Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2 : Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Xi măng COSEVCO 19.

Chương 2 : Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Xi măng COSEVCO 19.

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ

TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT KINH DOANH

1.1. Tổng quan về kế toán quản trị

1.1.1. Khái niệm về kế toán quản trị

Cùng với sự phát triển của xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, kế

toán – một mơn khoa học cũng có sự thay đổi phát triển không ngừng về nội dung,

phương pháp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất xã hội. Vậy kế

toán là nghệ thuật quan sát, ghi chép, phân loại và tổng hợp các hoạt động của tổ

chức và trình bày kết quả của chúng nhằm cung cấp thơng tin hữu ích cho việc ra

các quyết định về kinh tế, chính trị, xã hội và đánh giá hiệu quả của một tổ chức.

Khi nền sản xuất xã hội phát triển cao, cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc các nhà

quản trị DN phải quan tâm đến thông tin cho q trình ra quyết định, mà thơng tin

hàng đầu là thơng tin về chi phí của hoạt động kinh doanh. Từ đó hình thành nên bộ

phận kế tốn chi phí, bộ phận này chủ yếu cung cấp thơng tin về chi phí cho các nhà

quản trị để sử dụng trong nội bộ. Thơng tin mà kế tốn cung cấp rất đa dạng và mục

đích sử dụng thơng tin kế toán của các đối tượng cũng khác nhau. Sự khác nhau đó

là tiêu thức để chia hệ thống thơng tin kế toán thành hai bộ phận: Một bộ phận

chuyên cung cấp các thơng tin cho các đối tượng bên ngồi gọi là KTTC và bộ phận

chuyên cung cấp các thông tin theo yêu cầu của các nhà quản trị trong nội bộ gọi là

KTQT. Môi trường cạnh tranh ngày càng tăng, hoạt động SXKD của DN càng phát

triển và đa dạng thì vai trò của KTQT ngày càng được mở rộng.

Vậy KTQT là gì? Theo Luật Kế tốn Việt Nam ở khoản 3 Điều 4: “KTQT là

việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thơng tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu

quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế tốn” [6]. KTQT là

bộ phận kế tốn cung cấp thơng tin cho những nhà quản lý tại DN thông qua các

báo cáo kế toán nội bộ. Khái niệm về KTQT được Hiệp hội Kế toán Mỹ năm 1982

định nghĩa: “KTQT là q trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo

biểu, giải trình và thơng đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để



5



lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh

nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản

này” [5]. Có nhiều định nghĩa khác nhau về KTQT nhưng nếu đứng trên góc độ sử

dụng thông tin phục vụ cho chức năng quản lý thì “KTQT là một chun ngành kế

tốn thực hiện việc ghi chép, đo lường, tính tốn, thu thập, tổng hợp, xử lý và cung

cấp thơng tin kinh tế có thể định lượng nhằm phục vụ chủ yếu cho các nhà quản trị

DN trong q trình hoạch định, kiểm sốt và ra quyết định kinh doanh” [9]. Các DN

đều thống nhất nhau về việc nhìn nhận bản chất của KTQT là một bộ phận cấu

thành không thể tách rời của hệ thống kế tốn và có nhiệm vụ tổ chức thơng tin kế

tốn trong DN.

Những người bên trong DN rất đa dạng, gọi chung là các nhà quản lý, nhưng

nhu cầu thơng tin của họ phản ánh một mục đích chung là phục vụ quá trình ra

quyết định nhằm tối đa hố lợi nhuận. Do nhu cầu thơng tin nội bộ rất đa dạng trong

các loại hình DN nên các báo cáo nội bộ do KTQT cung cấp không mang tính tiêu

chuẩn như báo cáo tài chính. KTQT đặt trọng tâm giải quyết các vấn đề quản trị của

DN. Vì vậy, KTQT phải thiết kế các thơng tin kế tốn sao cho nhà quản trị có thể

dùng vào việc thực hiện các chức năng quản trị.

