Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỂ SBR ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI

CHƯƠNG I. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỂ SBR ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thành phần nước thải được phân tích theo những đặc điểm vật lý, hóa học, sinh vật và vi

sinh vật.

a) Theo đặc điểm vật lý: các chất bẩn trong nước thải được chia thành:

• Các tạp chất khơng tan ở dạng lơ lửng, kích thước lớn, với kích thước hạt lớn hơn



10-4mm. Chúng có thể ở dạng huyền phù, nhũ tương hoặc kích thước lớn như giẻ,

vải, giấy, que củi .v.v.

• Các tạp chất bẩn dạng keo với kích thước hạt trong khoảng 10-4 đến 10-6mm.

• Các chất bẩn dạng tan có kích thước nhỏ hơn 10 -6mm. Chúng có thể ở dạng phân

tử hoặc phân ly thành ion.

Nước thải sinh họat có mùi hơi thối khó chịu.Khi vận chuyển trong đường cống sau

khoảng 2-6 giờ thấy xuất hiện mùi hyđrơ sunfua, nước có mầu sẫm.Nồng độ các chất bẩn

càng cao, nước thải càng có mầu và càng thấy đục.

b) Theo đặc điểm hóa học: nước thải chứa các hợp chất hóa học dạng vơ cơtừ nước



cấp như sắt, manhê, canxi, silic .v.v. và rất nhiều chất hữu cơ trong sinh hoạt. Nước

thải vừa xả ra thường có tính kiềm, nhưng dần trở nên có tính axit vì thối rữa. Các

chất hữu cơ trong nước thải có thể xuất xứ từ thực vật, động vật. Chất hữu có có

thể chia thành các chất chứa nitơ (urê, prôtêin, amin, axit amin … ) hoặc khơng

chứa nitơ (mỡ, xà phòng, hyđrocacbon, xenlulơ). Trong nước thải, các chất bẩn

dạng vô cơ chiếm khoảng 42% có phân bố chủ yếu ở dạng tan, các chất bẩn dạng

hữu cơ chiếm 58%, có phân bố nhiều ở dạng keo và không tan.

c) Theo đặc điểm vi sinh vật: trong nước thải có chứa nhiều loại vi sinh vật như nấm

men, nấm mốc, tảo, vi khuẩn, trong đó có lồi vi khuẩn gây bệnh tả, lỵ, thương hàn

… Những loài vi sinh vật này chủ yếu đặc trưng cho nước thải sinh hoạt và một số

nước thải sản xuất (lò mổ, nhà máy da, len ...)

1.1.4 Các thông số quan trọng của nước thải

a) Hàm lượng chất rắn: là chi tiêu cho phép đo gần đúng lượng bùn sẽ được khử trong

lắng sơ cấp. Hàm lượng chất rắn có trong nước thải được xác định là tổng chất rắn còn lại

sau khi bay hơi mẫu nước trên bếp cách thủy, rồi cho sấy khô ở 103 oC.

b) Hàm lượng oxy hòa tan (Dissolved oxygen - DO): là chỉ tiểu quan trọng nhất, khi thải

các chất thải sử dụng oxy vào nguồn nước, các q trình oxy hóa chúng sẽ làm giảm nồng

độ oxy hòa tan trong các nguồn nước, đe dọa sự sống các loài sinh vật sống trong nước.

c) Nhu cầu oxy sinh hóa (Biochemical Oxygen Demand - BOD): là chỉ tiêu thông dụng

nhất để xác định mức độ ô nhiễm của nước thải, BOD là lượng oxy vi sinh vật đã sử dụng

trong quá trình oxy hóa các chất hữu cơ, phương trình tổng qt của q trình đó là:

Vi khuẩn Chất hữu cơ + O2



CO2 + H2O + tế bào mới + sản phẩm cố định



d) Nhu cầu oxy hóa học(Chemical Oxygen Demand - COD): là chỉ số biểu thị hóa hàm

lượng chất hữu cơ trong nước thải và mức độ ô nhiễm của nước tự nhiên. COD là lượng

oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa hóa học các chất hữu cơ trong mẫu nước thành CO 2

và nước.

