Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

32



thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 2 năm kể từ khi thực hiện việc niêm yết

thì mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28%.

Như vậy, trong hồn cảnh này các doanh nghiệp niêm yết có thể có hành động

quản trị lợi nhuận để tiết kiệm thuế thơng qua việc chuyển dịch lợi nhuận kế tốn

theo hướng báo cáo tăng thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán trong những năm

được giảm thuế. Chẳng hạn lợi nhuận tính thuế của doanh nghiệp K ở năm thứ 2 sau

niêm yết là 2.000.000.000 đồng và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28% thì

thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là 2.000.000.000 đồng x 28% x 50% =

280.000.000 đồng.

Và lợi nhuận tính thuế của năm thứ 3 sau niêm yết là 2.000.000.000 đồng và

mức thuế suất vẫn 28% thì thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là: 2.000.000 x

28% = 560.000.000 đồng

Vậy tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 2 năm là 840.000.000

đồng

Khi doanh nghiệp điều chỉnh lợi nhuận ở năm thứ 2 sau niêm yết tăng đến

2.200.000.000 đồng và lợi nhuận được điều chỉnh này sẽ làm giảm lợi nhuận của

các năm trước khi niêm yết hoặc năm thứ 3 sau niêm yết. Giả sử toàn bộ khoản lợi

nhuận được điều chỉnh này được dịch chuyển sang năm thứ 3 sau niêm yết là

1800.000.000 thì số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp:

2.200.000 x 28% x 50% + 1.800.000 x 28% = 812.000.000 đồng

Có thể tóm tắt lại như sau:



33



BẢNG 2.1

TĨM TẮT VÍ DỤ VỀ ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN

(Đơn vị tính: đồng)

Chỉ tiêu



Chưa điều chỉnh

Đã điều chỉnh

Năm thứ 2 sau Năm thứ 3 sau Năm thứ 2 sau Năm thứ 3 sau

niêm yết



Lợi nhuận tính

thuế

Thuế suất thuế

TNDN

Mức ưu đãi

Thuế TNDN phải

nộp

Tổng số thuế phải

nộp trong 2 năm

Mức giảm thuế

TNDN sau khi

điều chỉnh lợi



niêm yết



2.000.000.000

28%



2.000.000.000

28%



50%



niêm yết

2.200.000.000



niêm yết

1.800.000.000



28%



28%



50%



280.000.000



560.000.000



840.000.000



308.000.000



504.000.000



812.000.000



840.000.000 – 812.000.000 = 28.000.000



nhuận

Như vậy, sau khi điều chỉnh lợi nhuận thì số thuế thu nhập doanh nghiệp phải

nộp giảm 28.000.000 đồng. Sự ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm

đầu niêm yết sẽ khích lệ hành động quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm

yết theo hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trong 2 năm đầu niêm yết. Vậy giả thuyết

được đặt ra là:

H1: Các cơng ty niêm yết có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận trong 2 năm đầu

niêm yết trong giai đoạn 2004 - 2006 để tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp.

Ví dụ và giả thuyết chỉ đúng trong thời gian các quy định ưu đãi về việc thuế

thu nhập doanh nghiệp đối với các công ty tham gia niêm yết lần đầu trên thị trường

chứng khốn còn hiệu lực. Tức chỉ đúng đối với các công ty tham gia niêm yết lần

đầu trên thị trường từ năm 2004 đến năm 2006.



34



Thị trường chứng khốn thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1998 và

chính thức đi vào hoạt động năm 2000. Theo thời gian, số lượng công ty tham gia

niêm yết trên thị trường ngày càng tăng. Cùng với thời gian chính sách của Nhà

nước ta về thuế, sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng có nhiều thay đổi.

Như vậy các cơng ty niêm yết tham gia trên thị trường theo các thời điểm khác nhau

và có rất nhiều động cơ thúc đẩy hành động quản trị lợi nhuận của các nhà quản trị.