Nhìn chung, KTQT có mục đích bổ sung KTTC nhưng đây chỉ là hai hệ

thống con của một hệ thống kế toán, cả hai nhằm mục đích mơ hình hố thơng tin

kinh tế của DN. Thật ra, mục đích chủ yếu của KTTC nhằm cung cấp thông tin đã

xảy ra cho người sử dụng bên ngoài của DN trong khi KTQT quan tâm đến người

sử dụng bên trong của DN; thông tin của KTTC phản ánh những sự kiện kinh tế tài

chính đã xảy ra còn thơng tin của KTQT phản ánh những sự kiện đã xảy ra và sắp

xảy ra. Như vậy, chứng từ kế tốn là những bằng chứng lịch sử khơng thể thiếu đối

với KTTC nhưng là một yêu cầu không bắt buộc đối với KTQT. Điều này dẫn đến

thông tin KTQT khơng đòi hỏi sự chính xác, khách quan như KTTC mà quan tâm

nhiều đến tính linh hoạt và kịp thời. Nhiều tác giả nhấn mạnh sự đối nghịch này

bằng cách nhấn mạnh trạng thái đã xảy ra của KTTC trong khi KTQT hướng đến

việc ra quyết định, có nghĩa là KTQT sẽ hướng đến tương lai của DN.



6



1.1.2. Đối tượng của KTQT

Cả hai KTTC và KTQT đều cùng mục đích cung cấp thông tin phục vụ cho

công tác quản lý nhưng lại có đối tượng nghiên cứu khác nhau. Nếu đối tượng

nghiên cứu của KTTC tài sản, nguồn vốn và sự vận động của tài sản trong các DN

thì KTQT là một bộ phận của kế toán nên trước hết cũng phải quan tâm đến tài sản.

Tuy nhiên, KTQT đặt trọng tâm vào việc xem xét quá trình vận động của tài sản

trong quá trình DN tạo ra giá trị. Như vậy, đối tượng của KTQT phải là chi phí

trong mối quan hệ đến việc hình thành giá trị.

Trong quá trình kinh doanh của DN, chi phí thường xun phát sinh trong

nội bộ DN và chịu sự chi phối của nhà quản trị, mọi quyết định của DN đều liên

quan đến việc sử dụng tài nguyên, đến chi phí của DN trong việc hình thành giá trị

[1]. Điều này càng thấy rõ hơn khi xem xét hệ thống thông tin kế tốn thì thơng tin

chủ yếu nhất mà KTQT xử lý, cung cấp cho các nhà quản trị trong hoạch định, tổ

chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá là thơng tin về chi phí.

Chi phí được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau để có thể cung cấp những

thông tin phù hợp với nhu cầu của nhà quản trị, trong đó việc xem xét chi phí trong

mối quan hệ với khối lượng hay mức độ hoạt động và với lợi nhuận có thể được

xem là đối tượng chủ yếu của KTQT. Như vậy, các loại chi phí đặt trong các mối

quan hệ khác nhau và quan hệ với lợi ích mang lại cả trong quá khứ, hiện tại và

tương lai là đối tượng cụ thể của KTQT. Không những thế, vì KTQT quan tâm đến

khía cạnh của quản trị là chủ yếu do đó q trình kiểm sốt, kiểm tra điều chỉnh

trong quản trị cần thiết phải có cả thơng tin về tài chính cũng như phi tài chính nên

đây cũng là một đối tượng cụ thể của KTQT.

1.1.3. Vai trò của KTQT với các chức năng quản lý

Kế tốn quản trị thực hiện vai trò cung cấp thông tin cho các nhà quản trị DN

thông qua các chức năng quản lý cơ bản như hoạch định, tổ chức, kiểm soát, đánh

giá và ra quyết định. Hoạt động quản lý là một q trình khép kín từ khâu lập kế

hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, đến kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế



7



hoạch. Vậy KTQT đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thơng tin chi phí

phục vụ cho các chức năng quản trị, cụ thể theo sơ đồ 1.1.

Hoạch định

Lập dự tốn



Phân tích



Tổ chức

thực hiện



Đánh giá



Kiểm soát,

đánh giá



Hỗ trợ ra

quyết định



Kiểm tra



Sơ đồ 1.1. Sơ đồ thể hiện chức năng quản trị

Để SXKD của DN có thể tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, các DN

phải thiết lập các kế hoạch. Mọi hoạt động của DN đều được tiến hành theo kế

hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đã xây dựng. Trong đó, việc hoạch định và lập

dự tốn chi phí giữ vai trò hết sức quan trọng.