5



1.2 Quy trình chung trong xử lý nước thải

1.2.1 Các phương pháp xử lý nước thải

a) Phương pháp cơ – lý học



Phương pháp này dùng để loại các chất không tan và một phần các chất dạng keo

trong nước thải. Các cơng trình xử lý cơ học bao gồm: song chắn rác, bể lắng cát, bể lắng,

bể vớt dầu mỡ, bể lọc … Các chất thô như que, củi, giấy, giẻ … được giữ lại ở song chắn

rác, các tạp chất không tan dạng vô cơ như cát sỏi, gạch vỡ, thủy tinh … được tách khỏi

nước bằng bể lắng cát. Phần lớn các chất không tan hữu cơ được giữ lại ở bể lắng các

loại. Trong đó những chất có trọng lượng riêng lớn hơn trong trọng lượng riêng của nước

sẽ được lắng xuống đáy bể, các chất nhẹ hơn nước như dầu, mỡ lại nổi lên mặt nước.Sau

đó, cặn lắng ở đáy và chất nổi trên mặt nước lại được gạt tập trung lại và tách riêng.Đối

với các chất nổi đặc trưng, tùy thuộc bản chất của chúng có thể dùng các bể đặc biệt như

bể vớt dầu, mỡ.Những loại bể này chủ yếu được sử dụng với nước thải sản xuất.

Phương pháp xử lý cơ học thường chỉ là giai đoạn xử lý sơ bộ trước khi cho quá

trình xử lý sinh học.Các cơng trình cơ học thường được gọi là cơng trình xử lý bậc I.

b) Phương pháp hố học và hoá lý



Phương pháp này chủ yếu được dùng để xử lý nước thải sản xuất hoặc xử lý cặn

bùn. Phương pháp hóa học: là phương pháp sử dụng các hóa chất cho vào nước thải, tạo

phản ứng hóa học giữa hóa chất cho vào với các chất bẩn trong nước thải. Kết quả tạo

thành các chất kết tủa hoặc chất tan nhưng khơng độc. Điển hình của phương pháp hóa

học là phương pháp trung hòa nước thải chứa kiềm hoặc axit, phương pháp keo tụ và

phương pháp oxy hóa-khử. Phương pháp hóa lý: các phương pháp thường dùng là keo tu,

hấp thu, hấp phụ, trích ly, tuyển nổi, bay hơi, cơ đặc, đốt cháy, ozon hóa …

c) Phương pháp sinh học (sinh hóa)



Phương pháp này sử dụng khả năng sống, hoạt động của những vi sinh vật để

phân hủy, oxy hóa các chất bẩn hữu cơ trong nước thải. Đây là phương pháp phổ biến và

kinh tế nhất hiện nay.Phương pháp này có thể được tiến hành trong điều kiện tự nhiên

hoặc trong điều kiện nhân tạo. Các cơng trình xử lý sinh học (trong điều kiện nhân tạo)

bao gồm: bể lọc sinh vật (biophin), bể làm thoáng sinh học (aeroten), bể lắng đợt II (trong

các cơng trình xử lý nước thải bể lắng trong giai đoạn xử lý cơ học là bể lắng đợt I, bể

lắng trong giai đoạn xử lý sinh học gọi là bể lắng đợt II) ...

Để quá trình xử lý nước thải được triệt để, hồn thiện và tối ưu, người ta còn phải

sử dụng đến quá trình xử lý khác như khử trùng, xử lý cặn, hút bùn. Các cơng trình xử lý

của các quá trình này bao gồm: bể tự hoại, bể lắng hai vỏ, bể metanten … Các cơng trình

xử lý sinh học được gọi là cơng trình xử lý bậc II. Sau các cơng trình xử lý bậc II, nước

thải qua khử trùng và xả ra nguồn.Ngày nay ở những nước phát triển, để xử lý triệt để tức

là khử nốt các chất như nitrat, phơtphat, sunfat có trong nước thải gây ra hiện tượng phù

dưỡng, nở hoa trong nguồn nước người ta còn dùng cơng trình xử lý bậc III.