Mỗi công ty trong từng thời kỳ có những mục tiêu khác nhau, có thể là tiết kiệm chi

phí thuế thu nhập doanh nghiệp, có thể là thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, hoặc

mucjtieu về tiền lương thưởng trong kỳ….Ứng với mỗi mục tiêu, nhà quản trị sẽ có

cách thức, mức độ điều chỉnh và khoản mục cần điều chỉnh khác nhau. Như vậy với

những mục tiêu khác nhau thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm

yết là khác nhau. Ta có thể đưa ra giả thuyết H 2: Mức độ điều chỉnh lợi nhuận để tiết

kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty niêm yết là khác nhau.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu hành động quản trị lợi nhuận của các cơng ty niêm yết trên Sở

giao dịch chứng khốn Thành phố Hồ Chí Minh có thể vận dụng phương pháp kiểm

tra thực tế thơng qua sổ sách có nghi ngờ điều chỉnh lợi nhuận. Tuy nhiên kỹ thuật

này khó thực hiện do khơng phải ai cũng có thể tiếp cận sổ sách chứng từ của các

doanh nghiệp một cách dễ dàng nhất là các nhà nghiên cứu. Thay vào đó, các nhà

nghiên cứu thường sử dụng kiến thức để phân tích, đánh giá. Các nhà nghiên cứu đã

đề xuất các mơ hình nghiên cứu hành động quản trị lợi nhuận doanh nghiệp, được

gọi là mơ hình accruals.

2.2.1. Thu thập số liệu

Trên Sở chứng khốn thành phố Hồ Chí Minh tính đến thời điểm cuối năm

2010 có 281 cơng ty cổ phần niêm yết, có những cơng ty đã niêm yết khi thị trường

chứng khoán mới thành lập và cũng có nhiều cơng ty mới niêm yết trên Sở giao

dịch trong thời gian gần đây. Những quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

cho các công ty niêm yết lần đầu trên thị trường chứng khốn có hiệu trong thời

gian từ năm 2004 đến 2006. Số lượng công ty niêm yết lần đầu tại Sở giao dịch



35



chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh thỏa mãn yêu cầu là 74 cơng ty. Trong đó

chọn mẫu ngẫu nhiên 25 cơng ty.

Tương ứng với từng doanh nghiệp, tài liệu được sử dụng gồm báo cáo kết

quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ của 3 năm sau niêm yết.

2.2.2. Mơ hình nghiên cứu

Kết quả có được từ các mơ hình ta có thể kết luận được là doanh nghiệp có

điều chỉnh lợi nhuận hay khơng và sự điều chỉnh này làm tăng hay giảm lợi nhuận

trong kỳ nghiên cứu.

Để quản trị lợi nhuận nhằm đạt được mức lợi nhuận mong muốn, nhà quản

trị có thể lựa chọn một hoặc một số phương pháp như phương pháp xác định giá trị

hàng tồn kho, phương pháp khấu hao tài sản cố định, thời điểm và giá trị các khoản

dự phòng, thời điểm mua hoặc thanh lý tài sản cố định,….Tuy nhiên, nhà quản trị

không thể vận dụng từ năm này qua năm khác những phương pháp kế toán khác

nhau. Thực tế, họ có thể vận dụng nhiều phương pháp cùng lúc chứ không phải vận

dụng một phương pháp đơn lẻ, bằng mắt thường không thể nhận diện được nhà

quản trị có điều chỉnh lợi nhuận hay khơng và nếu có thì sử dụng phương pháp nào

để điều chỉnh lợi nhuận [8, tr.284]. Những hạn chế này đã thúc đẩy các nhà nghiên

cứu tìm các phương pháp khác nhau để nhận diện hành động quản trị lợi nhuận của

nhà quản trị. Có hai phương pháp để nhận diện hành động này:

Thứ nhất “tấn công” trực tiếp vào hành động điều chỉnh lợi nhuận tức là

trực tiếp kiểm tra sổ sách đối chiếu giữa báo cáo tài chính với các chứng từ sổ sách

liên quan của những doanh nghiệp nghi ngờ có khả năng điều chỉnh lợi nhuận [10].