- Cung cấp thơng tin cho q trình hoạch định và lập dự tốn

Hoạch định là xây dựng các mục tiêu phải đạt được và vạch ra các bước,

phương pháp thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Để hoạch định và xây dựng các kế

hoạch, nhà quản trị phải dự toán nhằm tiên liệu trước mục tiêu, phương pháp, thủ

tục trên cơ sở khoa học. Trong công việc này nhà quản trị phải liên kết các mục tiêu

cụ thể lại với nhau và chỉ rõ cách huy động, sử dung nguồn lực có sẵn, chức năng

này chỉ có thể được thực hiện tốt, có hiệu quả và có tính khả thi cao nếu nó được

xây dựng trên cơ sở các thông tin phù hợp, hợp lý do bộ phận KTQT cung cấp gồm

thông tin về tổ chức, về định mức, về chi phí tiêu chuẩn, các thông tin về KTTC,

thống kê cũng như kỹ thuật tính tốn ước tính để phục vụ cho việc lập dự tốn ở

DN. Các dự tốn này đóng vai trò hạt nhân quan trọng trong việc thực hiện các chức

năng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quản trị.



8



- Cung cấp thơng tin cho q trình tổ chức thực hiện

Hoạch định và lập dự toán là những định hướng cho quá trình tổ chức thực

hiện. Chức năng tổ chức thực hiện bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền

đạt thông tin các kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản lý để

thực hiện kế hoạch đó. Thực hiện chức năng này, nhà quản trị phải liên kết giữa các

bộ phận, giữa các cá nhân nhằm huy động và kết hợp các nguồn lực sẵn có của DN

lại với nhau để có thể thực hiện được các mục tiêu đề ra trong quá trình hoạch định

một cách hiệu quả. Vì thế, nhà quản trị phải cần các thông tin khác nhau do nhiều

bộ phận cung cấp, trong đó KTQT sẽ cung cấp chủ yếu liên quan đến kinh tế, tài

chính. KTQT sẽ dự tốn nhiều tình huống khác nhau của các phương án khác nhau

để nhà quản trị xem xét đề ra các quyết định trong quá trình tổ chức thực hiện cũng

như điều hành các hoạt động SXKD theo các mục tiêu chung.

- Cung cấp thơng tin cho q trình kiểm tra và đánh giá

Sau khi triển khai thực hiện các kế hoạch, công việc kiểm tra hoạt động kinh

doanh từ trước, trong và sau q trình kinh doanh có vị trí rất quan trọng. Chức

năng kiểm tra là quá trình so sánh, xem xét giữa kết quả thực tế với dự toán được

lập nhằm điều chỉnh dự toán và đánh giá thực hiện. Thông qua kết quả so sánh cho

thấy sự khác nhau giữa thực hiện với dự toán đã lập, tìm ra các nguyên nhân ảnh

hưởng và chỉ ra các vấn đề còn tồn tại cần giải quyết để có thể điều chỉnh q trình

thực hiện.

- Cung cấp thơng tin cho quá trình ra quyết định

Ra quyết định là một công việc thường xuyên ảnh hưởng đến mọi hoạt động

của DN. Với chức năng hỗ trợ cho việc ra quyết định, thông tin KTQT là thông tin

chủ yếu để phân tích các khả năng khi giải quyết một vấn đề. Lý do là mỗi khả năng

giải quyết vấn đề đều có những chi phí và lợi ích riêng có thể đo lường, qua đó các

nhà quản lý sẽ sử dụng để quyết định khả năng nào là tốt nhất. Các DN thường

đứng trước nhiều phương án khác nhau. Mỗi phương án gắn liền với mỗi tình

huống, với số lượng, chủng loại, các khoản mục chi phí, thu nhập khác nhau liên

quan, đòi hỏi KTQT cũng phải được tổ chức để có thể cung cấp các thơng tin cụ thể



9



này. Q trình ra quyết định của nhà quản trị thường là việc tối ưu với hiệu quả cao

nhất mà rủi ro nhỏ nhất. Ra quyết định tự thân nó khơng là một chức năng riêng biệt

mà trong quá trình thực hiện các chức năng trên đều đòi hỏi phải ra quyết định. Với

chức năng này KTQT phải có cơng cụ thích hợp giúp các nhà quản trị phân biệt

được các thông tin thích hợp và khơng thích hợp nhằm xác định thông tin phù hợp

theo từng phương án. Đây là chức năng quan trọng và xuyên suốt trong quản trị

DN.