1.2.2



Quy trình cơng nghệ xử lý nước thải

6



Ngun tắc và u cầu xử lý nước

Nguyên tắc và yêu cầu xử lý nước thải: Dây chuyền công nghệ xử lý là tổ hợp

cơng trình, trong đó nước thải được xử lý từng bước theo thứ tự tách các cặn lớn đến các

cặn nhỏ, những chất khơng hòa tan đến những chất keo và hòa tan, khâu cuối cùng là khử

trùng.

Việc lựa chọn dây chuyền cơng nghệ là một bài tốn kinh tế kỹ thuật phức tạp

phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thành phần, tính chất nước thải, mức độ cần thiết làm

sạch, các yếu tố khác: điều kiện địa phương, năng lượng, tính chất đất đai, diện tích khu

xây dựng trạm xử lý, lưu lượng nước thải, công suất của nguồn.

Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải

Mô tả sơ bộ quy trình:

Lưu lượng nước thải chảy về trạm bơm thay đổi theo giờ, do đó trạm bơm nước

thải hoạt động gián đoạn với chu kỳ mở máy 3- 6 lần trong 1 giờ, bơm dâng nước về bể

lắng cát đứng, tại đây các hạt cát có d<0.25mm được giữ lại. Sau đó nước chẩy vào bể

điều hồ.

Bể điều hòa có nhiệm vụ lưu trữ nước thải cho 1/2 ca sản xuất (4 giờ) tại đây

nước thải được xáo trộn nhờ hệ thống máy khuấy (việc xáo trộn chằm đảm bảo sự đồng

nhất về chất lượng và ổn định về lưu lượng nước trước khi vào dây chuyền xử lý).Từ bể

điều hòa nước được bơm qua thiết bị trộn và phản ứng keo tụ. Sau đó nước tự chẩy vào bể

lắng thứ cấp nước chuyển động từ dưới lên với vận tốc nhỏ sẽ làm lắng khoảng 60% hàm

lượng căn, hàm lượng BOD sẽ giảm xuống 20-30%. Sau đó nước tự chẩy về bể xử lý sinh

học theo mẻ SBR.

Bể SBR được sục khí nhờ thiết bị súc khí bề mặt, việc sục khí này kết hợp trộn

nước thải với bùn hoạt tính có sẵn trong bể. Bùn hoạt tính thực chất là các vi sinh vật vì

vậy khi được trộn với nước thải với khơng khí có Ơxi, chúng sẽ phân hủy các chất hữu cơ

tạo thành cặn và sẽ lắng xuống ở tại bể SBR. Nước trong bể SBR được gạn ra khỏi bể

bằng thiết bị thu nước bề mặt sau khi ra khỏi bể và cuối cùng trước khi xả ra nguồn tự

nhiện nước được khử trùng bằng clo hoạt tính hoặc tia UV....

Một phần bùn hoạt tính dư từ bể SBR được bơm về bể cô bùn trọng lực sau đó

được bơm bùn bơm vào thiết bị ép cặn tạo thành bánh đem chôn hoặc đốt.



7



Trạm bơm



Xả sự cố



Ngăn tiếp nhận

Song chắn rác



Xả rác



Bể lắng cát ngang



T/bị tách cát



Bể điều hoà và

Máy bơm dâng

Trộn và

phản ứng keo tụ

Bể lắng thứ cấp

(bơm chìm và xả bùn)



Bể xử lý sinh học theo mẻ SBR



Máng trộn

khử trùng



Bể tiếp xúc và trạm bơm xả nước



Bơm xả bùn



Bùn trọng lực



T/bị làm khô bùn



Xả bùn khô

8



Nguồn tiếp nhận



9



CHƯƠNG 2. BỂ SBR (SEQUENCING BATCH REACTOR) TRONG XỬ LÝ

NƯỚC THẢI

2.1. Giới thiệu



Hình 2.1.Bể SBR

Bể SBR hay còn gọi là bể bùn hoạt tính từng mẻ (Sequencing Batch Reactor) là bể

xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học theo quy trình phản ứng từng mẻ liên tục.

Đây là một dạng của bể Aerotank.