Tuy nhiên phương pháp này rất khó thực hiện đối với các nhà nghiên cứu vì một

doanh nghiệp khơng dễ cho một đối tượng bên ngồi khơng có quyền hạn, trách

nhiệm kiểm tra các chứng từ và các loại sổ sách tại đơn vị họ. Phương pháp này chỉ

được thực hiện thông qua các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền như kiểm toán, thanh

tra, thuế,…

Thứ hai, phương pháp nghiên cứu mới ra đời dựa vào cơ sở kế toán được vận dụng

để lập báo cáo tài chính, cụ thể dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực



36



tiếp và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở dồn tích. Theo cơ sở này mọi giao

dịch liên quan đến tài sản, nguồn vốn, nợ phải trả, doanh thu, chi phí được ghi nhận tại thời

điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền [9,tr7].

Lợi nhuận được xác định trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là phần chênh lệch

giữa doanh thu và chi phí trong kỳ. Chính vì doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời

điểm phát sinh nên việc các định lợi nhuận phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản

trị. Nhà quản trị có thể lựa chọn thời điểm để phân bổ, trích trước các loại chi phí hoặc ghi

nhận doanh thu theo tiến độ hợp đồng xây dựng, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo

mức độ hoàn thành,…Thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí khác nhau sẽ ảnh hưởng

trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ báo cáo. Những hành động này mang tính chủ quan của

nhà quản trị. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở tiền, theo cơ sở này chỉ được

ghi nhận khi có số tiền thực thu và thực chi. Vì thế khơng thể điều chỉnh thời điểm ghi

nhận các giao dịch. Do đó, sẽ có chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt

động kinh doanh và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp

tạo ra biến kế toán mà các nhà nghiên cứu gọi là accruals [10]. Tức là accruals là phần lợi

nhuận kế tốn khơng bằng tiền được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

và được trình bày trong mơ hình 1 như sau:



Biến kế tốn dồn tích



=



Lợi nhuận sau thuế



-



Dòng tiền hoạt động

kinh doanh



Tức là:



Lợi nhuận sau thuế



=



Biến kế tốn dồn tích



+



Dòng tiền hoạt động

kinh doanh



Trong đó:



Biến kế tốn



=



Biến kế tốn dồn tích



+



Biến kế tốn dồn tích có thể



dồn tích

khơng thể điều chỉnh

điều chỉnh

Ngun nhân là do dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không thể điều chỉnh,

để điều chỉnh lợi nhuận các nhà quản trị phải nhận diện được các biến kế toán và

điều chỉnh các biến này. Tuy nhiên, khơng phải tồn bộ accruals đều có thể đến từ

hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị [10]. Ví dụ có thể làm giảm các

khoản nợ phải thu bằng cách tăng giá trị khoản dự phòng phải thu khó đòi bằng

cách tăng mức dự phòng cao hơn năm trước, việc lựa chọn mức lập dự phòng tuy



37



trong giới hạn cho phép của chế độ lập dự phòng phải thu khó đòi nhưng cũng nằm

trong ý muốn chủ quan của nhà quản trị. Tuy nhiên khoản nợ phải thu giảm có thể

do chính sách thắt chặt tín dụng của doanh nghiệp, và nguyên nhân này không thể

điều chỉnh theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị. Vậy ta thấy rằng tổng biến kế

tốn (accruals) gồm 2 phần: một phần có thể điều chỉnh được (gọi là discretionary

accruals) và một phần không thể điều chỉnh được (gọi là nondiscretionary accruals)

[8, tr.284]. Như vậy biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh được (discretionary

accruals) chính là kết quả của q trình vận dụng các phương pháp kế tốn. Vì biến

kế tốn có thể điều chỉnh (discretionary accruals) không thể quan sát trực tiếp được,

để đo lường biến này các nhà nghiên cứu xác định biến kế tốn dồn tích khơng thể

điều chỉnh (nondiscretionary accruals). Từ đó mơ hình nghiên cứu quản trị lợi

nhuận thực chất là mơ hình xác định biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh

(nondiscretionary accruals) [8, tr.284].

Để minh họa các biến kế tốn có thể được vận dụng bởi nhà quản trị, ta xem

xét ví dụ sau. Giả định khơng có hoạt động khác và chi phí thuế thu nhập doanh

nghiệp trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.



