tin tưởng, quan hệ bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau. Như vậy đây là lứa

tuổi có những thay đổi mãnh liệt báo hiệu những phong phú về tâm sinh lí nhưng cũng

tiềm ẩn những nguy cơ đáng lo ngại. Chính vì vậy tiếp cận và GD kĩ năng sống cho các

em ở lứa tuổi này vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức đối với người GVCN.

Điều 27 về Mục tiêu của giáo dục phổ thông nêu rõ: “…Mục tiêu của giáo

dục phổ thông là giúp học sinh phát triển tồn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,

thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và

sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng

tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi

vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…”[10]. Đồng

thời Chỉ thị 40/2008/ CT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GDĐT về phát động phong

trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã chỉ ra:“Rèn

luyện kỹ năng sống cho học sinh:

- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống,

thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm.

- Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai

nạn giao thơng, đuối nước và các tai nạn thương tích khác.

- Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa

bạo lực và các tệ nạn xã hội.” [11].

Từ đó có thể thấy việc GD kĩ năng sống cho Hs THPT là rất quan trọng.

II.2.2. Kĩ năng sống là gì?



- Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là "khả năng thích

nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với

nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày" [1].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Tóm tắt đề tài:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×