1.2. Khái quát KTQT chi phí trong các DN SXKD

1.2.1. Bản chất kế tốn quản trị chi phí

Trong q trình kinh doanh của DN, chi phí thường xuyên phát sinh, gắn liền

với mọi hoạt động và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được. Trên giác độ

quản lý, chi phí phần lớn phát sinh trong nội bộ DN và chịu sự chi phối chủ quan

của nhà quản trị, do vậy, kiểm sốt và quản lý tốt chi phí là mối quan tâm hàng đầu

của họ. Chi phí có thể hiểu là giá trị của các nguồn lực chi ra tiêu dùng trong hoạt

động SXKD của tổ chức để đạt được một mục đích nào đó. Bản chất của chi phí là

mất đi để đổi lấy một kết quả có thể dưới dạng vật chất như tiền, nhà xưởng, sản

phẩm,… hoặc khơng có dạng vật chất như kiến trúc, dịch vụ được phục vụ [1]. Như

vậy, chi phí được định nghĩa là “giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm tạo

ra các loại tài sản, hàng hoá hoặc các dịch vụ”. Chi phí được hiểu theo quan điểm

KTQT là “dòng phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực

hiện, kiểm tra, ra quyết định, chi phí cũng có thể là dòng phí tổn ước tính để thực

hiện dự án, những phí tổn mất đi do lựa chọn phương án, hy sinh cơ hội kinh

doanh”.

Kế tốn chi phí là giai đoạn đầu của sự phát triển KTQT chi phí, kế tốn chi

phí gồm việc tập hợp, phân loại, tính giá theo yêu cầu nhất định của KTTC và

KTQT nhằm cung cấp thông tin kế tốn mà chủ yếu là thơng tin về chi phí cho các

nhà quản trị. Mặc dù đều nhằm mục đích thơng tin cho các nhà quản trị nhưng có sự

khác nhau về mục đích và phạm vi giữa hai loại kế tốn này. Nếu như thơng tin mà

KTTC cung cấp là những thông tin quá khứ được xử lý từ các tài liệu lịch sử, thông



10



qua các báo cáo chi phí và bảng tính giá thành nhằm theo dõi phản ánh tình hình

thực hiện giá thành thì thơng tin KTQT chi phí cung cấp bao gồm cả những thơng

tin q khứ và những thơng tin có tính dự báo thơng qua việc lập kế hoạch và dự

tốn trên cơ sở định mức chi phí gồm định mức nhằm kiểm sốt chi phí thực tế.

KTQT chi phí sẽ trả lời chi phí là bao nhiêu, biến động như thế nào khi có sự thay

đổi của một hay một số nhân tố nào đó, ai sẽ là người chịu trách nhiệm giải thích

những thay đổi bất lợi của chi phí và giải pháp được đưa ra để điều chỉnh một cách

kịp thời. Điều này cho thấy KTQT chi phí mang nặng bản chất của KTQT hơn là kế

tốn chi phí thuần t.

Do đó, KTQT khơng nhận thức chi phí theo quan điểm của KTTC mà phải

được nhận diện theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin

trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định. KTQT chi phí nhấn

mạnh đến việc dự báo của thông tin và trách nhiệm của các nhà quản trị các cấp

nhằm gắn trách nhiệm của họ với chi phí phát sinh qua hệ thống thơng tin chi phí

được cung cấp theo các trung tâm chi phí được hình thành trong đơn vị. Như vậy,

KTQT chi phí là một bộ phận của KTQT thực hiện xử lý và cung cấp các thơng tin

về chi phí nhằm thực hiện chức năng quản trị. Từ đó có thể rút ra bản chất của

KTQT chi phí như sau:

- KTQT chi phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thơng tin về các

nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép, hệ thống

hố trong sổ kế tốn mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc lập

các dự toán, quyết định các phương án kinh doanh.