38



BẢNG 2.2

BIẾN KẾ TỐN ACCRUALS (ĐVT: ĐỒNG)



Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

Các biến kế toán

Khấu hao

Giảm nợ phải thu

Tăng nợ phải trả

Giảm hàng tồn kho

Thuế hiện hành phải nộp

Lợi nhuận sau thuế



5900

+200

-100

+1500

-1500

+300

5500



Từ chỗ nhà nghiên cứu không thể tiếp cận được sổ sách kế toán của doanh

nghiệp, họ khơng thể nhận diện được những biến kế tốn nào có thể được điều

chỉnh bởi nhà quản trị [15]. Hợp tuyển các phương pháp nghiên cứu liên quan tổng

hợp bốn mơ hình chủ yếu của các nhà nghiên cứu Healy (1985), DeAngelo (1986),

Jones (1991), [15],….để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Những mơ hình

nghiên cứu accruals phổ biến là: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model

(1986), The Jones Model (1991), Modified Jones Model, The Friedlan (1994). Các

mô hình trên đều có ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng riêng.

- The Healy Model (1985)



NDAt =



1

n



Στ



TAτ

Aτ-1



Công thức 2.1

n: số năm trong kỳ ước tính

τ: t-n; t-n+1;….; t-n trong kỳ ước tính [5]

Discretionary accruals (DA)



DAt =



TAτ

Aτ-1



-



NDAt

Cơng thức 2.2



- The DeAngelo Model (1986)

Nondiscretionary accruals (NDA)



NDAt =

Công thức 2.3



TAt-1

At-2



39



Discretionary accruals (DA)



TAτ

Aτ-1



DAt =



-



NDAt



Cơng thức 2.4

Chú thích:

+ TA: Total accruals

+ A: Tổng tài sản

Giả định của model:

+ Năm t-1 khơng có earnings management

+ NDA không đổi qua các năm

DeAngelo cho rằng sự biến đổi về biến kế tốn dồn tích chính là biến kế tốn có thể

điều chỉnh (discretionary accruals). Như vậy biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh

(discretionary accruals) là phần chênh lệch giữa tổng biến kế tốn dồn tích (total accruals)

giữa năm t và năm t – 1 [8, tr285]



Biến kế tốn dồn tích có

thể điều chỉnh



=



Biến kế tốn dồn tícht



-



Biến kế tốn dồn

tícht – 1



Từ đó ta thấy phần biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh là biến kế tốn dồn

tích của năm trước



Biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnht = Biến kế tốn dồn tícht – 1

Ước tính biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh trong mơ hình

DeAngelo thật sự chính xác nếu biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh khơng

thay đổi theo thời gian và trung bình biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh bằng 0

ở kỳ ước tính [8,tr285]. Tuy nhiên, biến kế tốn dồn tích khơng điều chỉnh được

thường phụ thuộc vào mức độ kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp

đang trong thời kỳ tăng trưởng thì phần biến kế tốn khơng thể điều chỉnh sẽ biến

động giữa các năm. Nguyên nhân là do trong thời kỳ này doanh nghiệp đầu tư mở

rộng kinh doanh nên sẽ mua sắm thêm nhiều máy móc thiết bị, số lượng lao động

trong đơn vị tăng,…tương ứng với mỗi loại tài sản cố định sẽ có một mức khấu hao

khác nhau từ đó sẽ làm cho biến kế tốn khơng thể điều chỉnh khơng còn chính xác



40



* Nhận xét về hai mơ hình:

Mơ hình của DeAngelo được xem là một trường hợp đặc biệt của mơ hình

Healy, theo đó thời kỳ ước tính nondiscretionary accruals giới hạn ở năm trước. Cả

hai mơ hình đểu dùng Total Accruals của thời kỳ ước tính để gán cho

nondiscretionary accruals kỳ tính tốn [5], [12]

Nếu nondiscretionary accruals khơng đổi qua các năm và Total Accruals

bằng 0 trong kỳ ước tính thì cả hai mơ hình đều đo lường đúng nondiscretionary

accruals

Còn nếu nondiscretionary accruals thay đổi qua các năm, cả hai mô hình đều

đo lường nondiscretionary accruals có sai số.

Mơ hình DeAngelo giả định rằng nondiscretionary accruals tuân theo quy

trình ngẫu nhiên.