SBR vừa có chức năng giống bể Aeroten là loại bỏ các chất hữu cơ có khả năng

phân hủy sinh học nhờ vi sinh vật hiếu khí, vừa có chức năng là lắng bùn để thu nước

trong ra ngồi.

Cơng nghệ xử lý nước thải theo mẻ là một quy trình xử lý tăng trưởng bùn lơ

lửng. Công nghệ SBR là một cải tiến của quy trình xử lý bùn hoạt tính và được mô tả đơn

giản chỉ là một bể chứa tiếp nhận xử lý từng mẻ. Một khi mẻ được xử lý, một phần của

mẻ được xả thải và một mẻ khác thu gom nước thải, nước được xử lý và được xả thải và

tiếp theo sau là một một mẻ thu gom nước thải khác, nước được xử lý và được xả thải.

Trong hình thức cơ bản nhất, là hệ thống SBR chỉ đơn giản là một tập hợp các bể

chứa hoạt động trên một cơ sở làm đầy và rút nước. Các bể chứa có thể là một con mương

10



bằng đất hoặc q trình oxy hóa, một bể hình chữ nhật, hoặc bất kỳ cấu trúc loại bê tông /

kim loại khác. Mỗi bể trong hệ thống SBR được điền trong một thời gian rời rạc của thời

gian và sau đó hoạt động như một lò phản ứng hàng loạt.Sau khi xử lý mong muốn, dung

dịch hỗn hợp được phép giải quyết và nổi rõ được rút ra từ hồ. Sự khác biệt chủ yếu giữa

các SBR và dòng chảy hệ thống bùn hoạt tính liên tục thơng thường là SBR thực hiện các

chức năng như cân bằng, sục khí và lắng trong một thời gian chứ không phải trong một

chuỗi không gian.

Một lợi thế của định hướng thời gian của SBR là tính linh hoạt của hoạt

động.Tổng thời gian trong SBR được sử dụng để thiết lập kích thước của hệ thống và có

thể được liên quan đến tổng khối lượng của một cơ sở liên tục dòng chảy thông

thường.Kết quả là, phần thời gian dành cho một chức năng cụ thể trong SBR là tương

đương với một số bể tương ứng trong một hệ thống định hướng không gian. Do đó, khối

lượng bể tương đối dành riêng cho, nói rằng, sục khí và lắng đọng trầm tích trong SBR có

thể được phân phối lại một cách dễ dàng bằng cách điều chỉnh các cơ chế kiểm soát thời

gian (và chia sẻ tổng khối lượng) lên kế hoạch cho một trong hai chức năng. Trong thông

thường ASP, khối lượng bể tương đối là cố định và không thể chia sẻ hay phân phối dễ

dàng như trong SBR.

Bởi vì sự linh hoạt kết hợp với làm việc trong thời gian hơn là trong khơng gian,

SBR có thể hoạt động hoặc như một, năng lượng thấp cần nhiều lao động, các hệ thống

sản lượng bùn cao hoặc như một nhiều năng lượng, lao động thấp, bùn thấp hệ thống năng

suất cho về cơ bản nhà máy vật lý như nhau. Lao động, năng lượng và sản lượng bùn

cũng có thể được đánh đổi với chi phí đầu tư ban đầu. Các hoạt động linh hoạt cũng cho

phép các nhà thiết kế sử dụng SBR để đáp ứng nhiều mục tiêu khác nhau điều trị, trong

đó có một mục tiêu tại thời điểm xây dựng (ví dụ như BOD và chất rắn lơ lửng giảm) và

tại một thời gian sau đó (ví dụ như nitrat hóa / khử ngồi BOD và lơ lửng loại bỏ các chất

rắn).

2.2 Phân loại bể SBR

Có hai loại SBR: loại lưu lượng dòng trung gian hoặc bể xử lý mẻ thực (true batch

reactor) (hình 2.2) và loại lưu lượng dòng liên tục của bể (hình 2.3)

2.2.1 Lưu lượng dòng trung gian



Hình 2.2.Lưu lượng dòng trung gian SBR.

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI BỂ SBR ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×