- KTQT chi phí cung cấp các thơng tin về hoạt động kinh tế tài chính trong

phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của DN. Những thơng tin đó có ý nghĩa với những

bộ phận, những người điều hành, quản lý DN.

- KTQT chi phí là một bộ phận của cơng tác kế tốn nói chung và là một bộ

phận khơng thể thiếu được để kế toán thực sự trở thành cơng cụ quản lý.



11



1.2.2. Phân loại chi phí trong các DN sản xuất

Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động

SXKK của DN, nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, tài sản, sự tồn tại và sự phát

triển của DN. Nhận thức tiên liệu một cách đúng đắn, khoa học về chi phí là tiền đề

để nhà quản trị đưa ra các quyết định hợp lý. Để quản lý được chi phí, cần phải làm

rõ các cách phân loại chi phí khác nhau trong KTQT vì mỗi cách phân loại chi phí

đều cung cấp những thơng tin dưới nhiều góc độ để nhà quản trị ra các quyết định

thích hợp [3].

1.2.2.1. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Chi phí phát sinh trong các DN sản xuất, xét theo từng hoạt động có chức

năng khác nhau trong q trình SXKD mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại

lớn: chi phí sản xuất và chi phí ngồi sản xuất.

a. Chi phí sản xuất

Q trình sản xuất là q trình kết hợp giữa sức lao động với tư liệu lao động

và đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục:

chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp và chi phí sản xuất

chung.

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các loại nguyên liệu và vật liệu sản

xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm như: NVL chính dùng để cấu tạo nên

thực thể chính của sản phẩm và các vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với NVL

chính để hồn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng.

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương và những khoản trích theo

lương phải trả cho bộ phận cơng nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm. Chi phí này có

thể nhận diện cho từng sản phẩm dựa trên định mức hao phí lao động cho từng sản

phẩm nên cũng được tính thẳng cho từng sản phẩm.

Chi phí sản xuất chung là các chi phí phục vụ và quản lý q trình sản xuất

sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xưởng. Khoản mục chi phí này bao

gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất, tiền lương

và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao,



12



sửa chữa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngồi phục vụ

sản xuất và quản lý ở phân xưởng,…

b. Chi phí ngồi sản xuất

Đây là các chi phí phát sinh ngồi q trình sản xuất sản phẩm liên quan đến

quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ cơng tác quản lý chung tồn DN. Thuộc

loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí:

Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ

sản phẩm. Có thể kể đến các chi phí như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm

giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển, tiền

lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo,…

Chi phí quản lý DN bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho cơng tác tổ chức

và quản lý q trình SXKD nói chung trên giác độ toàn DN. Khoản mục này bao

gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương

của nhân viên quản lý DN, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quản lý DN, các

chi phí dịch vụ mua ngồi khác,…

Cách phân loại này giúp xác định rõ vai trò, chức năng hoạt động của chi phí

trong q trình hoạt động SXKD ở DN, đồng thời cung cấp thơng tin có hệ thống

cho việc lập các báo cáo tài chính.

1.2.2.2. Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xác

định từng kỳ

Khi xem xét cách tính tốn và kết chuyển các loại chi phí để xác định lợi tức

trong từng kỳ kế tốn, chi phí sản xuất kinh doanh trong các DN sản xuất được chia

làm hai loại: chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.

Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất

sản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành

qua giai đoạn sản xuất (được gọi là giá thành sản xuất hay giá thành công xưởng).

Xét theo mối quan hệ với việc xác định lợi tức trong từng kỳ kế tốn, chi phí sản

phẩm được tính tốn, kết chuyển để xác định lợi tức trong kỳ tương ứng với khối

lượng sản phẩm đã được tiêu thụ trong kỳ đó. Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn



13



kho chưa được tiêu thụ vào cuối kỳ sẽ được lưu giữ như là giá trị tồn kho và được

kết chuyển để xác định lợi tức ở các kỳ sau khi chúng được tiêu thụ. Chi phí sản

phẩm còn được gọi là chi phí tồn kho.

Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại ngồi các khoản mục chi

phí thuộc chi phí sản phẩm, đó là chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN và chi phí tài

chính. Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ kế tốn nào được xem là có tác dụng phục

vụ cho q trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được tính tốn kết chuyển hết

để xác định lợi tức ngay trong kỳ mà chúng phát sinh. Chi phí thời kỳ còn được gọi

là chi phí khơng tồn kho.