Trong khi mơ hình của Healy giả định nondiscretionary accruals tn theo

q trình hồn thành ngẫu nhiên xoay quanh đại lượng trung bình khơng đổi.

Việc giả định nondiscretionary accruals khơng đổi qua các năm là không thể.

Thực tế cho thấy nondiscretionary accruals thay đổi theo sự thay đổi tình hình kinh

doanh của doanh nghiệp [5].

- The Jones Model (1991)

Jones thừa nhận nondiscretionary accruals thay đổi qua các năm và thực hiện

kiểm sốt sự thay đổi này trong mơ hình



41



Nondiscretionary accruals



NDAt =



α1



1

At - 1



+



α2



∆REVt

At - 1



+



PPEt

At – 1

Cơng thức 2.5

α3



Chú thích:

+ ∆REVt = Doanh thut – Doanh thut-1

+ PPEt: nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t

+ At-1: Tổng tài sản cuối năm t

+ α1, α2, α3: các tham số của từng cơng ty

Ước tính các tham số α1, α2, α3 thơng qua mơ hình sau ở thời kỳ ước tính:

TAt

At-1



= a1



1

At - 1



+



A2



∆REVt

At - 1



+



a3



PPEt

+ εt

At – 1

Cơng thức 2.6



Chú thích:

+ a1, a2, a3 là kết quả ước tính α1, α2, α3 thơng qua ước tính OLS

+ TAt: Total accruals của năm t

+ εt: residual, tương đương với phần discretionary accruals [5], [12]

* Nhận xét mơ hình Jones Model (1991)

Một giả định ngầm ẩn của Model Jones là doanh thu không thể bị điều chỉnh.

Tuy nhiên doanh thu có thể bị điều chỉnh thông qua ghi nhận doanh thu chưa thu

tiền. Khi đó Jones Model đo lường nondiscretionary accruals thiếu chính xác [5].

- Modified Jones Model



NDAt =



α1



1

At - 1



+



Α2



∆REVt - ∆RECt

At - 1



PPEt

At - 1

Cơng thức 2.7

+



α3



- Mơ hình ngành (Industry model) của Dechow và Sloan (1991)



NDAt =



Β1 + β2medianj



TAt

At - 1

Cơng thức 2.8



Chú thích:

+ β1, β2: các ước tính OLS trong kỳ ước tính [5]

* Nhận xét mơ hình ngành:



42



Mơ hình này thừa nhận nondiscretionary accruals thay đổi qua các năm.

Giả định rằng biến động các yếu tố quyết định đến nondiscretionary accruals

là giống nhau giữa các công ty trong cùng lĩnh vực hoạt động.

Hạn chế của mơ hình: Nếu biến động của các yếu tố quyết định đến

nondiscretionary accruals có sự khác biệt giữa các cơng ty trong cùng ngành, mơ

hình có sai số [5].

- Mơ hình Friedlan (1994)

Một biến thể của mơ hình DeAngelo

Friedlan Model:



DAt =



At

Salest



-



NDAt

Salest – 1

Cơng thức 2.9



Theo mơ hình Friedlan biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh được tính dựa trên

mơ hình DeAngelo nhưng có ưu điểm là mơ hình này kiểm sốt các biến kế tốn dồn tích

thơng qua mức độ hoạt động của doanh nghiệp là doanh thu



Biến kế toán dồn tích

có thể điều chỉnht



=



Biến kế tốn dồn tícht

Doanh thut



-



Biến kế tốn dồn tícht – 1

Doanh thut -1



* Nhận xét mơ hình Friedlan:

Fiedlan sử dụng doanh thu (đại diện cho mức độ hoạt động của cơng ty) để

kiểm sốt sự thay đổi của nondiscretionary accruals qua các năm [5], [12].

Ta thấy rằng các công ty tham gia niêm yết tại Sở giao dịch chứng khốn

Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động kinh doanh nhiều ngành nghề nên khơng thể

chọn mơ hình ngành (Industry model) của Dechow và Sloan (1991)

Sau khi tính tốn dựa vào mơ hình trên, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra kết

luận dựa vào kết quả của biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh. Và có thể xác định

được nhà quản trị có điều chỉnh lợi nhuận hay không và sự điều chỉnh này làm tăng

hay giảm lợi nhuận.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×