1.2.2.3. Phân loại chi phí theo các ứng xử của chi phí

Có rất nhiều cách phân loại chi phí trong các DN sản xuất, song tiêu thức

phân loại quan trọng nhất và có nhiều ứng dụng trong KTQT chi phí là phân loại chi

phí theo cách ứng xử. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất trong các DN được

chia thành ba loại: chi phí khả biến, chi phí bất biến và chi phí hỗn hợp.

a. Chi phí khả biến

Chi phí khả biến là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ với mức

độ hoạt động. Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra. Tổng số

chi phí khả biến sẽ tăng (giảm) tương ứng với sự tăng (giảm) của mức độ hoạt động,

nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì khơng thay đổi.

Trong các DN sản xuất, các khoản mục chi phí ngun liệu, vật liệu trực tiếp và chi

phí nhân cơng trực tiếp thể hiện rõ nhất đặc trưng của chi phí khả biến. Ngồi ra,

chi phí khả biến còn bao gồm các chi phí khác thuộc khoản mục chi phí sản xuất

chung (như các chi phí vật liệu phụ, chi phí động lực, chi phí lao động gián tiếp

trong chi phí sản xuất chung) hoặc thuộc khoản mục chi phí bán hàng và chi phí

quản lý DN (như chi phí vật liệu, phí hoa hồng, phí vận chuyển,…). Chi phí khả

biến còn được gọi là chi phí biến đổi hoặc biến phí. Xét theo cách ứng xử khác

nhau, chi phí khả biến còn được chia thành hai loại: chi phí khả biến thực thụ và chi

phí khả biến cấp bậc.



14



Chi phí khả biến thực thụ là các chi phí khả biến có sự biến đổi tỷ lệ với mức

độ hoạt động.

Chi phí khả biến cấp bậc là các chi phí khả biến khơng có sự biến đổi liên tục

theo sự thay đổi liên tục của mức độ hoạt động. Các chi phí này chỉ biến đổi khi các

hoạt động đã có sự biến đổi đạt đến một mức độ cụ thể nào đó.

b. Chi phí bất biến

Chi phí bất biến là những chi phí, xét về lý thuyết, khơng có sự thay đổi theo

các mức độ hoạt động đạt được. Vì tổng số chi phí bất biến là khơng thay đổi cho

nên, khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ

hoạt động sẽ giảm và ngược lại. Trong các DN sản xuất, các loại chi phí bất biến

thường gặp là chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương nhân viên quản lý,

chi phí quảng cáo,… Chi phí bất biến còn được gọi là chi phí cố định hay định phí.

Xét ở khía cạnh quản lý chi phí bất biến được chia thành hai loại: chi phí bất biến

bắt buộc và chi phí bất biến khơng bắt buộc.

Chi phí bất biến bắt buộc là chi phí phát sinh nhằm tạo ra các năng lực hoạt

động cơ bản của DN, thể hiện rõ nhất là chi phí khấu hao tài sản cố định hay tiền

lương nhân viên quản lý ở các phòng ban chức năng. Vì là tiền đề tạo ra năng lực

hoạt động cơ bản nên các chi phí bất biến bắt buộc gắn liền với các mục tiêu dài hạn

của DN, chúng biểu hiện tính chất cố định khá vững chắc và ít chịu sự tác động của

các quyết định trong quản lý ngắn hạn.

Khác với các chi phí bất biến bắt buộc, các chi phí bất biến khơng bắt buộc

thường được kiểm sốt theo các kế hoạch ngắn hạn như chi phí quảng cáo, chi phí

nghiên cứu phát triển, chi phí đào tạo nhân viên,… và chúng phụ thuộc nhiều vào

chính sách quản lý hằng năm của nhà quản trị. Do vậy, loại chi phí này còn được

gọi là chi phí bất biến tuỳ ý hay chi phí bất biến quản trị.

c. Chi phí hỗn hợp

Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm các yếu tố

chi phí khả biến và chi phí bất biến. Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí

hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2 : Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Xi măng COSEVCO 19.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x